Quản lý đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội ở xãphường từ thực tiễn tỉnh long an - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOA THANH NIÊN

QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CỘNG TÁC VIÊN CÔNG TÁC
XÃ HỘI Ở XÃ/PHƢỜNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. BÙI ANH THỦY

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội ở
xã/phường từ thực tiễn tỉnh Long An” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi. Các
số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực, được trích từ các
nguồn công khai, hợp pháp, không sao chép từ bất kỳ công trình nào khác.


LỜI CẢM ƠN
CTXH là một nghề mới. Tôi công tác trên lĩnh vực này gần 27 năm (năm
1989 đến nay) nhưng không biết mình làm cái nghề của một nhân viên xã hội. Đến
khi được học tập bài bản thì thời gian cống hiến không nhiều.

1.5. Chính sách, pháp luật liên quan quản lý đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội
ở xã/phường ...........................................................................................................28
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CỘNG TÁC VIÊN CÔNG
TÁC XÃ HỘI Ở XÃ/PHƢỜNG Ở TỈNH LONG AN .......................................... 30
2.1. Khái quát về các điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội, công tác xã hội ở tỉnh
Long An .................................................................................................................30
2.2. Thực trạng đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội ở xã/phường ở tỉnh Long
An...........................................................................................................................37
2.3. Thực trạng quản lý đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội ở xã/phường ở tỉnh
Long An .................................................................................................................48
2.4. Đánh giá chung về thực trạng .........................................................................50
Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM QUẢN LÝ HIỆU QUẢ ĐỘI NGŨ
CỘNG TÁC VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI Ở XÃ/PHƢỜNG/THỊ TRẤN ......... 53
3.1. Các giải pháp chung nâng cao hiệu quả quản lý cộng tác viên công tác xã hội
ở xã/phường/thị trấn...............................................................................................53
3.2. Một số giải pháp cụ thể về quản lý đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội ở
xã/phường/thị trấn ..................................................................................................56
3.3. Mối quan hệ giữa các giải pháp ......................................................................66
3.4. Thăm dò tính cần thiết và khả thi các giải pháp .............................................67
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 73
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH

An sinh xã hội


Chính sách xã hội

DS-KHHGĐ

Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

GD-ĐT

Giáo dục – Đào tạo

KT-XH

Kinh tế - Xã hội

LĐTBXH

Lao động - Thương binh và Xã hội

NTM

Nông thôn mới

NCC

Người có công

NVXH

Nhân viên xã hội


Bảng 2.5. Thống kê về đào tạo, bồi dưỡng, tự học tập nâng cao trình độ của đội
ngũ CTV CTXH ở xã/phường từ năm 2013 đến năm 2015 ...............................47
Bảng 3.1. Kết quả đánh giá mức độ cần thiết và khả thi của các giải pháp đề
xuất .....................................................................................................................68

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Sơ đồ quản lý đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường theo phương pháp
quản lý ngành kết hợp quản lý lãnh thổ .............................................................15
Sơ đồ 2: Chu trình quản lý đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường ..........................18
Sơ đồ 3: Mối quan hệ giữa các giải pháp cụ thể quản lý đội ngũ CTV CTXH ở
xã/phường/thị trấn ..............................................................................................67


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay ở Việt Nam, CTXH là một nghề được pháp luật công nhận, có vị trí
ngày càng quan trọng trong mục tiêu và chiến lược phát triển KT-XH của đất nước.
CTXH góp phần giải quyết công bằng và sự tiến bộ của xã hội.
Nền tảng triết lý CTXH coi trọng, đề cao phẩm giá con người, xác định thế
mạnh và quyền tự quyết khi giải quyết các vấn đề của thân chủ trong quá trình phát
triển cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng. Việc thực hành CTXH được thông qua
NVXH cung cấp các dịch vụ cần thiết, giúp đối tượng vượt qua tình trạng trở ngại
hiện tại để vươn lên.
Một trong những nội dung quan trọng của Đề án phát triển nghề CTXH tại
Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020, được ban hành theo Quyết định số 32/QĐ-TTg
ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là Đề án 32), chính là xây dựng
mạng lưới CTV CTXH, trong đó bố trí đội ngũ CTV CTXH ở mỗi xã/phường/thị
trấn 1-2 người, hoạt động có tính chất chuyên trách, hướng đến cung cấp các dịch
vụ xã hội, đáp ứng các nhu cầu của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng, khác với
đội ngũ CTV DS, GĐ và TE trên địa bàn.

