Tiểu luận: PHẦN TRIẾT HỌC DUY VẬT BIỆN CHỨNG
=========================================
Chủ đề: Sự tác động trở lại vật chất của ý thức
Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong việc phát huy nhân tố con người
1
Tiểu luận: PHẦN TRIẾT HỌC DUY VẬT BIỆN CHỨNG
============================================
Sự tác động trở lại vật chất của ý thức.
Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong việc phát huy nhân tố con người.
1 - Sự tác động lại vật chất của ý thức.
Kẻ thù của chủ nghĩa Mác thường xuyên tạc là chủ nghĩa Mác chỉ biết đến
vật chất, kinh tế mà coi nhẹ vai trò của ý thức, tư tưởng. Thực ra không hoàn
toàn như vậy. Chỉ có chủ nghĩa duy vật tầm thường, không biện chứng; duy vật
kinh tế mới phủ nhận hoặc coi nhẹ vai trò của các yếu tố tinh thần, ý thức mà
thôi. Chủ nghĩa duy vật cũ, do quá nhấn mạnh vai trò của vật chất nên không
thấy hết được vai trò của ý thức. Chính điều đó đã làm cho họ không thể giải
thích được các hiện tượng phức tạp của đời sống xã hội và do đó không hoàn
toàn chiến thắng được chủ nghĩa duy tâm.
Ý thức chỉ là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật
chất, là thuộc tính của một thực thể vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc người.
Không thể có ý thức trước khi có con người hay ý thức nằm ngoài con người,
độc lập với con người. Mọi quan niệm về sự tồn tại của thế giới ý niệm của “tinh
thần tuyệt đối” có trước thế giới vật chất đều là sự tưởng tượng, sự phản ánh sai
lệch hiện thực khách quan. Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph.Ăng nghen đã
chỉ rõ: Ý thức là tư duy của chúng ta, xem ra tựa hồ như siêu cảm giác, đều chỉ là
sản phẩm (…) của một khí quan vật chất, của một khí quan nhục thể là bộ óc
một chiều mà là quan hệ tác động qua lại. Không thấy điều đó sẽ rơi vào quan
niệm duy vật tầm thường và bệnh bào thủ trì trệ.
1
Các Mác và Ẳng ghen toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994, tập 20, tr 580.
3
Nói tới vai trò của ý thức về thực chất là nói tới vai trò của con người, bởi
ý thức là ý thức của con người. Bản thân ý thức không trực tiếp thay đổi được gì
trong hiện thực cả, nhưng thông qua hoạt động của con người, ý thức có thể làm
biến đổi những điều kiện, hoàn cảnh vật chất, thậm chí sẽ còn tạo ra “thiên nhiên
thứ hai” để phục vụ cho cuộc sống của con người. Có được điều này bởi lẽ ý
thức có đặc tính tích cực, sáng tạo gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội. Đây cũng
là đặc tính căn bản để phân biệt trình độ phản ánh ý thức với trình độ phản ánh
tâm lý động vật. Ý thức không phải là kết quả của sự phản ánh ngẫu nhiên, đơn
lẻ, thụ động thế giới khách quan. Trái lại, đó là kết quả của quá trình phản ánh có
định hướng, có mục đích rõ rệt. Là hiện tượng xã hội, ý thức hình thành, tồn tại
và phát triển luôn gắn liền với hoạt động thực tiễn xã hội phong phú. Thế giới
khách quan không thoả mãn con người và con người quyết định biến đổi thế giới
bằng hoạt động thực tiễn đa dạng và phong phú của mình. V.I Lê nin đã viết
trong Bút ký triết học: “Thế giới không thoả mãn con người và con người quyết
định biến đổi thế giới bằng hành động của mình”2. Thông qua hoạt động thực
tiễn, con người làm biến đổi thế giới vật chất và qua đó khám phá sâu rộng đối
tượng phản ánh. Ý thức phản ánh ngày càng sâu sắc, từng bước xâm nhập các
tầng bản chất, quy luật, điều kiện đem lại hiệu quả hoạt động thực tiễn. Trên cơ
sở đó, bằng những thao tác của tư duy trừu tượng sẽ đem lại những tri thức mới
để chỉ đạo hoạt động thực tiễn chủ động cải tạo thế giới trong hiện thực. Vì vậy
diễn, tuỳ tiện, viển vông. Con người phản ánh càng đầy đủ và chính xác thế giới
khách quan thì càng cải tạo thế giới có hiệu quả. Vì vậy, phải phát huy tính năng
động, sáng tạo của ý thức, phát huy nhân tố con người để cải tạo, thế giới khách
quan.
