TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Chăn nuôi - Thú y
BÁO CÁO
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất một số giải pháp để phát
triển chăn nuôi lợn nông hộ ở xã Quảng Minh, thị xã Ba Đồn,
tỉnh Quảng Bình
Sinh viên thực hiện: Hoàng Thái Sơn
Lớp: Cao đẳng Chăn Nuôi 47
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Đàm Văn Tiện
Bộ môn: sinh lý – giải phẫu
NĂM 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Chăn nuôi - Thú y
BÁO CÁO
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất một số giải pháp để phát
triển chăn nuôi lợn nông hộ ở xã Quảng Minh, thị xã Ba Đồn,
tỉnh Quảng Bình
Xin chân thành cảm ơn !
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Hàm lượng năng lượng, đạm (Protein) và khoáng trong một số
loại nguyên liệu sẵn có trong địa phương........................................................14
Bảng 2.2: Giá trị dinh dưỡng trong thức ăn của lợn nái hậu bị và lợn
nái( tính cho 1kg vật chất khô).........................................................................20
Bảng 2.3: Giá trị dinh dưỡng trong thức ăn của lợn thịt( tính cho 1kg vật
chất khô).............................................................................................................21
Bảng 2.4: Diễn biến số lượng đàn lợn thế giới................................................22
Bảng 2.5: Tình hình chăn nuôi của Việt Nam năm 2005– 2013....................23
Bảng 4.1: Nhiệt độ bình quân các tháng trong năm của Quảng Bình.........26
Bảng 4.2.: Một số cây trồng chính thông qua khảo sát tại địa phương........29
Bảng 4.3: Các loại gia súc tại địa phương.......................................................29
Bảng 4.4: Một số thông tin chung về tiềm năng sản xuất chăn nuôi ở nông
hộ tại địa điểm nghiên cứu................................................................................30
Bảng 4.5: Kiểu chuồng trại...............................................................................32
Bảng 4.6: Cơ cấu giống lợn...............................................................................33
Bảng 4.7: Cơ cấu đàn lợn..................................................................................33
Bảng 4.8 : Trọng lượng xuất bán lợn...............................................................34
Bảng 4.9: Hình thức mua bán lợn tại địa phương..........................................35
Bảng 4.10: Giá mua bán lợn tại địa phương nghiên cứu...............................36
Bảng 4.11: Khó khăn gặp phải trong đầu ra...................................................37
Bảng 4.12: Giải pháp xử lý khi lợn mắc bệnh.................................................38
Bảng 4.13: Tình hình tiêm phòng cho lợn.......................................................39
Bảng 4.14: Tỷ lệ lợn con chết trong thời gian nuôi.........................................40
Bảng 4.15 Đánh giá mức độ khó khăn trong chăn nuôi.................................41
Bảng 4.16 Các công thức phối trộn thức ăn cho lợn nái chửa và nái nuôi con
.............................................................................................................................45
Việt Nam là một nước nông nghiệp. Nông nghiệp giữ một vị trí hết sức
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Cùng với trồng trọt, ngành Chăn nuôi
nói chung và ngành Chăn nuôi lợn nói riêng đang trên đà phát triển và dần trở
thành ngành chính trong nền kinh tế nông nghiệp. Trong những năm gần đây
ngành Chăn nuôi lợn đã cung cấp một lượng thịt lớn cho tiêu dùng trong nước
và đóng góp một phần đáng kể cho xuất khẩu. Đồng thời cũng thúc đẩy các
ngành khác phát triển như: Công nghiệp chế biến thực phẩm, trồng trọt, thuỷ
sản,… Trong tình hình Chăn nuôi đang phát triển mạnh như hiện nay ở nước
ta, đặc biệt là chăn nuôi ở các nông hộ thì việc đưa các tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào áp dụng trong chăn nuôi để nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm là một yêu cầu cấp thiết cần được thực hiện ngay như: Các biện pháp
nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, kiểm soát dịch bệnh, quản lý giết mổ…nhằm mang
lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người chăn nuôi
Chăn nuôi lợn ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Quảng Bình nói riêng còn
gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do người dân chủ yếu vẫn chăn nuôi theo
hình thức nông hộ nhỏ lẻ không tập trung nên khi xảy ra bệnh dịch khó kiểm
soát gây thiệt hại lớn, ngoài ra chi phí thức ăn cao và đầu ra sản phẩm không ổn
định do mất cân đối về cung-cầu cũng là một nguyên nhân quan trọng.
