VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN BÁ HẢI
QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ VẬN HÀNH MÁY THI CÔNG NỀN
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ SỐ 2 – BỘ QUỐC PHÒNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS NGUYỄN KHẮC BÌNH
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN BÁ HẢI
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CNV: Công nhân viên
CSVC: Cơ sở vật chất
CĐN: Cao đẳng nghề
CTMT: Chương trình mục tiêu
ĐTN: Đào tạo nghề
GD - ĐT: Giáo dục - Đào tạo
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
KHCN: Khoa học công nghệ
KHKT: Khoa học kỹ thuật
KTXH: Kinh tế xã hội
KTCN: Kỹ thuật công nghiệp
UBND: Uỷ ban nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lĩnh vực đào tạo nghề ở nước ta hiện nay đã được Đảng và Nhà
nước đặc biệt coi trọng, vì đất nước đang trong thời kỳ công nghiệp hóa
hiện đại hóa. Đào tạo nghề cho người lao động giữ một vị trí quan
trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, tạo lên sức mạnh nội
sinh của từng địa phương, vì lực lượng lao động được đào tạo nghề
bao giờ cũng là lực lượng sản xuất trực tiếp và quyết định nhất trong
cơ cấu lao động kỹ thuật.
Đào tạo nghề có thể không tạo ra việc làm ngay cho tất cả các học sinh
sau tốt nghiệp, nhưng là biện pháp quan trọng nhất tạo thuận lợi cho quá trình
giải quyết việc làm. Dạy nghề giúp cho người lao động có chuyên môn kỹ
thuật, có tay nghề từ đó có thể mưu cầu cuộc sống, xin vào làm việc trong các
cơ quan xí nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau, hoặc có thể tự hoạt
viên vẫn còn có những hạn chế dẫn tới chất lượng các giờ giảng còn chưa cao
chưa phù hợp với từng đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh vùng dân tộc
thiểu số.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu“Quản lý đào
tạo nghề vận hành máy thi công nền. Nhằm phân tích để tìm ra nguyên
nhân của những hạn chế đó và đề xuất một số biện pháp khắc phục nhằm
quản lý đào tạo nghề vận hành máy thi công nền ở Trường cao đẳng nghề số 2
– BQP được hiệu quả hơn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, ở các nước tư bản phát triển như
Đức, Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản đã quan tâm đến vấn đề đào tạo nghề và quản lý
quá trình đào tạo nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội công nghiệp. Do đặc
điểm, yêu cầu về nguồn nhân lực- đội ngũ công nhân kỹ thuật ở mỗi nước có
khác nhau nên không chỉ có lĩnh vực đào tạo nghề mà cả phương pháp,
2
hình thức, qui mô đào tạo nghề cũng có sự khác nhau song có điểm chung là đều
chú trọng đến sự phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp.
Thí dụ: ở Mỹ, đào tạo công nhân kỹ thuật được chú trọng và tiến hành
ngày từ cấp THPT phân ban và các trường dạy nghề cấp trung học, các cơ sở
đào tạo nghề sau THPT. Học sinh tốt nghiệp được cấp bằng chứng nhận và
chứng chỉ công nhân lành nghề và có quyền được đi học tiếp theo. Thời gian
đào tạo dao động từ 2 đến 7 năm tuỳ thuộc vào từng nghề đào tạo. Các loại
trường tư thuộc vào các công ty tư nhân mà công ty của họ khá lớn. Cho đến
ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều bố trí hệ thống giáo dục kỹ
thuật và dạy nghề bên cạnh bậc phổ thông và đào tạo bậc cao đẳng,
đại học. Do sớm có hệ thống đào tạo nghề nên các nước tư bản phát
triển đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong quá trình đào tạo. Quá trình
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý đào tạo nghề vận hành máy thi công nền ở trường
Cao đẳng nghề Số 2 – BQP.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu công tác quản lý đào tạo nghề vận hành máy thi công nền
ở trường Cao đẳng nghề Số 2 - BQP trong thời giang từ 2013 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu vận dụng những chủ trương của Đảng và của Nhà nước
liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Phân tích, tổng hợp những công trình sách,
tạp chí, luận văn trong và ngoài nước liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tế đào tạo
- Phương pháp chuyên gia
5.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp này để xử lý các kết quả điều tra nghiên cứu để
làm cứ liệu, các chỉ số đánh giá.