Vai trò nổi bật của ý thức trong đời sống được bộc lộ ở mối quan hệ giữa
kinh tế và văn hoá, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Trong đời sống xã hội, sự
phát triển của kinh tế quy định sự phát triển của văn hoá. Trong xã hội cộng sản
nguyên thuỷ, đời sống vật chất hết sức thấp kém thì đời sống tinh thần cũng bị
giới hạn. Trong điều kiện đó chưa thể có lý luận, càng chưa có thể có các học
thuyết khoa học. Khi lực lượng sản xuất phát triển, tạo ra sự phân công giữa lao
động trí óc và chân tay, lý luận mới ra đời. Xã hội phát triển càng cao thì vai trò
5
của lý luận càng lớn, đời sống tinh thần ngày càng phong phú, đa dạng. Điều
kiện vật chất thay đổi thì đời sống tinh thần sớm muộn cũng thay đổi theo. Cho
nên ý thức không chỉ được sinh ra từ vật chất mà sự tồn tại và phát triển của nó
đều gắn liền với quá trình biến đổi của điều kiện vật chất.
Xã hội càng phát triển, vai trò của ý thức ngày càng to lớn. Trong thời đại
ngày nay, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, kinh tế tri thức đã
tạo ra những sự phát triển vượt bậc về năng xuất lao động. Con người trong thế
giới hiện đại đang khai thác ngày càng nhiều những sức mạnh vật chất tiềm tàng
trong tự nhiên, trong xã hội và trong chính bản thân mình. Tất cả những việc đó
là nhờ tri thức khoa học dẫn đường, nhờ có ý chí vươn lên làm chủ xã hội, làm
chủ tự nhiên và làm chủ bản thân.
Tuy nhiên, sự tác động trở lại của ý đối với vật chất hay của ý thức xã hội
đối với tồn tại xã hội chỉ là sự tác động hoặc là tích cực hoặc là tiêu cực, hoặc là
thúc đẩy hoặc kìm hãm sự vận động của vật chất hay của tồn tại xã hội. Ý thức
có thể làm suy giảm sức mạnh vật chất ngay trong bản thân con người. Ý thức
thông qua hoạt động của con người có thể cản trở quá trình biến đổi khách quan
Hồ Chí Minh thể hiện: Vì dân, tin ở dân, dựa vào dân; bồi dưỡng sức dân; phát
huy mọi tiềm năng trong nhân dân để mang lại hạnh phúc cho dân. Người nhấn
mạnh yếu tố lòng dân, được lòng dân là có tất cả, mất lòng dân là mất hết. Cách
mạng phải có chỗ đứng chân, trước nhỏ, sau to, rồi thành căn cứ. Chỗ đứng chân
phải vững và theo Người chỗ đứng chân vững chính là lòng dân.
Một chân lý cũng là bí quyết thành công của cách mạng Việt Nam là bồi
dưỡng và phát huy được ưu thế nhân tố con người. Có thể nói cả cuộc đời mình
Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng chăm lo việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng
con người cho kháng chiến thắng lợi và cho xây dựng thành công chủ nghĩa xã
hội. Người chăm lo bồi dưỡng con người từ tuổi mầm non vun đắp những cái
7
hay, cái đẹp của con người, biểu dương những anh hùng, chiến sỹ thi đua; nêu
gương những người chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, những người tốt, việc tốt trong
phong trào thi đua cách mạng của quần chúng. Trong Di chúc Người viết, dặn
lại “Đầu tiên là công việc đối với con người” và: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng
cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”. Việc quan tâm và coi trọng
phát huy nhân tố con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện qua các
luận điểm sau:
Con người vừa là mục tiêu và là động lực. Có thể nói đây là một chân lý
và cũng là một vấn đề triết lý lớn, là tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh. Trong
cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một ham
muốn tột bậc là phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và
cuối cùng là để giải phóng con người. Về chỗ dựa, lực lượng cách mạng để
“xoay trời chuyển đất” cũng không ngoài nhân dân. Đối với Hồ Chí Minh
“trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh
bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân… Trong xã hội không gì tốt đẹp vẻ vang
bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân” 3 Do đó việc phát động quần chúng nhân
dân vùng lên làm cách mạng, việc tuyên truyền lý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã
tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quần chúng, của dân tộc”. Người tự hào
về “lòng yêu nước của nhân dân ta” nó có sức mạnh “ nhấn chìm tất cả bè lũ
bán nước và cướp nước” Người tin tưởng tuyệt đối vào tinh thần và lực lượng
dân tộc và khẳng định rằng: Khéo lãnh đạo, khéo tổ chức thì lực lượng ấy sẽ
xoay trời chuyển đất, bao nhiêu thực dân phong kiến cũng sẽ bị lực lượng to lớn
ấy đánh tan.