Xã Quảng Minh là một xã thuần nông ở phía Tây Nam thị xã Ba Đồn tỉnh
Quảng Bình.Địa bàn xã Quảng Minh nằm cách 35 km TP Quảng Bình. Nghề
chăn nuôi lợn ở xã Quảng Minh đã có và phát triển từ lâu đời tuy nhiên vẫn chủ
yếu dựa vào kinh nghiệm của người dân còn chưa mang tính bền vững chọn lọc
chưa phát huy hết được tiềm năng sẵn có của địa phương. Còn gặp nhiều khó
khăn liên quan tới các vấn đề như giá cả thức ăn, thuốc thú y, vốn đầu tư, các
yếu tố kỹ thuật, rủi ro dịch bệnh…Và cần phải khắc phục được các yếu tố đồng
thời tận dụng triệt để được những tiềm năng sẵn có ở địa phương để trở thành
vùng chăn nuôi lớn cung cấp được sản phẩm có chất lượng cao và sạch bệnh cho
các thị trường tiêu thụ lớn.
Do đó, xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế bền vững chăn nuôi lợn.
Chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất một số giải
lượng 350-380kg, dài than 170-185cm; con cái trưởng thành có trọng lượng
250-280kg. Số con trên 1 lứa là 10-12 con. Có lứa đạt 17-18 con. Lợn hướng
kiêm dụng về thịt và nạc.
- Giống Landrace: lợn Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch, lợn có màu
lông trắng tuyền, mình dài, tai to, rủ úp về phía trước; bụng gọn không sâu, 4
chân mảnh dẻ đẹp. Lợn đực trưởng thành nặng 300-320 kg. Lợn cái có 12-14 vú,
nặng 220-250 kg, lợn có mức tang trọng 750-800g/ngày, có độ dày mỡ ở xương
sườn 10 là 3,09cm, tỷ lệ nạc 56% trở lên. Ở Việt Nam lợn Landrace được nhập
từ CuBa vào năm 1978 và những năm 1985-1986 nhập lợn từ Bỉ và Nhật Bản.
- Giống Hampshire: lợn Hampshire có nguồn gốc từ Mỹ, lợn có màu da
lông đen. Một vành lông da trắng vắt qua vai bao gồm cả chân và trước ngực,
mình ngắn tai đứng, lưng hơi cong. Khả năng tăng trọng 730g/ngày. Đọ dày mỡ
lưng ở sườn 10 là 2,31 cm, diện tích thăn là 33,66 cm 2. Đây là một giống lợn
hướng nạc
- Giống Duroc: lợn Duroc có nguồn gốc từ Hoa Kỳ, lợn được nhập vào
nước ta từ năm 1976; lợn có màu lông hung đỏ toàn thân, mõm đen, tai đứng;
lợn có khả năng tăng trọng 785g/ngày, độ dày mỡ lưng ở sườn 10 là 3,09 cm,
diện tích cơ thân 30,45 cm2, khả năng sinh sản 9,3 con/lứa.
- Giống Pietrain: lợn Pietrain có xuất xứ từ Bỉ, lợn có toàn thân màu trắng
và có nhiều đốm xám trên không ổn định, đầu nhỏ tai dài, tai to hơi vểnh, cổ to
và chắc chắn, toàn thân trông như hình trụ đây là 1 giống tiêu biểu hướng nạc.
Lợn có khả năng sản xuất tốt có thể đạt 66,7% nạc trong thân thịt, lợn nái có khả
năng sinh sản tương đối tốt, lợn để trung bình 9-11con/ lứa, 1 năm đạt 1,7-1,8
lứa/năm.