Tác giả lý giải sứ mệnh chính của CTXH như việc tăng cường thúc đẩy chức
năng xã hội và quá trình tự quyết của thân chủ. Cách hiểu này làm nền tảng cho các
hoạt động thực hành CTXH, bao gồm: CTXH là hoạt động đáp ứng những yêu cầu
của thân chủ; là hoạt động chuyên môn phát triển liên tục; là một hình thức tổng
hợp sáng tạo trong việc sử dụng kiến thức, giá trị và các kỹ năng; một tiến trình giải
quyết vấn đề và được xem như một hoạt động can thiệp vào tương tác xã hội của
con người.
Trong đó bài viết, tác giả Trần Văn Kham đề cập đậm nét vai trò của cán sự
xã hội, giúp thân chủ hướng đến các mục tiêu cụ thể. Cán sự xã hội cũng cần sẵn
sàng thừa nhận trách nhiệm khi tham gia hoạt động CTXH. Cán sự xã hội có xu
hướng là phối hợp các nguồn lực với các nhu cầu. Xem xét, đánh giá được những
khía cạnh này, đòi hỏi phải đi sâu vào nhìn nhận những nhu cầu cụ thể và nguồn lực
nào của mỗi người phù hợp với các nhu cầu xã hội của người đó.
Tác giả còn nêu ra vai trò của cán sự xã hội thể hiện ở 11 khía cạnh – cũng là

2


nhiệm vụ của một nhân viên CTXH chuyên nghiệp. Tuy nhiên, tác giả chưa nêu rõ
phương pháp đánh giá hiệu quả thực hiện của tiến trình này. Điều đó rất cần cho
công tác quản lý hoạt động của cán sự xã hội (nhân viên xã hội) hay cho đội ngũ
CTV CTXH ở xã/phường.
“Môi trường làm việc là điều kiện để CBCC phát huy khả năng công tác”
của tác giả Lý Thị Kim Bình – Học Viện hành chính/ Tạp chí Tổ chức Nhà nước.
Nghiên cứu cho thấy, môi trường làm việc là một khái niệm rộng, bao gồm
tất cả những gì có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và sự phát triển,
nâng cao năng lực công tác của mỗi cá nhân CBCC, bao gồm môi trường bên trong
và môi trường bên ngoài.
Theo tác giả Lý Thị Kim Bình, môi trường bên trong, bao gồm cơ sở vật
chất, tinh thần, chế độ chính sách, mối quan hệ giữa lãnh đạo với nhân viên, giữa

Cho tới thời điểm nghiên cứu, đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường mới chỉ
được hình thành (theo đề án 32 do đề xuất của Bộ LĐTBXH trình Chính phủ chấp
thuận), chưa có hình mẫu và các chính sách liên quan đến đội ngũ này cũng chưa
định hình. Do vậy, chưa có công trình nghiên cứu tương tự được công bố. Nguồn tư
liệu tham khảo rất khan hiếm. Đây cũng là trở ngại cần khắc phục trong quá trình
thực hiện đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn tại tỉnh Long An, luận văn đề xuất
một số giải pháp cần thực hiện nhằm củng cố, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
động của đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường/thị trấn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, luận văn cần tập trung vào những
vấn đề sau:
- Tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ CTV CTXH ở
xã/phường.
- Đi sâu tìm hiểu đánh giá thực trạng CTXH, đội ngũ CTV CTXH và công
tác quản lý đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường.
- Dựa trên cơ sở phân tích đánh giá, tìm hiểu thực trạng, các yếu tố ảnh
hưởng để đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý đội ngũ CTV

4


CTXH ở xã/phường/thị trấn ở tỉnh Long An.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng quản lý đội ngũ CTV
CTXH ở xã/phường ở tỉnh Long An.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu về đối tượng: Tập trung
nghiên cứu nguyên tắc, phương pháp, nội dung quản lý, hoạt động CTXH (hoạt