Hồ Chủ Tịch luôn đặt yếu tố chính trị - tinh thần trên cơ sở duy vật biện
chứng, không tách rời thậm trí đem đối lập với yếu tố vật chất và kỹ thuật, yếu tố
kinh tế văn hoá xã hội. Vì rằng trong chiến tranh sức mạnh vật chất chỉ có thể
đánh bại bằng sức mạnh vật chất. Người giải thích trong báo cáo chính trị ở Đại
hội II của Đảng (2/1951) “Kháng chiến trường kỳ thì quân đội phải đủ súng đạn,
quân và dân phải đủ ăn, đủ mặc. Nước ta nghèo, kỹ thuật ta kém, những thành
4
V. I Lênin, Toàn tập, tâp Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội… tr
9
phố có chút công nghiệp đều bị giặc chiếm. Chúng ta phải dùng tinh thần hăng
hái của toàn dân để tìm cách giải quyết sự thiếu kém vật chất”. Và Người chỉ ra
giải pháp phải phát huy ưu thế chính trị- tinh thần đó “Đảng và Chính phủ bèn
nêu ra khẩu hiệu thi đua ái quốc. Thi đua mọi mặt nhưng nhằm ba điểm chính:
diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”.
Trong Quân đội Người ca ngợi tinh thần “Cảm tử” của bộ đội “Tổ quốc
quyết sinh”. Nhưng Người cũng nhắc nhở bộ đội phải ra sức luyện tập, ra sức
học văn hoá, học kỹ thụât, chiến thụât, phải đổ nhiều mồ hôi ở thao trường để
chiến trường bớt đổ máu. Người nhắc nhở cán bộ phải dạy và rèn bộ đội toàn
diện để phát huy sức mạnh tổng hợp của con người chiến sỹ. Người dạy “ Giác
ngộ chính trị thì cố nhiên rồi… nhưng phải có văn hoá-kỹ thuật để sử dụng máy
động và cải tạo thế giới khách quan. Lê nin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, không
được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm
làm điểm xuất phát cho chiến luợc, sách lược cách mạng. Nếu chỉ xuất phát từ ý
muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy tưởng thay cho biện chứng
thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.
Trước Đại hội Đảng lần thứ VI, bên cạnh những thành tựu đạt được,
chúng ta đã phạm những sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế. Chúng
ta đã nóng vội muốn xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, vi phạm quy luật
khách quan. Cương lĩnh của Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ VII đã
khẳng định “Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách
quan”7 Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nhiều nước trên thế giới đã chứng
minh: Nhận thức không đúng và làm sai quy luật khách quan thì không thể đi lên
chủ nghĩa xã hội được, càng làm sai quy luật thì con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội càng kéo dài ra chứ không hề gần lại. Ăng ghen nhấn mạnh: “khinh miệt
phép biện chứng thì không thể không bị trừng phạt”.
7
Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb
Sự thật, Hà Nội, 1991, tr 5.
11
Vì vậy, từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng như từ kinh nghiệm
thành công và thất bại trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Đại hội VII của Đảng
đã rút ra bài học quan trọng là: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất
phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan” 8 Bài học đó có ý nghĩa nóng hổi
trong quá trình đổi mới ở nước ta.
Đại hội VIII của Đảng đã tổng kết 10 năm đổi mới, đề ra những mục tiêu,
12
tế, Đảng cũng coi trọng các nhiệm vụ phát triển giáo dục vào đào tạo, phát triển
văn hoá. Đảng xem phát triển giáo dục vào đào tạo là “một trong những động
lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá… yếu tố cơ
bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” 12. Đồng thời,
Đảng cũng khẳng định “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
vừa là mục tiêu, và là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tê – xã hội” 13. Từ đó
Đảng còn đưa ra những phương hướng cụ thể để phát triển giáo dục và đào tạo,
phát triển văn hoá trên cơ sở của sự phát triển kinh tế và cùng với sự phát triển
kinh tế. Sự kết hợp đúng đắn giữa phát triển kinh tế văn hoá, giáo dục sẽ tạo ra
sự phát triển nhanh và vững chắc của toàn xã hội.