- Giống lợn Cornwall: Chúng có nguồn gốc từ vùng Cornwall, phía Nam
nước Anh được hình thành vào khoảng 1824-1825, được tạo thành bởi quá trình
3
lai tạo giữa giống lợn Berkshire với Lợn Trung Quốc. Toàn thân lợn có màu đen
híp. Mõm to và dài vừa phải, lợn nái càng già mõm càng dài và cong lên. Vai nở
vừa phải, từ 8-9 tháng vai bằng hoặc lớn hơn mông, ngực sâu. Thân mình dài
4
hơn so với ỉ mỡ, lưng đa số hơi võng, khi béo thì trông phẳng, bụng to, mông lúc
nhỏ hơi lép về phía sau, từ 6-7 tháng mông nở dần. Chân thấp, lợn thịt 1 hoặc
hậu bị thì hai chân trước tương đối thẳng hai chân sau hơi nghiêng lợn nái thì
nhiều con đi vòng kiềng hoặc chữ bát.
- Giống lợn Sóc: lợn Sóc được nuôi ở hầu hết các buôn làng của đồng bào
các dân tộc Êđê, Gia-rai, Bana, Mơnông… ở 4 tỉnh Lâm Đồng, Đắc Lắc, Gia
Lai, Kon-Tum. Hình dáng lợn Sóc rất gần với lợn rừng, tầm vóc nhỏ, mõm dài,
hơi nhọn và chắc, thích hợp với đào bới kiếm thức ăn. Da của giống lợn này
thường dày, mốc, lông đen, dài, có bườm dài và dựng đứng. Chân nhỏ, đi bằng
móng rất nhanh nhẹn. Lợn Sóc có tầm vóc nhỏ, dáng hoang dã, thích nghi với
việc thả rông tự tìm kiếm thức ăn. Tốc độ sinh trưởng chậm và phụ thuộc nhiều
vào nguồn thức ăn kiếm được. Khối lượng ở 1 năm tuổi chỉ đạt 30-40 kg, tăng
trọng chỉ khoảng 100g/ ngày lợn Sóc có tuổi thành thục về tính muộn, thời gian
động dục lại sau đẻ dài dẫn đến khoảng cách hai lứa đẻ dài, thường chỉ được 1,1
– 1,2 lứa/năm, số con đẻ ra 1 lần ít.
- Giống lợn Mẹo: Lợn Mẹo được nuôi chủ yếu ở vùng núi tỉnh Nghệ An,
tập trung nhiều ở hai huyện Kỳ Sơn và Tương Dương. Lợn Mẹo có tầm vóc khá
lớn, trường mình, phát triển cân đối. Lông da màu đen, da dày, lông dài và cứng,
thường có 6 điểm trắng ở 4 chân, trán và đuôi, một số có loang trắng ở bụng.
Đầu to, rộng, mặt hơi gãy, trán dô và thường có khoáy trán, mõm hơi dài, tai vừa
phải và hơi chúc về phía trước. Vai rộng, lưng dài rộng, phẳng hoặc hơi vồng
lên. Phần hông rộng và phẳng, mông rộng và chiều cao mông thường cao hơn
vai. Bụng lợn to, dài nhưng không sệ. Chân lợn cao, thẳng, vòng ống thô, đi
đứng trên hai ngón trước. Lợn Mẹo được nuôi chủ yếu trong điều kiện thả rông
ngón, móng xoè, đuôi ngắn. Bình quân lợn đẻ 2 lứa/năm; số con sơ sinh trung
bình mỗi lứa 9,5 con.
2.1.2Sinh lý tiêu hóa hấp thu ở lợn
Lợn là gia súc dạ dày đơn. Cấu tạo bộ máy tiêu hoá của lợn bao gồm
miệng, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già và cuối cùng là hậu môn. Bằng các
biện pháp: cơ học, hóa học và vi sinh vật học để biến những chất hữu cơ phức
tạp thành những chất đơn giản nhất mà cơ thể lợn có thể hấp thu được. Khả năng
tiêu hóa của lợn với các loại thức ăn cao thường có tỷ lệ từ 80-85% tùy từng loại
thức ăn.[1]
6
2.1.2.1 Tiêu
hóa ở miệng
- Lợn có 44 chiếc răng bao gồm: 12 chiếc răng cửa, 4 chiếc răng nanh, 16
chiếc răng hàm trước, 12 chiếc răng hàm sau.
