Marketing Xuất bản
MỞ ĐẦU
Thực tiễn nước ta sau 25 năm đổi mới, hoạt động xuất bản đã có những
bước phát triển nhanh chóng và đạt được những thành tựu rất quan trọng.
Trong công cuộc đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay, hoạt động xuất bản càng có vị trí, vai
trò quan trọng trong việc ổn định chính trị, tư tưởng, giáo dục và đào tạo, phát
huy nguồn lực con người, xây dựng và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong cơ chế thị trường, hoạt động xuất bản mang tính xã hội hóa cao,
không thể dùng cơ chế bao cấp của Nhà nước như trước đây. Bởi ngân sách
Nhà nước không thể đủ khả năng thỏa mãn mọi nhu cầu đa dạng của bạn đọc
về xuất bản phẩm, trừ một số loại thiết yếu phục vụ cho một số đối tượng và
nhiệm vụ thiết yếu do Đảng và Nhà nước quy định. Các nhà xuất bản phải tự
bươn trải, tự đổi mới hoạt động cho phù hợp với cơ chế mới để tồn tại và phát
triển, nên thị trường xuất bản có điều kiện phát triển. Các nhà xuất bản phải tự
hạch toán, chịu cạnh tranh và chịu mọi chính sách điều tiết về thuế, về giá
trên thị trường.
Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động xuất bản đang có những bước phát
triển vượt bậc, thu được không ít những thành tựu và cũng gặp phải nhiều khó
khăn, thách thức. Để vừa hoàn thành vai trò của một lĩnh vực văn hóa tư
tưởng, vừa hoàn thành các mục tiêu kinh tế như một đơn vị sản xuất kinh
doanh, một trong những yếu tố quan trọng quyết định phải kể đến đó việc
hoạch định và xúc tiến các chiến lược sản xuất kinh doanh . Mà đó phải là
những chiến lược đặc biệt cho một ngành nghề kinh doanh đặc biêt với sản
phẩm mang tính đặc thù.
Là một trong những thế hệ tương lai của ngành xuất bản, nhận thấy ý
nghĩa quan trọng của các chiến lược Marketing trong hoạt động xuất bản, qua
một thời gian thực tập tại Nhà xuât bản giao thông vận tải, kết hợp với những
Trần Thị Nga – Xuất bản k30
2
Marketing Xuất bản
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về marketing và
chiến lược marketing trong hoạt động xuất bản
1.1. Những vấn đề lý luận chung về marketing
1.1.1. Khái niệm marketing
Trong nền kinh tế hiện đại thuật ngữ “marketing” ngày càng trở nên
quen thuộc và phổ biến. Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về marketing, vận
dung marketing vào hoạt động kinh doanh cần hiểu rõ những định nghĩa khác
nhau đó. Dưới đây là một số quan điểm và khái niệm Marketing hiện đại của
các tổ chức, hiệp hội và các nhà nghiên cứu về Marketing trên thế giới được
chấp nhận và phố biến:
“Marketing là quá trình quản trị nhận biết, dự đoán và đáp ứng nhu
cầu của khách hàng một cách có hiệu quả và có lợi” (CIM-UK’s Chartered
Institue of Marketing).
“Marketing là tiến trình hoạch định và thực hiện sự sáng tạo, định giá,
xúc tiến và phân phối những ý tưởng, hàng hóa và dịch vụ để tạo sự trao đổi
và thỏa mãn những mục tiêu của cá nhân và tổ chức ” (AMA- American
Marketing Association, 1985).
“Marketing là những hoạt động thiết lập, duy trì và củng cố lâu dài
những mối quan hệ với khách hàng một cách có lợi để đáp ứng mục tiêu của
các bên. Điều này được thực hiện bằng sự trao đổi giữa các bên và thỏa mãn
những điều hứa hẹn” (Theo Groroos, 1990).
