TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Khuyến nông và Phát triển nông thôn
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất lạc tại
phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thao
Lớp: Phát triển nông thôn 46B
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Đinh Thị Kim Oanh
Thời gian thực tập: Từ 28/12/2015 đến 01/05/2016
Địa điểm thực tập: Phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà,
tỉnh Thừa Thiên Huế
Bộ môn: Kinh tế nông thôn
HUẾ, 05/2016
1
Lời Cảm Ơn
Thực tập cuối khóa là một phần kết quả học tập của tôi sau những năm ở giảng
đường Đại học. Để hoàn thành bài khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn
nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô giáo, gia đình và bạn bè.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Th.s. Đinh Thị Kim
Oanh là người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình tôi làm đề
tài
Nghĩa của từ
UBND
Ủy ban nhân dân
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
KT - XH
Kinh tế- xã hội
HTX
Hợp tác xã
BQC
Bình quân chung
ĐVT
Đơn vị tính
BVTV
Bảo vệ thực vật
Giá trị gia tăng trên lao động
MỤC LỤC
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Tên đề tài: Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất lạc tại
phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thao - Lớp Phát triển nông thôn 46
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Đinh Thị Kim Oanh
Lí do chọn đề tài: Cây lạc là cây trồng được trồng khá phổ biến ở nước ta nhất
là ở khu vực miền Trung. Hương Chữ là một phường thuộc thị xã Hương Trà, tỉnh
Thừa Thiên Huế có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển lạc, mang lại giá trị cao cho
người dân ở đây. Hơn nữa, cây lạc còn là cây trồng đem lại nhiều giá trị và lợi ích đáp
ứng nhu cầu cho con người.
Trong điều kiện đất nông nghiệp ngày càng hạn hẹp, sự nóng lên của trái đất,
thời tiết ngày càng khắc nghiệt, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì việc xem xét đánh
giá hiệu quả kinh tế của một hoạt động sản xuất nông nghiệp có vai trò quan trọng.
Xuất phát từ những thực tiễn trên tôi đã chọn đề tài nghiên cứu hiệu quả kinh tế của
hoạt động sản xuất lạc tại phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
để làm đề tài nghiên cứu của mình.
Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu hiện trạng sản xuất lạc tại phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh
Thừa Thiên Huế
-Đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế của việc trồng lạc tại nông hộ phường
Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Xác định các thuận lợi, khó khăn trong việc trồng lạc của các nông hộ tại
phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung vào nghiên cứu một số nội dung chính
Kết quả đạt được:
Sau một thời gian nghiên cứu đề tài tại phường Hương Chữ tôi đã đạt được
những kết quả sau:
-
Cơ bản đánh giá được hiệu quả sản xuất lạc trên địa bàn phường.
Hiểu được những khó khăn cũng như nhu cầu của người dân trong việc đẩy mạnh sản
xuất lạc.
Đưa ra các giải pháp góp phần để phát triển sản xuất lạc trong thời gian tới
Thấy được rằng sản xuất lạc thực sự hiệu quả và phù hợp với điều kiện kinh tế của địa
phương.
Huế, ngày … tháng … năm 2016
Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Th.S Đinh Thị Kim Oanh
Nguyễn Thị Thao
6
PHẦN 1:
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Lạc là một loại cây công nghiệp ngắn ngày, là cây có nhiều giá trị dinh dưỡng
cao và được người dân ở nước ta cũng như trên thế giới sản xuất để phục vụ cho nhu
cầu về thực phẩm cũng như sản xuất để thu lợi nhuận, cải thiện đời sống. Là một cây
7
Xuất phát từ những lí do trên, em đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả
kinh tế của hoạt động sản xuất lạc tại phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh
Thừa Thiên Huế”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
a. Tìm hiểu hiện trạng sản xuất lạc tại phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà,
tỉnh Thừa Thiên Huế
b. Đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế của việc trồng lạc tại nông hộ phường
Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
c. Xác định các thuận lợi, khó khăn trong việc trồng lạc của các nông hộ tại
phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
8
PHẦN 2:
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Lí luận về hiệu quả kinh tế
a. Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của hoạt động kinh
tế, là thước đo, cơ sở động lực của hoạt động sản xuất. Nó phản ánh trình độ khai thác
các yếu tố đầu tư, các nguồn lực tự nhiên và các phương thức quản lý. Nâng cao chất
lượng của hoạt động kinh tế, tăng cường sử dụng các nguồn lực xã hội do nhu cầu vật
chất cuộc sống của con người ngày càng tăng. [3]
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế, trong đó sản xuất phải đạt cả hiệu quả kỹ
thuật và hiệu quả phân phối. Có nghĩa là yếu tố hiện vật và giá trị đều đóng vai trò rất
quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế.