- Thức ăn ở miệng được cắt nghiền nhỏ bởi động tác nhai và thức ăn trộn
với nước bọt làm trơn để được nuốt trôi xuống dạ dày. Nước bọt chứa phần lớn
là nước (tới 99%) trong đó chứa enzyme amylase có tác dụng tiêu hoá tinh bột,
tuy nhiên thức ăn trôi xuống dạ dày rất nhanh nên việc tiêu hoá tinh bột xảy ra
nhanh ở miệng, thực quản và tiếp tục ở dạ dày khi thức ăn chưa trộn với dịch dạ
dày. Độ pH của nước bọt khoảng 7,3. [2],[1]
2.1.2.2 Tiêu
hóa ở dạ dày
- Dung tích dạ dày của lợn lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20
- Dịch tụy bao gồm bicacbonat và đó là nhân tố chính giảm độ acid của
nhũ chấp trong tá tràng từ dạ dày xuống, ngoài ra trong dịch tụy còn chứa các
enzim giúp cho quá trình tiêu hóa tinh bột, protein, chất béo và các acid nucleic
như Trypsin, Chimotrypsin, Cacboxylpeptidaza .. .
- Lượng dịch tụy của lợn tiết ra thay đổi theo lứa tuổi của lợn tức lợn con
tiết ra dịch tụy thấp (500ml/ngày khi lợn con được 6 tuần tuổi) và tăng nhanh ở
lợn lớn.
- Dịch mật bao gồm các ion Na, K, Cl bicacbonat và chất hữu cơ chủ yếu
là muối mật (photpholipit, colesterol . . ) có pH = 7,31-7,93. Đặc điểm chính của
muối mật là có tính hoạt động bề mặt cao và là dẫn xuất của sterol. Ngoài ra
trong dịch mật chứa các lecithin chất này vào ruột được men Phospholipaza tụy
biến đổi thành Lycolecithin góp phần vào cắt chuỗi phân tử chất béo.
- Màng nhầy tá tràng có tuyến Brunner, các tuyến này tiết ra dịch với độ
kiềm rất cao pH =8,4-8,9. Dịch này kết hợp với dịch mật và dịch tụy giúp cho
quá trình trung hòa nhũ chấp xuống từ dạ dày, như vậy nú giỳp cho việc bảo vệ
thành ruột từ các chất chứa của dạ dày có độ acid rất cao. Lượng dịch ruột tiết ra
khoảng 15,8-17,3 ml/h (Florey và Lium,1940). [2]
8
2.1.2.4 Tiêu
hóa ở ruột già
- Trong ruột già có quá trình tiêu hóa Cellulo nhờ vào sự phân giải và lên
men của vi khuẩn của ruột già. Trong điều kiện bình thường, một ngày đêm thì
khẩu phần ăn cho lợn lớn cần 3.500 – 4000g Hydratcacbon trong đó có tới 2530% là Cellulo. Chỉ sau 16 ngày tuổi khi ăn thức ăn thực vật thì mới xuất hiện vi
khuẩn phân giải Cellulo ở manh tràng và kết tràng. Trong khẩu phần thì hàm
9
tác dụng tiêu hóa protein do nó ở dạng không hoạt động được và quá trình thủy
phân protein mới diễn ra.
Ngoài ra, trong dạ dày cũn cú những men khác tham gia vào quá trình
thủy phân protein như catepsin, renin…
- Tiêu hóa mỡ:
- Các chất béo trong khẩu phần chứa các thành phần chứa các thành phần
chính là Tryglycerid và một số dạng khác như Photpholipit, Sterol, Estesrol. Các
thành phần này sẽ được thủy phân do các men của dịch tụy tiết ra . Quá trình
tiêu hóa mỡ còn nhờ sự tác dụng của dịch mật bao gồm các sắc tố mật
(Bilirubin), acid mật (acid colic, desoxicolic,glicocolic). [2]
2.1.2.6 Hấp
thu các chất dinh dưỡng
- Sự hấp thu ở các vị trí khác nhau sẽ có mức độ hấp thu khác nhau.
+ Ở miệng không có quá trình hấp thu thức ăn.
+ Ở dạ dày có sự hấp thu nước, glucoza, acid amin, chất khoáng song ít.
+ Ở ruột non: Lượng đường và protein đã được tiêu hóa, hấp thu tới 8587%. Ruột non cũng là nơi hấp thu khoáng và nước chủ yếu. Một ngày đêm có
thể hấp thu tới 23 lít nước.