“Marketing là một hệ thống các hoạt động kinh doanh thiết kế để
hoạch định, định giá, xúc tiến và phân phối sản phẩm thỏa mãn mong muốn
của những thị trường mục tiêu nhằm đạt được những mục tiêu của tổ
tính đến khả năng và sự sẵn sàng để mua chúng. Mong muốn sẽ trở thành số
Trần Thị Nga – Xuất bản k30
4
Marketing Xuất bản
cầu khi có sức mua.Công ty phải đo lường không chỉ về số lượng người muốn
có sản phẩm mà quan trọng hơn là số lượng người có khả năng và sẵn sàng
mua chúng.Marketing không tạo ra nhu cầu, nhưng có thể tác động đến ước
muốn. Marketing ảnh hưởng đến số cầu bằng cách tạo ra sản phẩm thích hợp,
hấp dẫn, tiện dụng…cho khách hàng mục tiêu.
Sản phẩm (Products): Sản phẩm là bất cứ những gì được đưa ra thị
trường để thỏa mãn như cầu và mong muốn của khách hàng. Khái niệm sản
phẩm trong Marketing bao gồm cả sản phẩm vật chất và phi vất chất.
Trao đổi (Exchanges):Trao đổi là hành vi nhận được vật mong muốn từ
một người và đưa cho họ vật khác. Trao đổi là một trong bốn phương thức
con người dùng để có được sản phẩm. Ba phương thức còn lại là: tự sản xuất,
tước đoạt và xin của người khác .
Giao dịch (Transations): là một cuộc trao đổi mang tính chất thương
mại những vật có giá trị hai bên.
Thị trường (Market):Thị trường bao gồm tất cả các khách hàng có nhu
cầu hay mong muốn chưa thỏa mãn, có khả năng và sẵn sàng tham gia trao
đổi để thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn đó. Thị trường của một công
ty còn có thể bao gồm cả giới chính quyền và các nhóm quần chúng khác.
Vì không có định nghĩa nào là hoàn toàn chính xác và đầy đủ, nên hoạt
động marketing được hiểu với những tư tưởng chủ đạo như sau:
Marketing coi trọng khâu tiêu thụ hay ưu tiên dành cho nó vị trí cao
nhất trong chiến lược của doanh nghiệp. Mục tiêu đầu tiên của doanh nghiệp
đó là tạo ra lợi nhuận, do đó các chính sách của doanh nghiệp đều phải làm
nhu cầu của khách hàng, làm cho họ hài lòng, trung thành với công ty, qua đó
thu phục thêm khách hàng mới.
Trần Thị Nga – Xuất bản k30
6
Marketing Xuất bản
- Chiến thắng trong cạnh tranh: Giải pháp Marketing giúp công ty dối
phó tốt với các thách thức cạnh tranh, bảo đảm vị thế cạnh tranh thắng lợi trên
thị trường. Chiến thắng trong cạnh tranh: Giải pháp Marketing giúp công ty
dối phó tốt với các thách thức cạnh tranh, bảo đảm vị thế cạnh tranh thắng lợi
trên thị trường.
- Lợi nhuận lâu dài: Marketing phải tạo ra mức lợi nhuận cần thiết giúp
công ty tích lũy và phát triển. Lợi nhuận lâu dài: Marketing phải tạo ra mức
lợi nhuận cần thiết giúp công ty tích lũy và phát triển.
Chức năng cơ bản của marketing là dựa trên sự phân tích môi trường
để quản trị Marketing, cụ thể là:
- Phân tích môi trường và nghiên cứu marketing: dự báo và thích ứng
với những yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại; tập
hợp các thông tin để quyết đinh các vấn đề Marketing. Phân tích môi trường
và nghiên cứu marketing: dự báo và thích ứng với những yếu tố môi trường
ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại; tập hợp các thông tin để quyết đinh
các vấn đề Marketing.
- Mở rộng phạm vi hoạt động: lựa chọn và đưa ra cách thức thâm nhập
những thị trường mới. Mở rộng phạm vi hoạt động: lựa chọn và đưa ra cách
thức thâm nhập những thị trường mới.
- Phân tích người tiêu thụ: xem xét và dỏnh giá những đặc tính, yêu
cầu, tiến trình mua của người tiêu thụ; lựa chọn các nhóm người tiêu thụ để
Chiến lược marketing về mặt cơ bản giải quyết những vấn đề sau:
-Thị trường mà doanh nghiệp sẽ cạnh tranh là gì (xác định thị trường).