Phương pháp điều tra, khảo sát: Đây là một trong những phương pháp của
nghiên cứu kinh nghiệm cho việc thiết lập những vấn đề mới, kiểm tra các lý thuyết,
giả thuyết đã có, đối chiếu các kết quả nhận được trong quá trình nghiên cứu, từ đó
xác lập tính đúng đắn của các kết quả nghiên cứu. Phương pháp này thực hiện bằng
các phiếu điều tra đối với 15 đại diện lãnh đạo các phòng Lao động-TBXH các
huyện, thị xã, thành phố; 152 CTV CTXH ở xã/phường. Phiếu được thiết kế theo
các tiêu chí về nghiệp vụ quản lý để từ đó đi sâu phân tích, đánh giá được thực trạng
công tác quản lý đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường và khả năng phát triển trong thời
gian tới.
Phương pháp chuyên gia: Thu thập ý kiến các chuyên gia (các nhà lãnh đạo,
quản lý) trong lĩnh vực tổ chức, cán bộ và CTXH trên địa bàn để có những thông tin
nhận xét, đánh giá về chất lượng hoạt động của đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường.
Phương pháp hệ thống hóa: Thông qua các báo cáo của ngành LĐTBXH qua
các năm, từ đó hệ thống hóa những bài học kinh nghiệm trong quản lý đội ngũ CTV
CTXH ở xã/phường.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Thông tin thu thập được từ luận văn này sẽ bổ sung vào hệ thống cơ sở dữ
liệu để có cơ sở phân tích lý luận về quản lý đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường. Đây
còn là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tương tự sau này.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Qua kết quả nghiên cứu, với mong muốn cung cấp thông tin về thực trạng
quản lý đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường, đề xuất một số giải pháp chung, một số
giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ và bản thân những
người làm công tác này, cũng nhận thức rõ ràng hơn về ý nghĩa và lợi ích của công
việc, mang lại giá trị cho cuộc sống.

6



CTXH có mặt trong hầu hết các lĩnh vực trong đời sống của người dân từ giáo dục,
y tế đến tư pháp, hành pháp nhằm đảm bảo quyền lợi các người dân.
Ở Việt Nam, quá trình phát triển của CTXH như một ngành chuyên môn lại
từ một quá trình tự phát, vì cơ quan có thẩm quyền liên quan lúc đầu không có khái
niệm coi CTXH như những ngành khoa học khác, cho đến khi nó xuất phát từ nhu
cầu bức bách của đời sống, với những vấn đề xã hội nảy sinh ngày càng nhiều, cùng
với sự xuất hiện các hoạt động tự giác của những nhóm tác nghiệp về CTXH. Tại
miền Bắc Việt Nam, trước ngày Hòa bình lập lại năm 1954, Hội Hồng thập tự Pháp
đã tiến hành một số khóa tập huấn về CTXH cho các nhân viên Y tế đang làm tại
bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) một thời gian thì chấm dứt. Đến năm 1947, tại miền
Nam Việt Nam, với sự giúp đỡ của Hội Hồng thập tự Pháp và Đại sứ quán cộng hòa
Pháp tại Sài Gòn, trường Cán sự xã hội Caritas mới được thành lập do dòng Nữ tử
Bác ái Vinh Sơn đảm trách, đào tạo cán sự xã hội và nhân viên y tế, thời gian học 3
năm. Một bước tiến nữa, đến năm 1969, Trường CTXH Quốc gia, thuộc Bộ Xã hội
(chính quyền Sài Gòn bấy giờ) được thành lập, chương trình học 2 năm, nhắm đến
mục tiêu đào tạo 2 chức danh: Giảng viên và Kiểm huấn viên CTXH [25, tr.17, 18].
Sau 30/4/1975, ví nhiều lí do, cả hai trường nêu trên đều ngưng hoạt động.
Từ đó CTXH mang tính chuyên nghiệp và việc đào tạo nhân viên trong lĩnh vực này