Việc xác định hiệu quả kinh tế tuân theo những nguyên tắc sau:
Nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu và tiêu chuẩn hiệu quả, tiêu chuẩn hiệu
quả được xác định ra trên cơ sở mục tiêu.
Phân tích hiệu quả của 1 phương án nào đó luôn luôn dựa trên các mục tiêu cần
đạt được. Phương án có hiệu quả nhất khi nó đóng góp nhiều nhất cho việc thực hiện
các mục tiêu đặt ra với chi phí thấp nhất. [3], [5]
Với quan điểm tổng quát thì các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế lựa chọn để nghiên
cứu chủ yếu được trình bày dưới một số dạng cơ bản sau đây:
Dạng thuận:
H=Q/C
(1)
Trong đó:
H: là hiệu quả
Q: là lượng kết quả đạt được
C: chi phí hoặc các yếu tố đầu vào
Công thức (1) nói lên: một đơn vị chi phí sẽ tạo ra được bao nhiêu đơn vị hiệu quả
Dạng nghịch:
H=C/Q
(2)
Trong đó:
H: là hiệu quả
Q: là lượng kết quả đạt được
C: chi phí hoặc các yếu tố đầu vào
Công thức (2) nói lên: để đạt được một đơn vị kết quả thì cần tiêu tốn bao nhiêu
định giá các yếu tố đầu vào cho việc phân phối sản phẩm và thu nhập. [3], [5]
c. Ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả kinh tế
Việc đánh giá hiệu quả kinh tế giúp cho các doanh nghiệp và người sản xuất thấy
rõ kết quả đầu tư của mình. Việc đầu tư các chi phí đầu vào sẽ được so sánh với kết
quả thu được sau 1 chu kì sản xuất. Từ đó giúp người sản xuất thấy được hiệu quả của
hoạt động đầu tư và đó cũng là cơ sở để quyết định lượng cung ứng các yếu tố đầu vào
và giải quyết tốt đầu ra, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, sử dụng triệt để
nguồn nhân lực, vật lực của từng vùng trong nông nghiệp, giúp khai thác tốt tiềm năng
đất đai tạo nhiều sản phẩm cho xã hội.
Từ việc đánh giá hiệu quả kinh tế, doanh nghiệp cũng như người sản xuất sẽ thấy
được thế mạnh và điểm yếu của mình, biết được khâu nào đã làm tốt, khâu nào làm
chưa tốt và đâu là nguyên nhân của những kết quả đó. Trên cơ sở đó, đề ra những biện
pháp phù hợp khắc phục hạn chế, phát huy các thế mạnh.
Trong sản xuất nông nghiệp, đối tượng sản xuất chính là cây con với những đặc
tính sinh học riêng. Vì vậy, đánh giá chính xác hiệu quả trong sản xuất là cơ sở để
người sản xuất lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp, có chế độ chăm sóc hợp lí, tạo
điều kiện để nâng cao đời sống của người dân, khai thác triệt để tiềm năng kinh tế xã
hội của vùng. Như vậy có thể nói, đánh giá hiệu quả kinh tế là việc làm cần thiết phải
tiến hành thường xuyên và có 1 vị trí hết sức quan trọng cho sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp cũng như đối với hộ sản xuất. [3]
d. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
Hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh là 1 bộ phận của hiệu quả kinh tế xã
hội về mặt vật chất. Tuy nhiên, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế của sản xuất
kinh doanh nói chung và sản xuất lạc nói riêng đều không thống nhất bởi hệ thống
hiệu quả kinh tế của cây lạc nên chỉ sử dụng 1 số chỉ tiêu sau:
*Nhóm chỉ tiêu phản ánh đặc điểm chung của các nông hộ điều tra. Bao gồm:
11
trình độ văn hóa, tuổi, nghề nghiệp.
