Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở huyện đông anh thành phố hà nội - Pdf 38

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong chương trình đổi mới toàn diện đất nước, Đảng và Nhà Nước ta luôn chú
trọng đến việc hình thành, phát triển các doanh nghiệp (DN), đặc biệt là các
DNNVV (DNNVV) và coi đó là lực lượng chủ lực của phát triển kinh tế–xã hội và
hội nhập kinh tế quốc tế. Tại Đại hội X của Đảng đã đặt ra yêu cầu xây dựng chiến
lược quốc gia về phát triển DN. Cùng với đường lối đổi mới, các chính sách phát
triển kinh tế, Luật Đầu tư nước ngoài. Luật DN, quỹ hỗ trợ DNNVV,… đi vào cuộc
sống thực sự thúc đẩy các DN thuộc các thành phần kinh tế ra đời và ngày càng
phát triển nhanh về số lượng, rộng về quy mô, phong phú về các loại hình và hoạt
động ngày càng có hiệu quả
DNNVV ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế
của một đất nước. Trong những năm gần đây, thời khoa học và công nghiệp phát
triển mạnh mẽ, thì DNNVV lại càng được trú trọng trên nhiều quốc gia. Ở nước ta,
số lượng các DNNVV tăng mạnh qua các năm. Năm 2006 cả nước có 89.270
DNNVV thì đến năm 2009 con số này đã là gần 332.500 DN. Việc tăng nhanh số
lượng các DNNVV cũng đồng nghĩa với việc cạnh tranh ngày càng gay gắt. Sự tồn
tại và sức sống của một DN thể hiện trước hết ở năng lực cạnh tranh (NLCT). Để
từng bước vươn lên giành thế chủ động trong quá trình hội nhập, nâng cao NLCT
chính là tiêu chí phấn đấu của các DN Việt Nam.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), NLCT của Việt
Nam trên các cấp độ (Quốc gia, DN, sản phẩm) so với thế giới còn thấp kém và
chậm được cải thiện. Đây cũng là nhận xét chung cho các DN Việt Nam, riêng đối
với các DNNVV chắc chắn còn thấp hơn nữa ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu.
Mặc dù tăng nhanh về số lượng nhưng nhìn chung các DNNVV chưa chủ động
sản xuất các loại sản phẩm có tính tiện dụng cao, chưa có sản phẩm chủ lực, thiếu
tính cạnh tranh. Cơ sở vật chất phục vụ cho SXKD cũ kỹ, công nghệ sản xuất lạc
hậu, thiếu vốn phục vụ cho việc đổi mới trang thiết bị SXKD (SXKD). Khả năng

1


Đông Anh Thành phố Hà Nội.

2


• Đề xuất một số giải pháp nâng cao NLCT cho các DNNVV ở huyện Đông
Anh Thành Hà Nội.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
1. Cạnh tranh là gì? Thế nào là NLCT của DNNVV?
2. NLCT về thị trường, thị phần, marketing của các DNNVV Đông Anh hiện
nay như thế nào?
3. Sản phẩm (dịch vụ) của các DNNVV có lợi thế cạnh tranh trên thị trường
hay không?
4. Khả năng cạnh tranh về tài chính, công nghệ và trình độ quản lý DN của
các DNNVV Đông Anh ở mức độ nào?
5. Các yếu tố nội bộ DN và các yếu tố bên ngoài DN có ảnh hưởng như thế
nào đến NLCT của các DNNVV Đông Anh?
6. Hệ thống giải pháp nào để năng cao NLCT cho các DNNVV ở huyện
Đông Anh?
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
1. Hoạt động marketing của các DN có ảnh hưởng đến NLCT của các
DNNVV huyện Đông Anh.
2. Quy mô nguồn vốn có ảnh hưởng đến NLCT của các DNNVV huyện
Đông Anh
3. Công nghệ các DN đang sử dụng có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
và thị phần của các DNNVV huyện Đông Anh.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là xem xét đánh giá và đề xuất các

ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh” (Luật doanh nghiệp, 2005) DN được phân loại căn cứ theo nhiều tiêu
chí khác nhau. Theo ngành kinh tế và lĩnh vực kinh doanh có thể phân thành DN
công nghiệp, DN nông nghiệp, DN thương mại, dịch vụ; theo hình thức sở hữu và
cơ sở pháp lý có thể phân thành DN Nhà Nước, DN tư nhân, công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh, DN có vốn đầu tư nước ngoài; theo
quy mô thì có DN lớn, DNNVV.
Ở nước ta thuật ngữ DNNVV được sử dụng rộng rãi trong khoa học kinh tế
và quản lý từ khi thực hiện công cuộc cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước. Tuy nhiên
cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về DNNVV cũng như đối với
nhiều nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Các quan niệm về DNNVV cũng thay
đổi theo từng thời điểm khác nhau.
Hiện nay, ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, chưa có sự thống
nhất các chỉ tiêu nhằm xác định loại hình DNNVV. Có quan điểm gắn việc phân
loại quy mô DN với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng ngành và dựa trên cơ sở tiêu
thức vốn và lao động. Chẳng, ở Nhật Bản, theo quy định của Bộ luật cơ bản về
DNNVV, trong lĩnh vực công nghiệp chế biến và khai thác thì DN sử dụng dưới
300 lao động, có số vốn SXKD dưới 100 triệu yên thuộc DN nhỏ; còn ở Malayxia,
DN có số vốn nhỏ hơn 500 Ringit và sử dụng dưới 50 lao động là DN nhỏ. Lại có
quan niệm đánh giá quy mô DN không phải chỉ theo từng ngành kinh tế kỹ thuật,
dựa vào tiêu thức vốn và lao động mà cả doanh thu của DN. Chẳng hạn, Đài Loan

5


quy định trong ngành công nghiệp chế tạo, xây dựng và khai khoáng thì doanh thu
không vượt quá 1,5 triệu USD, vốn không vượt quá 40 triệu NT$ và sử dụng dưới
500 lao động được xếp vào DNNVV. Cũng có quan điểm phân loại quy mô DN
theo từng ngành nghề và tiêu thức lao động sử dụng. DN nhỏ trong các ngành công


dịch vụ
người

DN vừa
Tổng nguồn
Số lao động
vốn
> 20 -100 tỷ > 200 - 300
đồng
người
>20 - 100 tỷ >200 - 300
đồng
người
>10- 50 tỷ >50 - 100
đồng
người

Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP
2.1.1.2 Khái niệm cạnh tranh
Thuật ngữ “cạnh tranh” có nguồn gốc từ tiếng La Tinh với nghĩa chủ yếu là
sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng
giá trị nhằm đạt được những ưu thế, lợi thế, mục tiêu xác định. Trong hình thái cạnh
tranh thị trường, quan hệ ganh đua xảy ra giữa hai chủ thể cùng (nhóm người bán),
cũng như chủ thể cầu (Nhóm người mua), cả hai nhóm này tiến tới cạnh tranh với
nhau và được liên kết với nhau bằng giá cả thị trường. Theo Samuelson: Cạnh tranh
là sự kình địch giữa các DN cạnh tranh với nhau để giành khách hàng. Theo KacMarx: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành
giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi
nhuận siêu ngạch.

7

- NLCT của sản phẩm: được phản ánh qua các tiêu chí như: giá cả, chất
lượng, kiểu dáng cũng như sự độc đáo, phù hợp với thị hiếu người tiêu dung… Một

8


hàng hóa, dịch vụ được coi là có sức cạnh tranh cao khi chúng có chất lượng vượt
trội độc đáo riêng có.
Trong đề tài này chúng ta quan tâm đến NLCT của DN.
2.1.1.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Khái niệm NLCT của DN được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm
1990. Theo Aldington Report (1985): “DN có khả năng cạnh tranh là DN có thể sản
xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ
khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi
ích lâu dài của DN và khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ DN”.
Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong “Sách trắng về NLCT của Vương quốc
Anh” (1994). Năm 1998, Bộ thương mại và công nghiệp Anh đưa ra đinh nghĩa
“Đối với DN, NLCT là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và
vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất
và hiệu quả hơn các DN khác”.
Tuy nhiên, khái niệm NLCT đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống
nhất. Theo Buckley (1998), NLCT của DN cần được gắn kết với việc thực hiện mục
tiêu của DN với 3 yếu tố : các giá trị chủ yếu của DN, mục đích chính của DN và
các mục tiêu giúp các DN thực hiện chức năng của mình.
Điểm lại các tài liệu trong và ngoài nước, có nhiều cách quan niệm về NLCT
của DN. Dưới đây là một số cách quan niệm về NLCT của DN đáng chú ý.
Một là, NLCT của DN là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi
nhuận của DN. Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó NLCT là khả
năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của các
DN.