8


bị gián đoạn một thời gian dài trong đời sống xã hội Việt Nam [25, tr.18]. Song vẫn
còn một nhóm các nhà khoa học tâm huyết đã cố gắng duy trì ngành học này tại một
vài cơ sở đào tạo ở TP.HCM. Đến năm 1992, Bộ môn CTXH mới được thành lập
trở lại tại Khoa Phụ nữ học thuộc trường Đại học Mở- Bán công TP.HCM, CTXH
được giảng dạy với đầy đủ các tiết về lý thuyết và thực hành, sau tốt nghiệp sinh
viên có thể trở thành một nhân viên CTXH chuyên nghiệp. Một số tổ chức như các
tổ chức tôn giáo, Hội Liên hiệp Phụ nữ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và một
số Sở ban ngành như UBDSGĐ và TE, Hội chữ thập đỏ...gửi người đi học các khóa

Đây là những dấu mốc quan trọng trong việc thành hình và xây dựng một
nghề mới ở đất nước ta, trong đó có sự nỗ lực lớn của Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ
LĐTBXH, Bộ Nội vụ và các tổ chức trong nước và quốc tế.
Nhiều công trình khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau của nghề
CTXH, nhưng việc đề cập đến việc quản lý đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường thì
chưa có đề tài nào đề cập đến.
1.2. Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu quản lý đội ngũ cộng tác viên công
tác xã hội ở xã/phƣờng
1.2.1. Một số khái niệm
Công tác xã hội. Theo tài liệu nghề CTXH – Nền tảng triết lý và kiến thức:
CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia
đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu và tăng cường chức năng xã
hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ
nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã
hội, góp phần đảm bảo ASXH [16, tr.3]
Ngoài ra còn có các khái niệm được đưa ra ở nhiều góc độ khác nhau:
Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): CTXH là hoạt động nghề
nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục
tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã
hội phù hợp với các mục tiêu của họ [16, tr.3].
Theo từ điển bách khoa ngành CTXH (1995) thì “CTXH là một khoa học
ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển
biến xã hội và đem lại nền ASXH cho người dân trong xã hội” [29]. CTXH tồn tại

10


để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia
đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống.
Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh (2004): cho rằng CTXH nhằm giúp cá nhân và

xã/phường thông qua phần mềm quản lý nhân viên, theo dõi, đánh giá hiệu quả của
công việc được phân công.
Như vậy, đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường là một lực lượng hoạt động trong
hệ thống bộ máy nhà nước ở cơ sở, có chức danh và vị trí công tác theo qui định của
Pháp luật, đặt dưới sự lãnh đạo của Cấp ủy, sự điều hành của UBND cấp xã. Làm
việc theo chế độ hợp đồng, dựa trên tiêu chuẩn nghiệp vụ qui định. Đối tượng phục
vụ của CTV CTXH ở xã/phường gồm: người cao tuổi, người khuyết tật, người tâm
thần và người rối nhiễu tâm trí, người nhiễm HIV/AIDS, người nghèo, trẻ em, nạn
nhân bị buôn bán, bị bạo lực gia đình và phân biệt đối xử về giới, đối tượng xã hội
cần được bảo vệ khẩn cấp, người nghiện ma túy, người bán dâm, cha mẹ, người
chăm sóc trẻ cần bảo vệ khẩn cấp, đối tượng khác có nhu cầu (gọi tắt là đối tượng).
1.2.2. Đặc điểm và nhu cầu của quản lý đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường
Đặc điểm
Đây là một lực lượng lao động được bố trí làm việc ở cấp xã, theo chế độ
hợp đồng, không xác định thời hạn, nhiệm vụ do chủ tịch UBND cấp xã phân công
(theo Thông tư số 07/2013/TT-BLĐTBXH ngày 24/5/2013 của Bộ LĐTBXH), có
nhiệm vụ giải quyết các vấn đề xã hội, trợ giúp nhóm đối tượng yếu thế ngay tại địa
bàn, góp phần đảm bảo ASXH.
Đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường là những người được đào tạo có kiến thức,
kỹ năng, là cầu nối giữa đối tượng với nguồn lực hỗ trợ của xã hội, có trách nhiện
kết nối với các ngành chức năng có liên quan ở địa phương đến đối tượng để giải
quyết nhu cầu của đối tượng một cách có hiệu quả tối đa. Đội ngũ CTV CTXH ở
xã/phường còn thực hiện một số nhiệm vụ do UBND cấp xã giao như thực hiện trợ
cấp xã hội, theo dõi, đánh giá tình trạng đối tượng cần trợ giúp, công việc khác.
Đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường là lực lượng tạo ra giá trị cuộc sống, thể
hiện vai trò luôn đi trước vấn đề, cung cấp dịch vụ xã hội, biện hộ vì quyền và lợi
ích của đối tượng, vận động và huy động nguồn lực, tuyên truyền, tư vấn, lập kế
hoạch và tổ chức trợ giúp trong quá trình thực hiện CTXH ở tại địa bàn.
Khác với đội ngũ CTV DS, GĐ và TE ở ấp, khu phố, có nhiệm vụ truyền