+ Ở ruột già vẫn tiếp tục quá trình hấp thu nhưng ít.
- Trong cơ thể lợn có quá trình tiêu hóa vi sinh vật học do hoạt động của
hệ vi sinh vật rất phát triển.
- Quá trình lên men trong dạ dày diễn ra rất mạnh nhờ khu hệ vi sinh vật.
Theo A.M Strovoitop (1958) thì acid HCl tự do tiết ra ở vùng thân vị sau khi ăn
6 giờ thì nước bọt và dịch tiết có phản ứng kiềm. Đây là điều kiện thích hợp vi
sinh vật hoạt động lên men sinh ra các acid và tổng hợp acid amin. Muốn tạo
tiêu hóa, hấp thu mạnh ở dạ dày. Trong vòng 24 giờ thì tổng lượng hấp thu của
Gluxit là 19,5%, cường độ hấp thu nhiều hay ít phụ thuộc vào tỷ lệ Gluxit trong
thức ăn. [2]
2.1.2.7 Những
yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu hóa
- Loại thức ăn:
Các loại thức ăn khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến tiết dịch tiêu
hóa.Thức ăn nhiều nước sẽ làm giảm tiết nước bọt và dịch vị.
- Chế biến thức ăn:
Thức ăn được chế biến khác nhau thì khả năng tiết dịch vị tiêu hóa là khác
như thức ăn rang thì dịch vị tiết nhiều hơn so với thức ăn ngâm. Cho lợn ăn thức
ăn thức ăn sống thì dịch vị và dịch ruột cũng như hoạt lực cuả enzim cao hơn
thức ăn chín.
- Tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong khẩu phẩn:
Khi khẩu phần thức ăn kém cân bằng sẽ gây ra hoạt động căng thẳng
của cơ quan tiêu hóa từ đó dẫn đến hiện tượng giảm đồng hóa thức ăn. Khi
khẩu phần có lượng protein thấp lúc đó sẽ làm giảm đồng hóa hoá thức ăn.
11
Khẩu phần có lượng protein cao thì lượng dịch được tiết ra càng nhiều để
tăng cường tiêu hóa.
- Phương thức cho ăn:
Cách cho ăn cũng ảnh hưởng đến sự tiêu hóa thông qua lượng dịch tiêu
hóa tiết ra bị thay đổi. Nếu cho lợn ăn nhiều bữa và cho ăn khô sẽ làm tăng
lượng dịch tiêu hóa.
- Ngoài các yếu tố thức ăn đã trình bày trên thì các yếu tố về điều kiện môi
trường cũng ảnh hưởng đến tiêu hóa của lợn. [2]
gồm có:
Thức ăn có nguồn gốc thực vật: Đậu tương, vừng, lạc, khô dầu (lạc, đậu
tương…)
Thức ăn có nguồn gốc động vật: Cá, bột cá, bột tôm, bột thịt, bột nhộng
tằm, giun đất, …
- Nhóm thức ăn giàu khoáng: Là nhóm nguyên liệu thức ăn có hàm lượng
các chất khoáng cao để tham gia vào quá trình cấu tạo xương, tế bào và điều hoà
sự hoạt động của các cơ quan nội tạng, đồng hoá thức ăn. Nhóm thức ăn giàu
khoáng gồm có:
Các loại từ tự nhiên: Bột vỏ don, vỏ cua, vỏ ốc, …
Các loại từ sản phẩm chăn nuôi, giết mổ gia súc: vỏ trứng, bột xương…
Hàm lượng khoáng trong khẩu phần thức ăn cho lợn quá mức quy định sẽ
gây ngộ độc cho gia súc
- Nhóm thức ăn giàu vitamin: Là nhóm nguyên liệu thức ăn có hàm lượng
vitamin cao, giúp tăng cường quá trình trao đổi chất trong cơ thể; tăng năng suất
sinh sản và phòng ngừa bệnh. Nhóm thức ăn giàu vitamin gồm có:
Các loại rau, cỏ, củ, quả (cà rốt, bí đỏ, su hào…)
Ngoài ra còn có các loại vitamin công nghiệp và các loại premix vitamin
khoáng nhằm cung cấp cả chất khoáng và vitamin cho vật nuôi. [3]
13
Bảng 2.1: Hàm lượng năng lượng, đạm (Protein) và khoáng trong một số loại
nguyên liệu sẵn có trong địa phương
Tên nguyên liệu
NLTĐ
Đạm
Cám gạo
2500
12,0
0,17
1,65
Thóc
2680
7,0
0,22
0,27
Bột sắn khô
3100
2,9
0,25
0,16
Bột cá loại 1
2600
55,0
5,00
2,50
Bột cá loại 2
2450
40,0
7,30
1,70
Bột moi biển
2450
60,0
3,0
1,5
Bột vỏ don
-
-
33,2
-
Rau muống
270
2,1
0,12
0,05
Rau khoai lang
303
2,37
0,14
0,06
trên nhiều loại đất khác nhau: từ khô ẩm đến sình lầy...Thân rau muống tương
đối giàu protein, ít xơ, nhiều đường nên gia súc và đặc biệt là lợn rất thích ăn.