2.1.3.1.1 Vốn
Vốn là yếu tố đầu tiên cần cho mọi hoạt động của DN. Vấn đề đầu tiên khi
phân tích hệ thống là xem xét đến khả năng tài chính của DN. Tiềm lực tài chính
mạnh giúp DN thực hiện nhiều ý tưởng táo bạo mạo hiểm, có nhiều cơ hội thu được
lợi nhuận cao. Có tiềm lực tài chính mạnh DN có thể tiến hành nhiều hoạt động
SXKD cùng một lúc, có thể tiến hành giảm giá dành thị phần, đầu tư và tái đầu tư
vào các lĩnh vực mới hay mở rộng sản xuât kinh doanh, thực hiện hoạt động SXKD
quy mô lớn, đẩy nhanh hoạt động nghiên cứu và phát triển dẫn đầu trong đổi mới
sản phẩm..... Nguồn lực tài chính là rất quan trọng đối với DN.

10


2.1.3.1.2 Nguồn nhân lực
DN đã có vốn nhưng để đồng vốn đó có hiệu quả thì lại phụ thuộc vào nguồn
nhân lực, những người sử dụng đồng vốn của DN. Nguồn nhân lực có vai trò quyết
định đến sự thành bại của DN đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay - thời đại của nền
kinh tế tri thức. Việc đánh giá phân tích nguồn nhân lực phải xem xét trên các mặt:
trình độ, kinh nghiệm, tinh thần thái độ làm việc, ý thức trách nhiệm, và đặc biệt
ngày nay người ta quan tâm đến khả năng hợp tác hoà đồng trong môi trường làm
việc.
2.1.3.1.3 Khả năng tổ chức quản lý của doanh nghiệp
DN có một cơ cấu tổ chức phù hợp sẽ tối thiểu hoá được chi phí về nguồn
lực, đặc biệt là sự tương đồng với yêu cầu về cơ cấu thực hiện các chiến lược. Khả
năng quản lý tốt sẽ sẽ giúp điều hành và tổ chức DN một cách có hiệu quả, đưa ra
những quyết định chính xác giúp DN giành thắng lợi trong kinh doanh, thu lại kết
quả cao. Quản lý ngày nay cũng cần phải có công nghệ của quản lý, quản lý đòi hỏi
phải có nghệ thuật quản lý. Cùng một DN, cùng một cơ cấu nhưng nhà quản lý nào
biết tận dụng, khai thác tối đa mặt mạnh của hệ thống sẽ giành thắng lợi.
2.1.3.1.5 Hệ thống marketing của doanh nghiệp


Doanh nghiệp trong ngành

Chính trị pháp
luật

Khách hàng

Môi trường ngành
Kỹ thuật
công nghệ

sản phẩm
thay thế

Văn hoá xã hội

Môi trường vĩ mô
Môi trường quốc tế

Sơ đồ 2.1: Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp
2.1.3.2.1 Môi trường vi mô (môi trường ngành)
Michael E. Porter, trường đại học quản trị kinh doanh Harvard đã đưa ra
những vấn đề cốt lõi nhất để giúp cho các nhà quản lý sử dụng phân tích môi trường
ngành. Đó là mô hình năm lực lượng thị trường:
a) Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành
Có thể nói đối thủ cạnh tranh có tầm quan trọng đặc biệt trong phân tích
chiến lược kinh doanh. Đối thủ cạnh tranh tác động trực tiếp mọi kế hoạch hoạt
động của DN. DN sẽ phải nắm vững điểm mạnh và mặt hạn chế của đối thủ cạnh

chọn hơn, đồng thời các DN cũng phải có khả năng cạnh tranh cao hơn mới có khả
năng thu hút khách hàng. DN phải chú trọng đến chất lượng, mẫu mã của sản phẩm,
dịch vụ hậu mãi nhằm làm tăng uy tín đối với khách hàng, tạo cho khách hàng cảm
giác sự tăng về giá chậm hơn sự tăng lên về chất lượng. Từ đó khách hàng coi giá