- Khách hàng của công ty là ai (xác định khách hàng trọng tâm).
Trần Thị Nga – Xuất bản k30
8
Marketing Xuất bản
- Sản phẩm/dịch vụ của công ty sẽ được định vị như thế nào. Tại sao
khách hàng phải mua hàng của công ty mà không phải là hàng của đối thủ
cạnh tranh (đinh hướng chiến lược cạnh tranh).
Công ty sẽ thực hiện những cải tiến, thay đổi gì liên quan đến sản
phẩm, giá, kênh, truyền thông ...(marketing mix).
Marketing hỗn hợp (marketing - Mix (4P)) là tập hợp những công cụ
mà công ty sử dụng theo đuổi những mục tiêu marketing trên thị trường mục
tiêu. Trong marketing mix có hàng chục công cụ khác nhau, nhưng có 4 công
cụ chủ yếu đó là: sản phẩm (produce), giá cả (price), phân phối (place) và
khuyễn mãi ( promotion).
Trong thời kỳ hiện nay, hoạt động marketing trong các doanh nghiệp
chủ yếu là dùng marketing – mix. Bởi đây là công cụ hoạt động sẽ đưa doanh
nghiệp đạt mục tiêu cao nhất.
Người làm marketing thông qua các quyết định và kế hoạch phân bổ
kinh phí marketing để đưa ra một chương trinh chiến lược marketing – mix cụ
thể. Trong đó bao gồm các chiến lược cụ thể như sau:
- Chiến lược sản phẩm ( product): các chính sách chung về nhãn hiệu
sản phẩm, định vị, hủy bỏ, sữa chửa, bổ sung, thiết kế mẫu mã, bao bì v.v.
- Chiến lược phân phối (place): chính sách chung về kênh và cấp dịch
vụ khách hàng.
trong nội bộ ngành, mà vị thế xuất bản cũng bị đe dọa lớn bởi các phương tiện
truyền thông khác như: báo chí, truyền hình, phát thanh, internet...Trước cơ
chế cạnh tranh khốc liệt ấy, đòi hỏi ngành xuất bản phải có những bước
chuyển mình, thay đổi cơ chế kinh doanh, thích ứng với điều kiện thị trường
mới, mà trước hết phải xây dựng một nền tảng kinh doanh vững chắc và an
toàn. Marketing sẽ giúp cho các doanh nghiệp xuất bản xây dựng chiến lược
để chiếm lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
Trần Thị Nga – Xuất bản k30
10
Marketing Xuất bản
Một mục tiêu quan trọng nhất của xuất bản phẩm là phải định hướng
cho văn hóa của đất nước. Marketing giúp cho hoạt động xuất bản tăng lợi
nhuận. Nhưng bản chất của hoạt động xuất bản vì con người, để phát triển con
người, mang lại lợi ích văn hóa – tinh thần mà không phải là thứ lợi ích vật
chất có thể đo lường được. Một khi đạt được mục tiêu kinh tế thì mục tiêu
kinh tế ấy sẽ trở thành đòn bẩy cho mục tiêu cao hơn, là mục tiêu tiến bộ xã
hội. Như vậy xét đến cùng, marketing trong hoạt động xuất bản xét đến cùng
nhằm tới mục tiêu vì tiến bộ xã hội.
Vai trò của marketing trong hoạt động xuất bản:
Marketing trong xuất bản giữ vai trò xây dựng mối quan hệ, cầu nối
trung gian giữa nhà xuất bản với bạn đọc, giữa nhà xuất bản với thị trường,
xây dựng mạng lưới thông tin thông suốt trong ngành và phối hợp với các
ngành khác.
Marketing đóng vai trò thu hút khách hàng, giữ mối quan hệ và duy trì
khách hàng của mình.
Marketing giúp đo lường và dự báo mức cầu sản phẩm trên thị trường.
+ Thời cơ có thể có (cần đánh giá đúng thời cơ).
+ Khả năng của doanh nghiệp
+ Môi trường kinh doanh
+ Mục tiêu đề ra
Thứ hai, căn cứ vào:
+ Hàng hóa xuất bản phẩm hiện có của doanh nghiệp đã xâm nhập vào
thị trường? Khả năng phát triển thị trường cho nó?