Trung bình 1kg chất khô chứa 180-280g protein, 150-200 g đường, 140-150g
xơ và cung cấp đến 2500-2600 Kcal trao đổi đối với lợn.
- Thân lá khoai lang:
Khoai lang ngoài mục đích trồng lấy củ là chính còn có thể trồng để cung
cấp thức ăn thô xanh cho vật nuôi. Thân lá khoai lang chứa hàm lượng tinh bột
thấp nhưng hàm lượng protein và xơ cao. Protein trung bình đạt 18% (tính theo
vật chất khô), hàm lượng xơ thô đạt 16-17%. Giá trị dinh dưỡng chủ yếu của
thân khoai lang là protein và vitamin.
- Gạo:
Thóc là hạt ngũ cốc chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á. Thóc được dùng
chủ yếu cho gia súc nhai lại và ngựa, gạo, cám được dùng cho người, lợn, gia
cầm. Vỏ trấu chiếm 20% khối lượng hạt thóc, rất giàu silic và thanh phần chủ
yếu là cellulose. Cám gạo chứa khoảng 11-13% protein thô và 10-15 lipit. Thóc
tách trấu có giá trị dinh dưỡng cao hơn, gia súc tiêu hoá và hấp thu dễ hơn. Gạo
có hàm lượng xơ 40-80 g/kg và protein là 70-80 g/kg, hàm lượng lyzin, arginin,
tryptophan trong gạo cao hơn ngô, nhưng hàm lượng các nguyên tố khoáng đa
lượng, vi lượng thấp hơn so với nhu cầu của gia súc, gia cầm.
- Ngô:
Ngô có năng lượng cao, lợn thích ăn, tỉ lệ tiêu hóa cao đến 85%. Ngô
vàng chứa nhiều sắc tố Oytoxanthin là tiền chất của vitamin A. Do đó làm cho
lòng đỏ của trứng gà có màu sắc đậm hơn, làm cho mỡ lợn có màu đặc trưng
nên người tiêu dùng ưa chuộng. Ngô là loại thức ăn có tỉ lệ tiêu hóa năng lượng
cao, giá trị protein thấp và không cân đối acid amin. Ngô chứa 730g tinh bột/ kg
vật chất khô. Protein thô từ 8-13% (vật chất khô). Lipit của ngô từ 3-6%, chủ
yếu là các acid béo chưa no, nhưng là nguồn phong phú acid linoleic. Ngô là
loại thức ăn giàu năng lượng, 1 kg ngô hạt chứa 3200-3300 Kcal ME. Ngô còn
là loại thức ăn ngon miệng đối với lợn. Tuy nhiên thức ngô là loại thức ăn bị hạn
chế các acid amin như lysine và tryptophan, do vậy trong chăn nuôi cần chú ý bổ
loại thức ăn an toàn cho hầu hết các loại vật nuôi, nếu trước khi cho ăn cần loại
thức ăn thừa để cho không bị chua. Bã bia là thức ăn cồng kềnh, năng lượng
thấp và thỉnh thoảng người ta mới sử dụng vổ béo bò. Bã bia không phải là thức
ăn thông dụng cho lợn, nhưng có thể sử dụng một lượng nhỏ trong khẩu phần
cho lợn trên 35 kg mà không ảnh hưởng đến sức sản xuất, lượng bã bia trong
khẩu phần cho lợn phụ thuộc vào tuổi, nhưng tối đa 50% protein trong khẩu
phần. Bổ sung bã bia, rượu khô có thể đến 13-14% trong khẩu phần, nếu cho lợn
ăn tươi thì 80-85% bã rượu, trộn thêm 10-12% cám, 5% bột cá, cho thêm một ít
bột xương.