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài thực hiện thành công sẽ giúp cho Trường Cao đẳng nghề số 2 –
BQP có những biện pháp quản lý thực hiện tốt đào tạo nghề vận hành máy thi
công nền tại Trường cao đẳng nghề số 2-Bộ Quốc phòng; góp phần từng bước
nâng cao chất lượng đào tạo nghề; phát triển nhà trường trong những năm tới.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
đích đề ra
Từ những khái niệm trên cho ta thấy, tuy về mặt cấu trúc khái niệm có
khác nhau, song đều thể hiện những điều chung đó là:
+ Có chủ thể quản lý: “Ai quản lý” đó là tác nhân tạo các tác động. Chủ
thể quản lý có thể là một cá nhân hoặc một tổ chức.
+ Có chủ thể bị quản lý: “Quản lý ai”, “Quản lý cái gì” (hay còn gọi là
đối tượng quản lý, khách thể quản lý).
7
+ Có mục tiêu quản lý: quản lý nhằm đạt được những kết quả gì?
Từ phân tích trên có thể đưa ra khái niệm quản lý như sau: Quản lý là sự
tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin
của chủ thể đến khách thể của nó.
Bản chất của quản lý là những tác động có phương hướng, có mục đích rõ
ràng của chủ thể quản lý, là khoa học và nghệ thuật. Là khoa học vì quản lý
đòi hỏi sử dụng các tri thức khoa học, là nghệ thuật vì nó đòi hỏi sự khôn
khéo, linh hoạt và sáng tạo...
* Chức năng của quản lý
Các chức năng của quản lý được coi là những hoạt động nghiệp vụ đặc
trưng của người quản lý. Gồm có 4 chức năng cơ bản đó là: Chức năng lập kế
hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo, chức năng kiểm tra.
a) Chức năng lập kế hoạch
Đây là chức năng hoạch định là chức năng quan trọng nhất của quá trình
quản lý. Lập kế hoạch tức là phải đặt ra mục tiêu, bước đi và các biện pháp cụ
thể để đạt được tới mục tiêu.
Lập kế hoạch đòi hỏi nhà quản lý phải nắm chắc thông tin, làm tốt công
tác dự báo cùng với sự tham gia dân chủ của các thành viên, bởi họ là những
người làm cho kế hoạch được thực hiện.
Lập kế hoạch bao gồm xác định mục tiêu, xây dựng chương trình hành
người quản lý nắm được những vấn đề tồn tại, hạn chế, những thiếu sót,
khuyết điểm, những trì trệ để có những biện pháp điều chỉnh, uốn nắn, khắc
phục, đồng thời nắm được những ưu điểm để phát huy động viên, khuyến
khích, hoàn thiện kế hoạch tổ chức và chỉ đạo.
Trong công tác quản lý thì đều phải thực hiện đầy đủ các chức năng quản
lý là: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra đánh giá thông tin.
Các chức năng này có mối liên hệ ràng buộc, bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Các
chức năng quản lý không phải là cái "nhất thành nhất biến", trái lại nó luôn
biến đổi cho phù hợp. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý được thể hiện
9
trong sơ đồ sau đây:
1.1.2. Quản lý nhà trường
Vấn đề cơ bản của QLGD là quản lý nhà trường, nhà trường là một tổ
chức cơ sở giáo dục, trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ một cách toàn
diện, tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục. Nó là tế bào của bất cứ hệ thống
giáo dục ở cấp nào.
Theo tác giả Phạm Viết Vượng “Quản lý trường học là lao động của các
cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và
các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo
dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”. [Số 30].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý nhà trường là tập hợp những
tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và những
cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng
xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy
mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế
hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường
tiến lên trạng thái mới.” ”. [Số 31].
Bản chất của hoạt động quản lý trong nhà trường là quản lý hoạt động
cho việc tồn tại và phát triển”. [Số 47].
Theo tác giả Nguyễn Hùng thì:“ Những chuyên môn có những
đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và
được gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần
giống nhau. Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người
dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào
những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng
phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người ” [Số 21].
Từ điển Tiếng Việt (1998) định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm,
theo sự phân công lao động của xã hội”. [Số 35].
11
Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng
lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân
(nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi
hỏi để thoả mãn những yêu cầu nhất định của xã hội và cá nhân.
1.2.2. Đào tạo nghề
Hiện nay, đang tồn tại nhiều định nghĩa về đào tạo nghề (Dạy
nghề).