+ Hàng hóa xuất bản phẩm mới sẽ đưa vào thị trường: phát triển đến
mức nào? Có đa dạng, phong phú về mẫu mã không? Dự báo về uy tín của nó
trên thị trường?
Thứ ba, căn cứ vào:
Trần Thị Nga – Xuất bản k30
12
Marketing Xuất bản
+ Phân tích thị trường hiện tại của doanh nghiệp. Nguyên tắc là đi từ thị
trường rộng đến thị trường hẹp, tìm ra thị trường trọng điểm.
Xây dựng và điều khiển kế hoạch marketing. Phải xây dựng được kế
hoạch (tác nghiệp và chiến lược) phù hợp với mục tiêu kinh doanh và khả
năng của doanh nghiệp. Kế hoạch tốt sẽ tạo điều kiện để quá trình điều khiển
có hiệu quả. Tuy nhiên một kế hoạch kinh doanh hay một chiến lược kinh
doanh được xây dựng phải đảm bảo nắm chắc và phân tích đầy đủ thông tin
vè ba thành phần là: Khách hàng, doanh nghiệp (mình) và đối thủ canh tranh
(ngoài mình).
Mặt khác cũng phải xem xét các tham số có ảnh hưởng trực tiếp, gián
tiếp đến hoạt động của mình. Đó là các tham số có thể kiểm soát được và
tham số mà doanh nghiệp không thể kiểm soát:
- Các yếu tố bên ngoài:
+Tác giả, nhà cung ứng nguyên, nhiên vật liệu, nhà phân phối...
+Khách hàng:Bạn đọc, xã hội, giới truyền thông,...
+Đối thủ canh tranh
+Môi giới marketing
*Sự tác động của môi trường vĩ mô:
- Chính trị - Pháp luật
- Dân số - kinh tế
- Văn hóa - xã hội
- Khoa học công nghệ - tự nhiên
Từ việc căn cứ vào các yếu tố ở trên, đơn vị kinh doanh xuất bản phẩm
đưa ra chiến lược marketing cho hoạt động xuất bản bao gồm các vẫn đề chủ
yếu:
- Chiến lược sản phẩm:
+ Xác định nhu cầu của sản phẩm, từ đó xác định loại sản phẩm
+ Xác định đối tượng hướng tới của sản phẩm, từ đó tìm ra khách hàng
mục tiêu
+ Yêu cầu về nội dung và hình thức của sản phẩm
+ Xác định chi phí sản xuất
Trần Thị Nga – Xuất bản k30
14
Marketing Xuất bản
+ Nguồn tạo ra sản phẩm
+ Chu kỳ sống của sản phẩm: Thời gian đưa sản phẩm vào thị trường;
giai đoạn phát triển; giai đoạn chín muồi; giai đoạn suy thoái. Đến thời kỳ suy
thoái tức là sản phẩm đó không tồn tại tại các nhà sản xuất lại.
- Chiến lược giá cả: Là việc xác định mục tiêu của chiến lược giá cả,
được mở rộng.
Trần Thị Nga – Xuất bản k30
16
Marketing Xuất bản
Chương 2: Thực trạng sản xuất kinh doanh và chiến lược
marketing trong hoạt động xuất bản của Nhà xuất bản Giao
thông vận tải
2.1. Sự hình thành và phát triển của Nhà xuất bản giao thông vận
tải
Nhà xuất bản Giao thông vận tải là nhà xuất bản hoạt động theo mô
hình đơn vị sự nghiệp. Được thành lập theo quyết định số 195/TH – TW ngày
10/5/1983 của Ban Tuyên huấn Trung ương, Quyết định số 63/VH – QĐ ngày
9/6/1983 của Bộ Văn hóa và Quyết định số 1453/ TCCB ngày 7/7/1983 của
Bộ Giao thông vận tải.