cầu người sử dụng dịch vụ, nhưng đồng thời cũng đáp ứng nhu cầu hoạt động
chuyên môn của đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường.

13


1.3. Nguyên tắc, phƣơng pháp và nội dung quản lý đội ngũ cộng tác viên
công tác xã hội ở xã/phƣờng
1.3.1. Nguyên tắc
Đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường là một bộ phận và là nguồn nhân lực quan
trọng làm việc tại UBND cấp xã, một mặt phải tuân thủ các nguyên tắc đặc trưng
trong khoa học quản lý nguồn nhân lực, mặt khác đây là nguồn nhân lực đặc biệt,
mang những đặc trưng riêng, do đó phải tuân thủ một số nguyên tắc có tính đặc thù
riêng. Điều 5 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định việc quản lý CBCC phải
tuân thủ 5 nguyên tắc sau đây: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
sự quản lý của Nhà nước; Kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ
tiêu biên chế; Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân
và phân công, phân cấp rõ ràng; Việc sử dụng, đánh giá, phân loại cán bộ, công
chức phải dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ; thực
hiện bình đẳng giới. Vì vậy, quản lý đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường cũng không
ngoại lệ của những nguyên tắc trên.
Tuy nhiên, theo cách tiếp cận của CTXH, đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường
phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản về đạo đức nghề CTXH, quy tắc ứng xử trong
quá trình cung cấp dịch vụ CTXH và trong quan hệ xã hội với người sử dụng dịch
vụ, đồng nghiệp, các tổ chức, cá nhân có liên quan và mối quan hệ tại nơi làm việc.
Việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của CTXH là cơ sở để đánh giá tiêu chuẩn
đạo đức nghề CTXH của đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường: Tôn trọng và phát huy
quyền được lựa chọn, quyết định của người sử dụng dịch vụ, không phân biệt dân tộc,
tôn giáo, giá trị, tư tưởng và cuộc sống của họ, trong điều kiện không đe dọa đến quyền
và lợi ích hợp pháp của người khác. Có trách nhiệm khuyến khích sự tham gia đầy đủ

Trung tâm cung
cấp dịch vụ CTXH
tỉnh

UBND các huyện, thị
xã, thành phố

Phòng LĐTBXH
cấp huyện

UBND xã/phƣờng

CB LĐTBXH
xã/phƣờng
CTV CTXH ở
xã/phƣờng
15


Theo cách tiếp cận của lí thuyết CTXH, phương pháp quản lý đội ngũ CTV
CTXH ở xã/phường chính là công tác nhân sự và đánh giá công việc. Đây là một
tiền trình quản lý quan trọng bao gồm tìm được nhân sự, duy trì việc làm và kết
thúc công việc khi cần thiết. Kết quả và hiệu quả hoạt động của một đơn vị, địa
phương có liên quan trực tiếp với nhân sự.
Tiến trình công tác nhân sự bao gồm: tuyển mộ, tuyển chọn, thuê mướn hay
bổ nhiệm, bố trí công việc; định hướng và huấn luyện; thăng thưởng, thuyên
chuyển/điều động, đánh giá thành tích; quản trị tiền công, tiền lương, kỷ luật, quyền
lợi và dịch vụ cho nhân viên, thay thế, thôi việc/kết thúc, về hưu.
Với phương pháp quản lý nhân sự và đánh giá công việc, theo Thông tư số
07/2013/TT-BLĐTBXH ngày 24/5/2013 của Bộ LĐTBXH giao cho chủ tịch