Một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số khái
niệm:
Đào tạo là một lĩnh vực bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trường
nhằm cung cấp kiến thức và giáo dục cho học sinh, sinh viên. Đây là
công việc kết nối giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình đào tạo,
tổ chức thực hiện chương trình và các vấn đề liên quan đến tuyển sinh, đào
tạo, giám sát, đánh giá, kiểm tra, tổ chức thực tập, thi tốt nghiệp cùng
các quy trình đánh giá khác, các chính sách liên quan đến chuẩn mực và
cấp bằng ở lĩnh vực đào tạo chuyên nghiệp ở các cơ sở đào tạo nghề nghiệp.
Hiện nay, Dạy nghề mang tính tích hợp giữa lí thuyết và thực hành. Sự
tích hợp thể hiện ở chỗ nó đòi hỏi người học sinh hôm nay, người thợ trong
tương lai phải vừa chuyên sâu về kiến thức, vừa phải thành thục về kỹ năng
tay nghề. Đây là điểm khác biệt lớn trong Dạy nghề so với dạy văn hoá.
Dạy nghề cung cấp cho học sinh những kiến thức và kỹ năng, thái độ
nghề nghiệp cần thiết của một nghề. Về kiến thức học sinh hiểu được cơ sở
khoa học về vật liệu, dụng cụ, trang thiết bị, quy trình công nghệ, biện pháp tổ
chức quản lí sản xuất để người công nhân kỹ thuật có thể thích ứng với
sự thay đổi cơ cấu lao động trong sản xuất và đào tạo nghề mới. Học sinh
được cung cấp kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp như kỹ năng sử dụng công
cụ gia công vật liệu, các thao tác kỹ thuật, lập kế hoạch tính toán, thiết
kế và khả năng vận dụng vào thực tiễn. Đó là những cơ sở ban đầu để người
học sinh- người cán bộ kỹ thuật tương lai hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề
13
nghiệp, phát huy tính sáng tạo hình thành kỷ luật, tác phong lao động công
nghiệp.
Nguyên lý và phương châm của dạy nghề: Học đi đôi với hành;
lấy thực hành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; coi trọng giáo dục
đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác
phong công nghiệp của người học, đảm bảo tính giáo dục toàn diện.
Dạy nghề hiện nay có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp
nghề và cao đẳng nghề. Hình thức dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy, dạy
nghề thường xuyên.
1.2.3. Quản lý đào tạo nghề
Quản lý đào tạo nghề là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch và hợp qui luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ thống ĐTN phát triển,
vận hành theo đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và
thực hiện được những yêu cầu của xã hội, đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH
những tiến bộ khoa học kỹ thuật đem lại hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội.
1.2.4. Các yếu tố của quá trình đào tạo nghề
1.2.4.1. Mục tiêu của đào tạo nghề.
Luật giáo dục năm 2005, tại điều 33, trang 21; Luật giáo dục nghề nghiệp
năm 2014, tại điều 4 có nêu : ’’ Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là
nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực
hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm
nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối
cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo
điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm,
tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.’’ [tr 29 ].
1.2.4.2. Nội dung của đào tạo nghề.
Nội dung của đào tạo nghề là những yêu cầu đặt ra để mang lại cho
người học có được những kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cần
thiết.
15
Về yêu cầu của nội dung đào tạo nghề, Luật giáo dục năm 2005, tại
điều 34, khoản 1 có ghi: ‟‟ Nội dung giáo dục nghề nghiệp phải tập trung
đào tạo năng lực thực hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn
luyện sức
khoẻ, rèn luyện kỹ năng theo yêu cầu đào tạo của từng nghề, nâng cao
trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo‟‟ [ tr 29 ].
Nội dung phải phù hợp với mục tiêu đào tạo, phải đảm bảo tính cân
đối, toàn diện giữa các mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ, đạo đức và lương
tâm nghề nghiệp cần thiết. Bên cạnh đó, nội dung phải gắn liền với thực tế
sản xuất, phải đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại, tính liên thông phù
hợp với trình độ của người học.
1.2.4.3. Phương pháp đào tạo nghề.
vai trò chủ đạo trong toàn bộ quá trình dạy học nghề. Người giáo viên căn
cứ kế hoạch dạy học để tổ chức cho học sinh hoạt động với mọi hình thức.
Giáo viên dạy nghề phải có những tiêu chuẩn quy định tại khoản 3
Điều 54 của Luật Dạy nghề và phải có chứng chỉ kỹ năng nghề.