16
- Sản phẩm phụ của ngành chế biến thuỷ sản:
+ Sản phẩm phụ của ngành chế biến tôm: là phụ phẩm từ công nghệ chế
biến tôm đông lạnh xuất khẩu. Những sản phẩm này rất khác nhau về thành
phần cơ giới, bao gồm đầu tôm có cả nội tạng, vỏ và đuôi. Thành phần cơ giới
này phụ thuộc vào phương pháp chế biến và loại tôm. Theo Lê Đức Ngoan
(2000), tỷ lệ phụ phẩm của chế biến tôm chiếm 50% (30 - 55% theo khối lượng
tươi). Phụ phẩm của tôm giàu protein thô (20-60%), chitin (10-30%), chất béo
(2-10%) và khoáng (20-40%).
+ Sản phẩm phụ của ngành chế biến cá: Bột cá là loại thức ăn bổ sung
hoàn hảo cho gia súc, gia cầm, là loại thức ăn giàu protein và chất lượng protein
cao. Bột cá tốt chứa tới 50-60% protein, tỷ lệ acid amin, có nhiều acid amin
chứa lưu huỳnh. 1 kg bột cá có chất lượng tốt có 52 g lysine, 15-20 g
methionine, 8-10 g cystine, giàu Ca, P tỷ lệ tương đối cân đối: Ca khoảng 6-7%,
P khoảng 4%, giàu vitamin B1, B12, ngoài ra còn vitamin A và D. Tuy nhiên
chất lượng bột cá còn phụ thuộc rất nhiều vào loại cá và các bộ phận của cá đem
chế biến.[3],[9]
2.1.5Thức ăn bổ sung
phối hợp thức ăn có một số thành phần của thức ăn này làm hạn chế phân giải
khoáng trong cơ thể của thức ăn kia (ví dụ khô dầu đậu tương có hàm lượng acid
phitic cao nên khi phối trộn thức ăn sẽ làm hạn chế khả năng hấp thu kẽm trong
khẩu phần), … Vì vậy, đầu tư thức ăn cho lợn cần thường xuyên bổ sung một số
nguyên tố khoáng quan trọng là canxi, photpho, natri, clo (nguyên tố khoáng đa
lượng); sắt, kẽm, i-ốt, selen, đồng, man-gan (nguyên tố khoáng vi lượng).
Premix vitamin:
- Vi tamin cần thiết cho quá trình trao đổi chất bình thường của lợn. Cơ
thể lợn có thể tự tổng hợp được một số loại vitamin đủ đáp ứng nhu cầu, một số
vitamin khác phải lấy từ nguồn thức ăn.
- Nguồn thức ăn rau, cỏ, củ quả ngoài tự nhiên của lợn rất giàu vitamin,
nhưng phần lớn vitamin bị mất đi trong quá trình bảo quản, sấy khô, …do đó
cần bổ sung vitamin vào khẩu phần của lợn để đạt được năng suất tối ưu. [3]
2.1.6Thức ăn công nghiệp
Thức ăn công nghiệp là loại thức ăn được chế biến sẵn, gồm 2 loại: Thức
ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc.
- Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh là loại thức ăn cho ăn trực tiếp, ở dạng
bột/viên có đầy đủ các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của
lợn. Khi sử dụng không cần phối trộn them chất khác, không cần phải nấu chin.
- Thức ăn đậm đặc là loại thức ăn có hàm lượng chất dinh dưỡng cao,
thường ở dạng bột. Khi sử dụng cho lợn ăn cần phải trộn them với các nguyên
liệu sẵn có ở địa phương theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
18
- Khi mua cần chú ý ngày sản xuất hạn sử dụng và kiểm tra kỹ chất lượng
và cần phải sử dụng đúng loại thức ăn cho loại lợn theo hướng dẫn của nhà sản
xuất. [6]
2.1.7Nhu cầu dinh dưỡng của các loại lợn ở giai đoạn tuổi khác nhau