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Đại hội X của Đảng chủ trương “Huy động ngày cao mọi nguồn lực cả
trong và ngoài nước, đặc biệt là nguồn lực trong của dân vào công cuộc phát
triển đất nước”14.Muốn vậy phải “Phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của Đảng phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc
đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, thực hiện “dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”15
Trong công cuộc đổi mới xã hội ngày nay, chúng ta cần tiến hành đổi mới
đồng bộ. Trước hết là đổi mới kinh tế, đổi mới cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế
quản lý… Đổi mới kinh tế là cơ sở, tiền đề cho đổi mới chính trị, vì trong mối
quan hệ giữa kinh tế và chính trị thì kinh tế giữ vai trò quyết định. Song muốn
đổi mới kinh tế, trước tiên, Đảng và Nhà nước phải đổi mới quan điểm, nhận
thức. Cho nên cùng với nhiệm vụ đổi mới kinh tế phải tiến hành đổi mới chính
12
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
lối suy nghĩ và hành động giản đơn. Nó biểu hiện trong khi định ra chủ trương và
chính sách xa rời hiện thực khách quan. Bệnh chủ quan, duy ý chí có nguồn gốc
từ nhận thức yếu kém về tri thức khoa học, tri thức lý luận, không đáp ứng được
đòi hỏi của thực tiễn. Bệnh chủ quan, duy ý chí còn có nguồn gốc lịch sử, xã hội,
giai cấp, tâm lý của người sản xuất nhỏ chi phối. Cơ chế quan liêu, bao cấp cũng
tạo điều kiện cho sự ra đời của bệnh chủ quan, duy ý chí. Trong tác phẩm Sửa
đổi lề lối làm việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở cán bộ đảng viên ta:
“không biết nhận rõ, điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý nghĩ mình như thế nào,
làm thế ấy, kết quả thường thất bại”16 Để khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí
phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp. Trước hết phải đổi mới tư duy lý luận,
nâng cao năng lực trí tuệ trình độ lý luận của Đảng. Trong hoạt động thực tiễn
16
Hồ Chí Minh, Sửa đổi lề lối làm việc, Nxb Sự thật, Hà nội 1987, tr 26.
14
một mặt phải luôn phát huy khả năng sáng tạo nhưng cũng luôn phải tôn trọng và
hành động theo quy luật khách quan. Phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, đổi
mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, chống bảo thủ, trì
trệ, quan liêu.
Trong bất xã hội nào, việc giáo dục ý chí vươn lên cho con người, việc
xây dựng một đời sống tinh thần lành mạnh, đặc biệt là việc phát huy tính năng
động sáng tạo của ý thức là hết sức quan trọng. Nếu thiếu những yếu tố tinh thần
này con người không thể hoạt động có hiệu quả.
Chống chủ nghĩa khách quan, định mệnh, thái độ trông chờ, ỷ lại điều kiện
khách quan. Đại hội VI của Đảng trong khi phán bệnh chủ quan duy ý chí, cũng
phê phán hiện tượng “bảo thủ, trì trệ” vin vào hoàn cảnh, điều kiện khách quan
để lảng trách trách nhiệm. thiếu tích cực, nhạy bén với sự nghiệp đổi mới.
Trong huấn luyện và quản lý đơn vị việc quản lý bằng kỷ luật, điều lệnh,
điều lệ là tất yếu và cần thiết vì quân đội là một tổ chức chặt chẽ, muôn người
như một, nó buộc mọi thành viên đều phải chấp hành. Nhưng nó sẽ kém hiệu quả
nếu mỗi quân nhân chưa được giác ngộ, chưa trở thành tự giác. Phải xây dựng
được quan hệ cán binh, tình đồng đội, truyền thống tốt đẹp của đơn vị, quan hệ
mật thiết với nhân dân… Đặc biệt là người chỉ huy lãnh đạo phải thực sự gương
mẫu được quần chúng tín nhiệm. Ở đây, cái kích thích hành động không chỉ là
mệnh lệnh mà còn là sự giác ngộ cách mạng, lòng tự trọng, là sự tin cậy lẫn
nhau; lòng tự hào về tập thể mình, niềm tin vào lãnh đạo, chỉ huy. Mặt khác để
quản lý tốt đơn vị, người chỉ huy phải chăm lo đến đời sống, lợi ích kinh tế, của
cán bộ, chiến sỹ thuộc quyền. Về điều này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Từ
tiểu đội trưởng trở lên, từ tổng tư lệnh trở xuống phải săn sóc đời sống vật chất,
tinh thần của đội viên; phải xem đội viên ăn uống như thế nào; phải hiểu nguyện
17
Lê nin, Toàn tập, tập 31, bản tiếng Việt, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1969, tr221
16
vọng thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu rét,
bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”18
Như vậy, từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về sự tác động trở lại
vật chất của ý thức trong mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Đảng
Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo việc phát
huy nhân tố con người trong suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam. Từ đó đã
khơi dậy được tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo, vượt khó khăn, gian khổ
của mỗi người dân và đây chính là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi
của cách mạng Việt Nam. Ngày nay vấn đề phát huy nhân tố con người ngày
Ngày 19 tháng 5 năm 2000, tại Lễ kỷ niệm 110 năm ngày sinh Chủ tịch
Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2000), Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã nêu rõ
“ Trong thời đại cách mạng thông tin hiện nay, chúng ta không có sự lựa chọn
nào khác là phải tiếp cận nhanh chóng với tri thức và công nghệ mới nhất của
thời đại để hiện đại hoá nền kinh tế, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
từng hướng, từng bước hình thành nền kinh tế tri thức, có năng lực cạnh tranh và
giá trị tăng ngày càng cao”. Tr 9
18