Nhiệm vụ và quyền của giáo viên dạy nghề thực hiện theo điều 72,
điều 73 của Luật giáo dục 2005, theo điều 55 của Luật giáo dục nghề
nghiệp 2014 và theo qui định tại Nghị quyết phiên họp tháng 8 năm 2016
của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục nghề
nghiệp.
b, Hoạt động học nghề.
Học nghề là quá trình hoạt động của học sinh, trong đó học sinh
dựa vào nội dung dạy học, chủ động và sáng tạo lĩnh hội kiến thức. Thông
qua hoạt động học, người học chủ động thay đổi bản thân mình và tích
cực rèn luyện năng lực thực hành nghề.
Nhiệm vụ và quyền của học sinh học nghề quy định tại Điều 85 và
Điều 86 của Luật giáo dục.
17
Chính sách đối với người học nghề thực hiện theo các điều 89, 90,
91 và 92 của Luật giáo dục và theo các điều 62, 63, 64 của Luật giáo dục
nghề nghiệp 2014.
1.2.4.5. Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập nghề.
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập nghề là khâu quan trọng trong
quá trình dạy và học nghề. Kiểm tra, đánh giá có quan hệ hữu cơ với quá
trình dạy
và học nghề. Nó là động lực người học tích cực hoạt động. Kiểm tra đánh
giá giúp cho nhà quản lí điều chỉnh, cải tiến nội dung chương trình, điều
chỉnh kế hoạch, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học nghề.
chất lượng tuyển sinh rất quan trọng để nậng cao chất lượng đào tạo.
- Ý thức học tập của học sinh chưa thực sự sâu về nghề nghiệp mình
theo học nên hứng thú học tập chưa cao.
- Mạng lưới thông tin thiếu tính đồng bộ, nên việc cung cấp và cập nhật
dữ liệu từ trường đến học sinh chưa chặt trẽ kịp thời.
- Cơ sở vật chất chưa được đầu tư mua sắm các trang thiết bị hiện đại.
1.3.3. Yếu tố môi trường quản lý
- Cơ chế chính sách nhằm phát huy nội lực, thu hút các thành phần kinh
tế, các đơn vị, các cá nhân đầu tư vào nhà trường.
- Nhà trường có thể tranh thủ nguồn mở rộng các hình thức liên kết đầu
tư với doanh nghiệp ngành xây dựng cầu đường trong và ngoài nước đầu tư
cho phát triển dạy nghề. Tuy nhiên, chất lượng công tác tổ chức liên kết, liên
thông giữa các cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất cần phải đào tạo kiến thức, kỹ
năng cơ bản tại trường với đào tạo kỹ năng nghề nghiệp tại các doanh nghiệp.
- Tâm lý “thích làm thầy hơn làm thợ” của phần lớn trong các bộ phận
xã hội Việt Nam.nên người dân chưa thực sự nhận thức được sự cần thiết của
đào tạo nghề.
19
Tiểu kết chương 1
Quản lý đào tạo nghề thực chất là quản lý các yếu tố mục tiêu đào tạo
nghề, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, hoạt động dạy - học nghề,
sự đáp ứng của cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, môi trường
đào tạo nghề, sự phù hợp của kiểm tra, đánh giá, tổ chức bộ máy đào tạo
nghề,…Trong quá trình quản lý công tác đào tạo nghề các yếu tố trên luôn
luôn vận động và tác động qua lại lẫn nhau làm nảy sinh những tình huống
quản lý. Do vậy, nhà quản lý phải thường xuyên theo dõi, đánh giá, xử lý
các sai lệch để kịp thời điều chỉnh nhằm làm cho công tác giáo dục, đào tạo
xuất ngũ và thanh niên các dân tộc, đối tượng chính sách, người lao động trên
địa bàn Quân khu 2, với 7 nghề trình độ cao đẳng, 9 nghề trình độ trung cấp,
13 trình độ sơ cấp, trong đó có 3 nghề trọng điểm, 1 nghề cấp độ ASEAN, 2
nghề cấp độ Quốc gia trong đó có nghề vận hành máy thi công nền thuộc
khoa xe máy công trình.
Trải qua 20 năm xây dựng và trưởng thành nhà trường đã đào tạo nghề
cho hơn 30.000 người, trong đó hơn 20 ngàn là bộ đội xuất ngũ, những học
sinh sinh viên ra trường đến làm việc tại các doanh nghiệp đều tiếp được cận
ngay với công việc và các thiết bị hiện đại, do các thiết bị đào tạo của nhà
21