ánh về lượng, cho biết cứ một đơn vị chi phí trung gian bỏ ra thì thu được bao nhiêu
đơn vị giá trị gia tăng.
Giá trị gia tăng/lao động (VA/LĐ): là chỉ tiêu phản ánh thu nhập tăng thêm cho
một lao động
2.1.2. Tổng quan về cây lạc
a. Nguồn gốc của cây lạc
Lạc (tên khác: Đậu phộng, đậu phụng; danh pháp khoa học: Arachis hypogaea),
là một loài cây thực phẩm thuộc họ Đậu có nguồn gốc tại Trung và Nam Mỹ. Nó là
loài cây thân thảo hàng năm tăng có thể cao từ 30–50 cm. Lá mọc đối, kép hình lông
chim với bốn lá chét, kích thước lá chét dài 1–7 cm và rộng 1–3 cm. Hoa dạng hoa đậu
12
điển hình màu vàng có điểm gân đỏ, cuống hoa dài 2–4 cm. Sau khi thụ phấn, quả phát
triển thành một dạng quả đậu dài 3–7 cm, chứa 1-4 hạt (ánh), và quả (củ) thường dấu
xuống đất để phát triển.
Hạt lạc là loại thực phẩm rất giàu năng lượng vì có chứa nhiều lipit.
Cây lạc có nguồn gốc lịch sử ở Nam Mỹ. Vào thời kỳ phát hiện Châu Mỹ, cùng
vói sự thâm nhập của Châu Âu vào lục địa mới, người ta mới biết cây lạc.
Nguồn gốc cây lạc ở Nam Mỹ được khẳng định khi SKiê (E.G.1877) tìm thấy lạc
trong ngôi mộ cổ An Côn ở bờ biển gần LiMa, thủ đô PêRu. Người ta đã phát hiện ở
đây nhiều ngôi mộ có chứa những xác ướp đặt ngồi, xung quanh là những vại bằng đất
nung đựng nhiều loại thực phẩm khác nhau, còn được bảo vệ tốt. Trong đó có nhiều
vại dựng quả lạc. Những mẫu vật về lạc phát hiện ở AnCôn có liên quan với văn hoá
trước AnCôn được xác định vào khoảng 750-500 năm trước công nguyên. Theo tài
liệu của Engen thì lạc tìm thấy ở (Las Haldas) thuộc thời kỳ trước đồ gốm cách đây
khoảng 3800 năm. [6]
b. Vai trò của cây lạc
Giá trị của cây lạc
Vai trò cải tạo đất và xen canh trong hệ thống canh tác đa canh
Giá trị cải tạo đất của lạc ngoài phần thân lá, trên rễ lạc còn có vi khuẩn cộng
sinh có khả năng cố định đạm tự do thành dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng. Kết quả
nghiên cứu cho thấy lượng đạm để lại trên 1 ha có thể đạt từ 70 - 110 kg/ha/vụ. Chính
nhờ khả năng cố định đạm mà lượng protein trong hạt, trong các bộ phận khác của cây
lạc cao hơn nhiều các cây trồng khác.
Lạc là một loài cây họ đậu, có nhu cầu đối với các chất dinh dưỡng không thuộc
loại cao lắm, bên cạnh đó lạc có khả năng sử dụng được đạm do vi sinh vật cố định từ
không khí, nhờ vi sinh vật này sống cộng sinh trong nốt sần ở rễ cây họ đậu.Cây lạc có
khả năng cố định được 72 - 124 kgN/ha, dưới tác động hóa học, sinh học N phân tử
được chuyển thành đạm vô cơ được cây trồng sử dụng.
Mặc khác người ta còn dùng thân, lá lạc làm phân bón để cải tạo đất bởi vì trong
đó có tỉ lệ một số chất dinh dưỡng cao.