13


tăng vẫn còn nằm trong khả năng chấp nhận được vì tâm lý coi giá là sự thể hiện
của chất lượng.
d) Sức ép từ phía người cung cấp:
Người cung cấp ngược lại với khách hàng, vì lợi nhuận, có xu hướng tăng giá
đầu vào của DN làm chi phí của DN tăng lên. DN phải tránh tình trạng chỉ có một nhà
cung cấp, dễ dẫn đến độc quyền, mà phải quan hệ với nhiều nhà cung cấp. Thường
xuyên cập nhật thông tin về số lượng, chất lượng, khả năng cung cấp nhằm lựa chọn
những nhà cung cấp hợp lý nhất, giảm thiểu chi phí cho DN.
2.1.3.2.2 Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
a) Các yếu tố kinh tế của môi trường vĩ mô
Là các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp nhất đến DN. Các yếu tố này
tương đối rộng nên các DN cần chọn lọc để nhận biết các tác động cụ thể nhất. Các
yếu tố kinh tế chủ yếu tác động đến hoạt động kinh doanh của DN bao gồm:
Thứ nhất, tỷ lệ lãi suất: Không một DN nào khi tiến hành hoạt động SXKD
mà không phải vay vốn. Do đó tỷ lệ lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí của
DN. Đồng thời nó cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động đầu tư của DN, khi DN muốn
triển khai mở rộng quy mô bằng một nguồn vốn có tỷ lệ vốn vay cao. Với dự báo tỷ
lệ lãi suất thấp ít biến động thì chiến lược sẽ được triển khai. Ngược lại chiến lược
sẽ thực hiện nếu trong quá trình hoạnh định dự báo lãi suất sẽ tăng cao.
Thứ hai, tỷ lệ lạm phát. Trong một nền kinh tế tăng trưởng ổn định, tỷ lệ lạm
phát thấp, tạo điều kiện cho DN phát triển nhanh. Trong thời kỳ có lạm phát cao,
giá cả, lãi suất....Trở nên không thể lường trước được. Sự giao động là quá lớn. DN

d) Các yếu tố kỹ thuật-công nghệ:
Có thể nói kỹ thuật - công nghệ là một lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ nhất của
các DN hiện nay và trong tương lai. Công nghệ thay đổi có thể làm cho các sản
phẩm hiện đang sản xuất trở nên lỗi thời trong khoảng thời gian ngắn. Sự phát triển
công nghệ làm ngắn đi vòng đời của sản phẩm. Để tồn tại và phát triển DN phải chú
trọng phát triển sản phẩm đồng nghĩa với quá trình phát triển công nghệ, cải tiến
công nghệ. Như vậy công nghệ có thể đem lại sự thuận lợi cũng như sự đe doạ cho
DN. DNNVV Việt Nam không muốn bị tụt hậu sẽ phải chuyển giao công nghệ hiện
đại. Nhưng chuyển giao công nghệ nào vẫn còn là bài toán nan giải cho các DN.

15


2.1.3.2.3 Môi trường kinh doanh quốc tế
Trong thực tế DN có thể tham gia hoặc không tham gia kinh doanh trên thị
trường quốc tế. Song do xu thế hội nhập, toàn cầu hoá nên môi trường kinh doanh
quốc tế cũng ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động kinh doanh của DN. Sự tác động này
ngày càng mạnh khi Việt Nam đã hội nhập AFTA, WTO. Các DN sẽ phải đối đầu
với nhiều đối thủ cạnh tranh quốc tế nặng ký, không còn sự bảo vệ của hành rào
thuế quan. Nhưng có thể nói đây cũng là cơ hội cho DN Việt Nam tung sản phẩm ra
thị trường thế giới.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm của các nước, vùng lãnh trên thế giới về phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa
Các DN nhỏ và vừa có vị trí rất lớn trong nền kinh tế, nó là một trong những
tâm phong vũ biểu của nền kinh tế các nước. Thấy rõ được tầm quan trọng của nó,
các nước trên thế giới không ngừng phát triển hệ thống DNNVV của nước mình. Từ
đầu thế kỷ 20, nhiều mô hình phát triển DNNVV đã mang lại những thành công bất
ngờ, khác hẳn với cái tên khiêm tốn của DN nhỏ và vừa. DNNVV có lợi thế to lớn
trong việc ứng dụng công nghệ mới, thu hút lao động nông thôn và năng động trong