quản lý nêu trên. Đây chính là hình thức biểu hiện của thể chế quản lý CBCC, VC.
Thể chế này quy định, hướng dẫn các nội dung liên quan đến tiêu chuẩn, điều kiện
tuyển dụng; nghĩa vụ, quyền lợi, trách nhiệm của công chức; những điều công chức
không được làm; cách thức, trình tự, thủ tục trong công tác khen thưởng, kỷ luật, sử
dụng, thăng tiến, bổ nhiệm, chế độ đãi ngộ và quản lý CBCC, VC. Quy trình quản
lý công chức được xác định gồm các nội dung cơ bản sau đây: quản lý biên chế; xác
định vị trí việc làm; tuyển dụng; bố trí, sử dụng; đánh giá; chế độ tiền lương; bổ
nhiệm, miễn nhiệm; đào tạo, bồi dưỡng; khen thưởng và xử lý vi phạm kỷ luật; thôi
việc và nghỉ hưu; giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực thi công vụ của CBCC, VC.
Như vậy, việc quản lý đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường là một chức danh
được pháp luật qui định cũng sẽ được điều chỉnh theo đúng qui trình quản lý của
CBCC, VC hoặc như cán bộ chuyên trách, cán bộ bán chuyên trách cấp xã.
Theo cách tiếp cận CTXH, từ những lý luận và thực tiễn trên có thể khái quát
thành chu trình sau:

17


Sơ đồ 2: Chu trình quản lý đội ngũ CTV CTXH ở xã/phường

Bố trí
Tuyển
chọn

CTV CTXH ở
xã/phường
Kiểm tra
đánh giá

Chế độ

chứng chỉ, chứng nhận đã tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức hoặc có
bằng cấp về nghiệp vụ CTXH, tâm lý, xã hội học, giáo dục đặc biệt và các chuyên
ngành xã hội khác, phù hợp với nhiệm vụ CTXH. Từ năm 2015 trở đi, CTV CTXH
ở xã/phường đạt tối thiểu trình độ trung cấp nghề CTXH hoặc chuyên ngành khác
có liên quan đến CTXH. Tiêu chuẩn về đạo đức, phải có đạo đức tốt, thực hiện tốt
các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, chưa có tiền án,
tiền sự.
- Bố trí: Là khâu mà khi một ứng viên đã qua bước tuyển chọn, được xem
như đúng người, đúng việc (bố trí đúng chức danh và đúng vị trí việc làm). Cơ quan
quản lý trực tiếp phân công, giao việc, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, phạm vi
và thẩm quyền trong khi thi hành công vụ, đi kèm chế độ, quyền lợi với trách
nhiệm, nghĩa vụ theo qui định của Nhà nước, của cơ quan quản lý.
Theo quy định tại Thông tư số 07/2013/TT-BLĐTBXH ngày 24/5/2013 của
Bộ LĐTBXH, CTV CTXH ở xã/phường được giao nhiệm vụ thu thập, tiếp nhận
thông tin, yêu cầu trợ giúp của đối tượng trên địa bàn để báo cáo kịp thời với chủ
tịch UBND cấp xã, cán bộ LĐTBXH có hướng giải quyết; sàng lọc, phân loại đối
tượng và đề xuất với chủ tịch UBND cấp xã giới thiệu chuyển tuyến đối tượng đến
các cơ sở BTXH, trung tâm CTXH, cơ sở y tế- phục hồi chức năng, cơ sở giáo dục
và đào tạo và các cơ sở khác phù hợp. Theo dõi, đánh giá diễn biến thực trạng sức
khỏe, quan hệ gia đình, xã hội và các nhu cầu trợ giúp đối tượng, đề xuất cấp có
thẩm quyền thực hiện hoặc các biện pháp trợ giúp kịp thời, phù hợp, trực tiếp giải
quyết như: tư vấn, tham vấn, trị liệu, hòa giải, giáo dục thuyết phục, ngăn chặn,

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status