So sánh với phân chuồng tính theo chất khô thì tỉ lệ lân và kali trong thân lá lạc
xấp xỉ ngang phân chuồng, riêng đạm của thân lá lạc bằng 2 lần phân chuồng. Mỗi ha
lạc cho khối lượng trung bình từ 8-10 tấn có khi đến 15-20 tấn thân lá tươi. Hiện nay,
hầu hết các vùng trồng lạc đều sử dụng thân, lá lạc làm phân bón cho lúa, hoa màu.
Mỗi ha thân, lá lạc đủ bón cho 2 – 3 ha lúa và năng suất tăng rõ rệt.
Vì vậy người ta thường trồng lạc luân canh với cây khác, xen canh giữa các cây
như sắn, ngô để cải tạo đất, chống xói mòn và tăng độ phì nhiêu cho đất.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Tình hình sản xuất lạc trên thế giới trong 3 năm (2008-2010) được thể hiện ở
bảng 2.1 như sau:
14
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc trên thế giới (2008 – 2010)
4,62 4,40 3,55
2,30 2,64 2,64
0,95 0,95 1,15
0,18 0,29 0,30
0,65 0,84 0,87
0,63 0,62 0,62
0,30 0,30 0,30
0,60 0,44 0,51
0,25 0,25 0,23
24,59 23,91 24,01
Năng suất (tấn/ha) Sản lượng(triệu tấn)
2008 2009 2010 2008 2009 2010
1,071 1,007 1,144 7,33 5,51 5,64
3,102 3,35 3,454 14,34 14,76 15,71
1,695 1,126 1,000 3,90 2,97 2,64
0,750 0,996 0,662 0,71 0,94 0,76
0,333 0,383 0,388 0,60 0,11 0,12
1,538 1,622 1,548 1,00 1,36 1,34
1,216 1,249 1,256 0,77 0,78 0,78
0,533 1,523 1,533 0,16 0,46 0,46
3,828 3,835 3,712 2,33 1,67 1,89
2,085 2,107 2,100 0,53 0,53 0,49
1,553 1,529 1,523 38,20 36,57 36,57
(Nguồn: Luận án tiến sĩ nông nghiệp của tác giả Hồ Khắc Minh)
Diện tích trồng lạc năm 2010 trên thế giới đạt 24,01 triệu ha, có trên 112 nước
trồng lạc.
Các nước có diện tích lớn gồm 10 nước, trong đó Ấn Độ có diện tích lớn nhất đạt
4.930.0006 ha, Trung Quốc đạt 3.550.000 ha, Ni-giê-ria đạt 2.640.000 ha. Diện tích
suất đạt 1,45 tấn/ha, nhưng đến năm 2005 diện tích đạt 269.600 ha, năng suất đạt 1,82
tấn/ha đưa cây lạc đứng vào tốp 10 mặt hàng nông sản xuất khẩu, đạt kim ngạch xuất
khẩu thu 30 - 50 triệu USD/năm.
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở Việt Nam (2009 – 2013)
Đơn vị
Diện tích(ha)
Năng suất(tấn/ha)
Sản lượng(tấn)
Năm
2009
2010
2011
2012
2013
245000
231400
223800
219200
216300
diện tích trồng lạc lớn là Nghệ An (23.675 ha), Tây Ninh (21.400 ha), Hà Tĩnh (20.325
ha), Thanh Hóa (16.175 ha), Bắc Giang (10.900 ha), Quảng Nam (10.225 ha), Đắk Lắk
(9.425 ha), Bình Định (8.400 ha), Đắk Nông (8.125 ha) và Long An (7.500 ha).