- Tên gọi đầy đủ bằng tiếng Việt: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một
thành viên Nhà xuất bản Giao thông vận tải
- Tên gọi ngắn gọn: Nhà xuất bản Giao thông vận tải
- Tên giao dịch quốc tế: Transport Publishing House Company Limited
(Viết tắt TPH)
- Cơ quan chủ quản : Bộ Giao thông vận tải
- Địa chỉ trụ sở chính: 80B Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Thành
phố
HàNội.
- Chi nhánh tại TP HCM: 92 Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Quận 1 - TP Hồ
Việt Nam đang hội nhập nền kinh tế quốc tế.
Nâng cao vai trò của Nhà xuất bản đối với các hoạt động chính trị, tư
tưởng, sản xuất - kinh doanh, đào tạo nguồn nhân lực, tuyên truyền giáo dục
truyền thôngs trong ngành giao thông vận tải và xã hội.
Nâng cao vị thế của Nhà xuất bản đối với ngành xuất bản Việt Nam,
xây dựng được niềm tin của bạn đọc đới với các xuất bản phẩm của nhà xuất
bản, xây dựng Nhà xuất bản thành thương hiệu mạnh, khẳng định được vai trò
quyết định, then chốt của hoạt động xuất bản đối với sự phát triển của nhà
xuất bản.
Công ty cũng đưa ra các giải pháp để thực hiện như sau:
Tập trung xây dựng và củng cố hoạt động biên tập xuất bản theo hướng
chuyên môn hóa cao, hướng mạnh ra thị trường phục vụ rộng rãi bạn đọc
trong và ngoài Ngành, từng bước chủ động xây dựng kế hoạch đề tài ngắn hạn
Trần Thị Nga – Xuất bản k30
18
Marketing Xuất bản
(hàng năm) và dài hạn (5 năm) thiết thực, có hàm lượng tri thức cao cho các
tủ sách chuyên ngành phục vụ mục tiêu chiến lược của ngành GTVT; phục vụ
công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ.
- Cụ thể là củng cố và xây dựng các tủ sách chuyên ngành sau:
+ Xây dựng hạ tầng kỹ thuật GTVT, bao gồm: các sách về quy trình, quy
phạm, quy hoạch, thiết kế, thi công, lập và quản lý dự án xây dựng hạ tầng.
+ Khai thác vận tải, trước mắt là phục vụ ngành đường bộ, đường biển.
+ Phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ trong công nghiệp giao
thông, trước mắt là công nghiệp ô tô và đóng tàu thủy,
+ Phục vụ công tác quản lý, kinh doanh, đổi mới doanh nghiệp thuộc
ngành GTVT hướng tới hội nhập kinh tế quốc tế.
những biện pháp cụ thể như:
+ Đến
năm 2015 xây dựng tổ chức, đảm bảo hoạt động in phát triển theo
hướng phục vụ tốt hoạt động xuất bản của Nhà xuất bản.
+ Xây dựng cơ chế chính sách, tăng cường đầu tư chiều sâu máy móc,
thiết bị in tiếp cận với công nghệ in tiên tiến, tăng năng lực đủ sức mạnh cạnh
tranh và tạo ra hiệu quả kinh tế.
+ Giải quyết mặt bằng xây dựng nhà xưởng theo hướng ổn định lâu dài.
- Về phát hành: Xây dựng mạng lưới phát hành bán buôn trong cả nước
thông qua hệ thống thư viện và các tổ chức phát hành chuyên nghiệp trong cả
nước, chú trọng đến việc phát hành đến tận người đọc trong ngành giao thông
Trần Thị Nga – Xuất bản k30
20
Marketing Xuất bản
vận tải thông qua hệ thống thư viện của các đơn vị trong ngành, các trường,
các cơ sở của ngành Giao thông vận tải.
Phát triển hình thức phát hành hướng đến chuyên nghiệp hóa cao theo
hình thức bán hàng truyền thống và bán hàng trục tuyến.
Xây dựng cơ chế chính sách liên doanh liến kết phù hợp với sự phát
triển của thị trường xuất bản phẩm nhằm tạo ra hiệu quảng cao cho nhà xuất
bản; hướng hoạt động phát hành của nhà xuất bản thành cầu nối giữ nhà xuất
bản và bạn đọc, xây dựng thương hiệu “Nhịp cầu tri thức”.