quan tâm hàng đầu của Chính phủ. Việc trợ cấp vốn được tiến hành thông qua một
hệ thống Ngân hàng và các tổ chức tài chính với mức lãi suất ưu đãi khác nhau.
Ở CHLB Đức: Chính phủ giúp vốn cho DNNVV bằng chính sách tài chính
thông qua con đường tín dụng và trợ cấp. Tín dụng đầu tư được ưu đãi theo hướng :
Thành lập DNNVV mới; áp dụng công nghệ cao vào sản suất; Hỗ trợ kinh phí cho
đào tạo và tư vấn; Cấp kinh phí cho dự án và thu hút DNNVV tham gia. Hoạt động
quan trọng nhất về hỗ trợ tài chính là cấp tín dụng và bảo lãnh tín dụng.
Ở Mỹ: Chính phủ lập ra Ngân hàng DN nhỏ để cho DNNVV vay vốn với mức
ưu đãi hoặc có dịch vụ đặc biệt trợ giúp các DN này. Ngoài ra còn có cơ quan quản
lý DN cho DNNVV vay vốn với lãi suất thấp so với Ngân hàng thương mại và bảo
lãnh cho DNNVV vay vốn ở Ngân hàng dưới 500.000 USD với điều kiện người vay
phải hoàn trả nếu kinh doanh thất bại.
Ở các nước Đông Nam Á: Các Chính phủ đều thiết lập nhiều chương trình
trợ giúp tài chính cho DNNVV, như Singapore có tài chính công nghiệp nhỏ; Ở
Malaixia có các cơ quan cấp tín dụng, Ngân hàng Trung Ương và Ngân hàng phát
triển có nhiệm vụ hỗ trợ vốn cho DNNVV. Ở Philippines có Ngân hàng DNNVV
(SMB) đóng vai trò hàng đầu trong hỗ trợ DNNVV.

17


- Chính sách hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa
Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là một khó khăn đối với DNNVV, đặc biệt trong
điều kiện toàn cầu hóa kinh tế và cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ. Để năng cao
NLCT của hàng hóa của DNNVV, vấn đề cơ bản là hỗ trợ khoa học công nghệ,
nâng cao chất lượng sản phẩm, coi trọng các sản phẩm mang tính truyền thống dân
tộc độc đáo như các loại con giống, con rối ở Indonesia, Philippines, dao kéo của
hợp tác xã Ẩngiu (Thái Lan). Các nước đều có một số chính sách hỗ trợ giới thiệu
và tiêu thụ sản phẩm của DNNVV.
Ở philippines có trung tâm giới thiệu hàng hóa của DNNVV.

động và kinh doanh, còn DNNVV trở thành vệ tinh, tham gia chế tạo các phụ tùng,
phụ kiện cho các DN lớn. Ở indonesia còn quy định mỗi DN lớn có trách nhiệm hỗ
trợ một số DN vừa, một DN vừa hỗ trợ một DN nhỏ.
Các nước coi trọng hình thức tổ chức hợp tác của DNNVV do yêu cầu của
SXKD giúp nhau giải quyết đầu vào và đầu ra cho DNNVV, đặc biệt các Ngân
hàng tạo thuận lợi cho vay vốn đồng thời cũng nâng cao NLCT giữa DNNVV thông
qua các hoạt động liên kết, hỗ trợ.
-