Tuy nhiên, trong giai đoạn này sản lượng vẫn tiếp tục có xu hướng tăng lên. Sản
lượng lạc giữa các tỉnh thành trong cả nước có sự chênh lệch đáng kể. Sản lượng bình
quân giai đoạn 2009 – 2013 của tỉnh Vĩnh Phúc là 6,2 nghìn tấn đạt thấp nhất và của
Nghệ An là 44,5 nghìn tấn đạt cao nhất. Các tỉnh có sản lượng lạc cao năm 2013 là
Nghệ An (44,5 nghìn tấn), Hà Tĩnh (40,8 nghìn tấn), Bình Định (30 nghìn tấn), Bắc
Giang (28,8 nghìn tấn), Thanh Hóa (27,6 nghìn tấn), Nam Định (25 nghìn tấn), Long
An (23,8 nghìn tấn), Tây Ninh (23,2 nghìn tấn), Trà Vinh (23,3 nghìn tấn) và Quảng
Nam (21,4 nghìn tấn). [11]
16
2.2.3. Tình hình sản xuất lạc trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Diện tích và sản lượng lạc của tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2010-2014 được thể
hiện qua bảng sau:
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất lạc ở Thừa Thiên Huế (2010 – 2014)
Năm
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
2010
4033
8732
2010-2014. Nguyên nhân là do giá mua các đầu vào thì cao mà đầu ra thì lại giảm.
Nên một số vùng đã chuyển sang trồng các cây trồng khác.
Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, hầu hết các huyện, thị xã đều trồng lạc với diện
tích lớn. Chỉ riêng 2 huyện miền núi là Nam Đông và A Lưới trồng với diện tích nhỏ.
Diện tích và sản lượng lạc của các huyện, thị xã của tỉnh Thừa Thiên Huế được
thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.4. Diện tích, năng suất bình quân của các huyện, thị xã của tỉnh Thừa
Thiên Huế giai đoạn (2010 – 2014)
ST
T
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Huyện, thị xã
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Phong Điền
Hương Trà
Quảng Điền
Theo số liệu thống kê của cục thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế, huyện Phong Điền
có diện tích trồng lạc lớn nhất: 1284,4 ha, tiếp đó là thị xã Hương Trà với 994 ha,
Quảng Điền: 540,6 ha, Phú Vang: 399,4 ha, Phú Lộc: 267 ha, Hương Thủy: 116 ha.
Vì diện tích khác nhau, nên năng suất giữa các huyện, thị xã cũng khác xa
nhau. Phong Điền có sản lượng lớn nhất: 2527,2 tấn, tiếp đó là thị xã Hương Trà:
2285,4 tấn, Quảng Điền: 1090,8 tấn, Phú Vang: 849,6 tấn, Phú Lộc: 441,8 tấn,
Hương Thủy: 256,8 tấn
Còn hai huyện Nam Đông và A Lưới có diện tích và sản lượng không đáng kể
18
PHẦN 3:
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu
Tổng quan địa bàn nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên gồm: Vị trí địa lý, địa hình đất đai, khí hậu thời tiết, chế độ
thủy văn
- Điều kiện kinh tế - xã hội gồm: Tình hình dân số và lao động, tình hình sử dụng
đất đai, tình hình cơ sở hạ tầng và cơ cấu kinh tế.
-Thực trạng sản xuất các loại cây trồng tại phường Hương Chữ: diện tích, năng
suất của các loại cây trồng của phường giai đoạn 2013-2015
Về thực trạng sản xuất lạc
-Cơ cấu giống lạc
-Diện tích, năng suất, sản lượng lạc giai đoạn 2013-2015
Thực trạng sản xuất lạc tại các hộ điều tra
Tiêu chí chọn mẫu: Những hộ được chọn thuộc những hộ trực tiếp tham gia sản
xuất lạc trên địa bàn.
Cách chọn mẫu: Dựa vào danh sách trồng lạc của 2 thôn này. Chọn ra 60 hộ để
tiến hành thu thập thông tin theo quy trình xác suất thống kê ngẫu nhiên có hệ thống
(cách một hộ chọn một hộ). Để đánh giá một cách khách quan hơn, đảm bảo số liệu
không bị nghiêng lệch, chọn cơ cấu nhóm hộ điều tra gồm hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ
khá. Tỉ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ khá của phường lần lượt là 4,69%; 7,14% và
88,17%. Dựa theo tỉ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo của phường để chọn ra tỉ lệ giữa các
nhóm điều tra. Lấy tỉ lệ hộ nghèo của phường nhân với dung lượng mẫu để lấy ra số
hộ nghèo. Làm tương với hộ cận nghèo và còn lại là hộ khá. Nên ta được hộ nghèo: 3
hộ, hộ cận nghèo: 4 hộ và hộ khá là 53 hộ.
Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập thông tin thứ cấp
+ Cấp phường (xã): Thu thập từ báo cáo kinh tế- xã hội của phường (xã) qua các
năm 2013, 2014, 2015. Các báo cáo về tình hình đất đai, đất sản xuất nông nghiệp, vị
trí địa lý, địa hình, tài nguyên, dân số, lao động, cơ sở hạ tầng, tình hình kinh tế- chính
trị…Các thống kê về tình hình sản xuất lạc của phường (xã), các dự án, các báo cáo
nghiên cứu có liên quan đến cây lạc
+ Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê
+ Cục thống kê Thừa Thiên Huế, niên giám thống kê Thừa Thiên Huế
+ Tài liệu từ internet, sách báo…
-Thu thập thông tin sơ cấp
+ Phỏng vấn hộ: dựa trên bảng hỏi để phỏng vấn trực tiếp 60 hộ dân trồng lạc
Nội dung phỏng vấn: phỏng vấn vế diện tích, năng suất, sản lượng, các loại chi
phí cho sản xuất lạc, những thuận lợi và khó khăn trong việc trồng lạc, giá lạc qua các
năm, định hướng phát triển trong thời gian tới…
20
4.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu
4.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của phường Hương Chữ
a. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Phường Hương Chữ thuộc thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở vị trí
phía Nam của thị xã, cách trung tâm thị xã từ 8-9 km và tiếp giáp với thành phố Huế.
Nằm ở nút giao thông quan trọng Quốc lộ 1A và đường tránh Tây Nam thành phố
Huế, có tuyến đường liên Hương Chữ, Hương An, nối đường Tây Nam và tỉnh lộ 12B.
+ Phía đông giáp với phường Hương An, phường An Hòa (TP Huế)
+ Phía tây giáp với phường Hương Xuân
+ Phía nam giáp với phường Hương Hồ và xã Hương Bình
+ Phía bắc tiếp giáp với xã Hương Toàn
Tổng diện tích đất tự nhiên của phường là 1552,2 ha, tỷ lệ so với thị xã Hương
Trà là 3,04%.
Địa hình của phường là đồi núi và đồng bằng thấp từ Tây Nam về Đông Bắc tạo
thành hai vùng rõ rệt, vùng đồi núi khá cao và đồng bằng bằng phẳng trải rộng từ chân
núi về tiếp giáp với xã Hương Toàn và phường Hương Xuân, hình thành hai vùng sản
xuất lúa, cây công nghiệp ngắn ngày và rau màu rõ rệt.
Tóm lại, phường Hương Chữ có vị trí địa lý thuận lợi, địa hình đa dạng có điều
kiện cho phát triển sản xuất nông lâm ngư nghiệp trong đó có cây lạc cũng như giao
lưu văn hóa xã hội, chuyển giao khoa học kỹ thuật và trong tương lai đây là cầu nối
giữa thị xã Hương Trà và thành phố Huế.
-
Địa hình, đất đai
Hương Chữ là một phường vùng đồng bằng và bán sơn địa thuộc thị xã Hương
Trà, được phân thành 7 thôn. Địa hình mang đặc thù của vùng Duyên hải miền Trung,
dốc và thấp từ Tây Nam về Đông Bắc tạo thành hai vùng rõ rệt, vùng đồi núi khá cao,
độ cao bình quân 100 m và đồng bằng bằng phẳng (độ cao bình quân 2,5 m so với mặt
nước biển).
Chế độ thủy văn
Phường Hương Chữ là phường có điều kiện thủy văn và thủy lợi rất tốt. Tuy trên
địa bàn phường không có sông lớn nhưng phường có chịu ảnh hưởng của sông Hương,
sông Bồ, có hồ chứa nước Thọ Sơn phục vụ cho 110 ha lúa của HTX Phú An, đập đón
phục vụ tưới cho 20 ha ở vùng ruộng phân La Lã, kênh Chọ Rọ. Ngoài ra, phường còn
có các ao hồ chứa nước khá lớn như Bàu Sen, Bàu Tằm là nguồn cung cấp nước cho
sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, góp phần điều tiết khí hậu của vùng.