- Các hoạt động khác: Mở rộng các loại hình kinh doanh dịch vụ khác
nhằm hỗ trợ cho hoạt động xuất bản phát triển; trong đó việc đa dạng hóa các
thông vận tải và xã hội.
+ Liên kết xuất bản với các tổ chức, cá nhân kinh doanh xuất bản
phẩm.
+ In sách, báo, tạp chí và các loại văn hoá phẩm khác; các dịch vụ liên
quan đến in.
+ Quảng cáo, kinh doanh thiết bị văn phòng, văn hoá phẩm.
+ Tổ chức giới thiệu và xúc tiến thương mại.
Qua 30 năm hình thành và phát triển, Nhà xuất bản Giao thông vận tải
luôn là đơn vị có hoạt động góp phần tích cực vào sự phát triển của ngành, số
tên sách xuất bản trung bình hằng năm đạt tên 302 tên sách, số bản in đạt
hàng triệu bản, số lượng cán bộ công nhân viên trên 10 người, trong đó 30%
là biên tập viên; cơ cấu tổ chức được hình thành mô hình khép kín: xuất bản –
in và phát hành theo hướng chuyên môn hóa ngày càng cao; Ngoài khối văn
phòng chính và một số đơn vị thành viên đóng tại Hà Nội, Nhà xuất bản còn
phát triển được chi nhánh ở thành phố Hồ Chí Minh và đại diện miền trung.
Doanh thu toàn Nhà xuất bản hàng năm đạt khoảng 25 tỷ, đảm bảo đời sống
cho cán bộ công nhân viên.
Từ khi thành lập đến nay Nhà xuất bản Giao thông vận tải đã khẳng
định được vị trí, vai trò và sự trưởng thành của mình được Nhà nước, Bộ Giao
thông vận tải truy tặng nhiều danh hiệu và phần thưởng quý giá:
- Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước tặng tập thể CB –
CNV Nhà xuất bản năm (2003);
Trần Thị Nga – Xuất bản k30
23
Marketing Xuất bản
- Thủ tướng chính phủ tặng Bằng khen cho tập thể CB – CNV Nhà xuất
lượng đúng với tiêu chuẩn của cấp tren giai cho, phát hành các loại sách về
chuyên ngành giao thông vận tải và khoa học kỹ thuật vói mục đích cung ứng
sách cho nhu cầu nghiên cứu khoa học kỹ thuật, giao tiếp vận tải và làm tăng
mức doanh thu cho doanh nghiệp để có thể tồn tại và phát triển lâu dài.
2.3. Thực trạng hoạt động marketing trong sản xuất kinh doanh
của Nhà xuất bản
Nhà xuất bản là một đơn vị sản xuất và kinh doanh các loại sách và văn
hóa phẩm, nhưng quy mô sản xuất không lớn do có giới hạn về các loại sách
mà Bộ Giao thông vận tải quy định, trong đó sản xuất chủ yếu là sách kỹ
thuật giao thông vận tải.
Là một doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong trong cơ chế thị trường
có nhiều biến động. Nhà xuất bản cũng như các công ty khác mục đích vẫn là
kinh doanh có hiệu quả. Vì vậy, điều tất yếu là Công ty phải tiến hành hoạt
động marketing trong hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, các hoạt
động marketing còn mang tính đơn lẻ, thiếu đồng bộ, chưa có một chương
trình hay chiến lược mang quy mô tổng thể cho hoạt động kinh doanh của
mình.
-Về hoạt động quảng cáo thì công ty chưa có hoạt động quảng cáo nào
về sản phẩm của mình, khách hàng ít biết đến sản phẩm của công ty mà chỉ
biết đến một cách thụ động.
- Về chính sách giá, công ty chưa có một chính sách giá cụ thể nào, hầu
hết các mức giá của sản phẩm đều rất cứng nhắc, dập khuôn theo sự xác định
của phòng nghiệp vụ riêng biệt nghiệp vụ riêng biệt. Điều này làm giảm đi
khả năng thích ứng của sản phẩm đối với thị trường và nhất là sự thay đổi về
giá của đối thủ cạnh tranh.
Trần Thị Nga – Xuất bản k30
25