Thành lập các cơ quan quản lý, đại diện và hỗ trợ DNNVV
DNNVV ở các nước có vài trò và vị trí quan trọng và chiếm một tỷ trọng lớn

trong nền kinh tế quốc dân, do đó ngoài sự quan tâm của Tổng Thống, Thủ tướng,
Nhà Vua, Chính Phủ và các cơ quan Nhà Nước, các nước đều có cơ quan lo quản lý
và hỗ trợ DNNVV.
Ở philippines có Cục DNNVV nằm trong Bộ Thương mại và Công Nghiệp
để quản lý DNNVV, ở các địa phương có các trung tâm hỗ trợ DNNVV, ở Trung
Ương còn có Hội đồng phát triển DNNVV do đại diện Bộ Thương mại và Công
Nghiệp làm Chủ tịch và 9 thành viên của các bộ phận khác.
Ở Thái Lan có cục hỗ trợ DN nằm trong Bộ Công Nghiệp, vừa quản lý vừa
theo dõi và hỗ trợ DNNVV, có hệ thống tổ chức xuồng các vùng gồm 11 trung tâm
và các sở Công nghiệp ở 75 tỉnh.
- Kinh nghiệm ở Trung Quốc: Tham gia vào tổ chức Thương Mại Thế Giới,
các thị trường của Trung Quốc hiện nay đang có sức hấp dẫn nhờ vào các yếu tố
như mức thuế quan thấp hơn đối với hàng nhập khẩu, những cải cách về tài chính
(tiền tệ, ngân hàng), các công ty có vồn nước ngoài, việc mở cửa của các ngành mới

19



20


tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như tạo
việc làm, xóa đói, giảm nghèo.
Theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê vào thời điểm 31/12/2006, cả nước có
khoảng 114.340 DNNVV trong tổng số 131.322 DN (chiếm 87,06%), với tổng số
vốn xấp xỉ 85 tỷ USD, hàng năm đóng góp hơn 40% cho GDP, 33% sản lượng công
nghiệp, 30% giá trị xuất khẩu, tạo ra khoảng 50% việc làm mới (Tổng cục thống kê,
2008).
Qúa trình tồn tại và phát triển của các DNNVV cho thấy loại hình DN này
còn nhiều non kém, yếu ớt trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt do
những hạn chế về năng lực sản xuất (năng lực quản ý yếu, công nghệ lạc hậu, thiếu
thông tin, vốn ít,…). Hơn nữa, có nhiều vấn đề mà DN không tự mình giải quyết
được như tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo
nguồn nhân lực,… Ngoài ra còn nhiều vấn đề khác, nếu có sự hỗ trợ của Nhà Nước
sẽ làm giảm bớt khó khăn cho DNNVV, tạo điều kiện cho DNNVV đứng vững trên
thị trường và phát triển thuận lợi.
Do vị trí quan trọng của mình, vấn đề phát triển DNNVV được Đảng và Nhà
Nước rất quan tâm. Có nhiều chính sách trong nhiều thời kỳ đã được ban hành. Từ
quy định của Thủ tướng Chính phủ trong công văn 681/CP – KTN ngày 20 tháng 6
năm 1998 đến Nghị định 90/2001/NĐ – CP, ngày 23 tháng 11 năm 2001 của Chính
phủ về việc nhận diện DNNVV, đã quy định DNNVV là cơ sỏ sản xuất, kinh doanh
độc lập đã đăng ký kinh doanh theo phát luật hiện hành có vốn đăng ký không quá
10 tỷ đồng và số lao động không quá 300 người. Quy định này không những quy
định về tiêu chí phân loại DNNVV mà còn phải đưa ra hàng loạt chính sách nhằm
hỗ trợ phát triển các DNNVV tại Việt Nam. Từ đó giúp chúng ta có cái nhìn tổng
thê hơn, thống nhất hơn về DNNVV cũng như việc đánh giá đúng tầm quan trọng,
cũng như vai trò to lớn của các DNNVV trong quá trình phát triển nền kinh tế của
đất nước. Tiếp đó các Nghị định 27 CP, 28 CP, 29 CP của Chính phủ về kinh tế cá