Hơn thế, phường còn có 13 trạm bơm trong đó có 7 trạm bơm điện, 6 trạm bơm
dầu và 1 số hệ thống cấp 1 kênh mương nội đồng, hiện nay đã được bê tông hóa 30%.
Nhìn chung, hệ thống thủy lợi phục vụ được 100% nhu cầu tưới tiêu của phường, tạo
được sự an tâm cho nông dân trong việc tưới tiêu nước ở vùng canh tác.
b. Điều kiện kinh tế-xã hội
- Tình hình dân số và lao động
Dân số và lao động là một trong những yếu tố quyết định đến quá trình sản xuất.
Đó vừa là mục tiêu vừa là động lực của mọi sự phát triển. Lao động kết hợp với các
yếu tố vật chất khác như trang thiết bị, đất đai… để tạo ra của cải vật chất và là nền
tảng vững chắc cho sự phát triển phồn vinh của xã hội. Đánh giá tình hình dân số và
lao động của địa phương sẽ giúp ta nắm rõ nguồn nhân lực đồng thời đó cũng là thị
trường tiêu thụ rộng lớn cho những của cải vật chất tạo ra.
Qua bảng số liệu 4.1 cho ta thấy tổng số hộ và tổng số nhân khẩu có sự tăng lên
qua các năm. Số nhân khẩu tăng lên chủ yếu do sinh đẻ và số hộ tăng do tách ra từ các
hộ lớn. So với năm 2013 thì trong năm 2014 số hộ đã tăng lên 97 hộ tương ứng với
4,17 % vì số khẩu tăng lên 100 khẩu tương ứng với 0,99%.
23
Bảng 4.1. Tình hình nhân khẩu và số lao động phường Hương Chữ từ năm 2013-2015
2013
Chỉ tiêu
+/_
%
+/_
%
Khẩu
9950
100
10015
100
10115
100
65
0,65
100
0,99
75,26
1734
74,55
1788
73,79
36
2,12
54
3,11
+ Hộ phi NN
Hộ
558
24,74
592
25,45
2,05
144
2,20
+ LĐ NN
LĐ
4362
66,67
4450
66,65
4570
64,27
88
2,02
120
2,69
-
4,31
-
4,17
-
-0,14
-2,27
0,1
2,32
5. BQLĐ/hộ
LĐ/hộ
2,79
-
2,87
-
Nhìn chung cơ cấu lao động đang dần chuyển dịch theo hường tích cực, giải
quyết được tình trạng thiếu lao động nông nghiệp lúc mùa vụ ở địa phương, góp phần
cải thiện thu nhập và đời sống cho nông hộ. Tuy nhiên do sự gia tăng dân số qua các
năm nên mật độ dân số cũng có xu hướng tăng. Lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn
và sự hạn chế về diện tích đất đai là nhân tố cản trở đối với tích tụ và tập trung đất
nông nghiệp. Do đó để nâng cao khả năng sản xuất của hộ, các biện pháp hạn chế gia
tăng dân số là cần thiết, đồng thời tập trung phát triển các ngành nghề khác để cải
thiện thu nhập cho hộ sản xuất cả trong và ngoài nông nghiệp.
-
Tình hình sử dụng đất đai
Đối với sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng và
không thể thay thế được. Nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động và có
tính chất giới hạn theo bề mặt không gian. Quy mô và trình độ sử dụng nguồn lực này
có ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập từ sản xuất nông nghiệp. Làm thế nào để khai thác
và sử dụng tài nguyên đất hợp lý và hiệu quả là vấn đề không dễ đối với người dân sản
xuất. Nhìn chung trong thời gian qua công tác quản lý và sử dụng đất của phường
tương đối tốt, để thấy được rõ hơn tình hình đất đai ở địa phương ta xem xét bảng số
liệu sau:
25