NLCT cho DN Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường Quốc
Tế ? Nhóm nghiên cứu đã đánh giá thực trạng NLCT của DN Việt Nam trên cơ sở
đó chỉ ra những hạn chế, trở ngại và nguyên nhân chủ yếu và đưa ra những giải
pháp để nâng cao NLCT cho DN Việt Nam trong điều kiện hội nhập.
- Tiễn sĩ Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), Nâng cao sức cạnh tranh của các DN
thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế Quốc Tế, Nxb Lao Động – Xã hội, Hà
Nội. Cuốn sách này cho thấy DN thương mại có vai trò quan trọng trong phát triển

22


kinh tế xã hội ở Việt Nam. Trong môi trường kinh doanh mới các DN đã chủ động
trong hoạt động kinh doanh, nhưng đồng thới đứng trước một thử thách lớn là tự
chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh của mình. Sự cạnh tranh trên thị
trường của các thành phẩn kinh tế khác ngày càng gay gắt, khốc liệt. Vì vậy nâng
cao sức cạnh tranh cho các DN thương mại là một nội dung cần được quan tâm.
- Tiễn sĩ Vũ Trọng Lâm (2006), Nâng cao sức cạnh tranh của các DN trong
tiến trình hội nhập kinh tế Quốc tế, Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội. Trên cơ sở
khảo sát, đánh giá thực trạng, cả những thành công và yếu kém trong hoạt động
chuyển đổi cớ chế của các DN nước ta, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội những năm qua,
cuốn sách đã luận chứng khá sâu sắc một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các yếu
tố cơ bản của thị trường tác động trực tiếp đến sức cạnh tranh của DN trong hội
nhập kinh tế quốc tế; từ đố rút ra những bài học bổ ích cho việc định ra giải pháp để
nâng cao sức cạnh tranh của các DN Hà Nội.
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu về NLCT như:
- Chu Văn Cấp (2003), Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta
trong quá trình hội nhập của khu vực và quốc tế, đề tài cấp bộ, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Tú (2004), Nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản xuất
khẩu gạo vào thị trường EU, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia

có lợi thế lớn về giao thông. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu giữa Hà
Nội với các tỉnh Đông Bắc và là cửa ngõ giao lưu quốc tế của đất nước. Đây cũng là
tiền đề thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện.
Với vị trí địa lý thuận lợi và quỹ đất cho phép, Đông Anh đã và đang thu hút
được sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trên địa bàn huyện hiện
đã có trên 100 DN Trung Ương, thành phố và huyện, trong đó có 4 liên doanh với
nước ngoài đã đi vào hoạt động. Trong thời gian tới, các dự án đầu tư còn tiếp tục
gia tăng. Đây là một thế mạnh của Đông Anh để thúc đẩy phát triển kinh tế, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của huyện.

24


Trong quy hoạch tổng thể của thủ đô Hà Nội đến 2020 đã ưu tiên đầu tư cho
khu vực Bắc Sông Hồng. Tại đây, sẽ hình thành một Hà Nội mới với các khu vực:
Bắc Thăng Long - Vân Trì, Đông Anh - Cổ Loa, Gia Lâm - Sài Đồng - Yên Viên.
Hướng ưu tiên này đã tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá và phát triển kinh tế
- xã hội cho huyện.
3.1.1.3 Thời tiết, khí hậu và thủy văn
Đông Anh có cùng chung chế độ khí hậu của thành phố Hà Nội, đó là khí
hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa. Từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa hạ, khí hậu ẩm ướt,
mưa nhiều. Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa đông, thời kỳ đầu khô - lạnh,
nhưng cuối mùa lại mưa phùn, ẩm ướt. Giữa hai mùa là thời kỳ chuyển tiếp tạo cho
Đông Anh cũng như Hà Nội có bốn mùa phong phú: xuân, hạ, thu, đông.
Nhiệt độ trung bình hàng năm của Đông Anh là 250C, hai tháng nóng nhất là
tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất thường xảy ra vào tháng 7 là
37,50C. Hai tháng lạnh nhất là tháng 1 và 2, nhiệt độ trung bình của tháng 1 là 130C.
Độ ẩm trung bình của Đông Anh là 84%, độ ẩm này cũng rất ít thay đổi theo
các tháng trong năm, thường dao động trong khoảng 80 - 87%.
Số ngày mưa trong năm khoảng 144 ngày với lượng mưa trung bình hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status