BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------
VŨ THANH THỦY
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
TẠI CÔNG TY TNHH ĐẠI HÀ
Chuyên ngành :
Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS. Tạ Thị Đoàn
Hà Nội – Năm 2014
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU
5
1.2.1. Thực chất, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
18
1.2.2. Trình tự phân tích tài chính doanh nghiệp
22
1.2.3. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
24
TÓM TẮT CHƯƠNG I
29
Chương 2 – PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH CỦA CÔNG
30
TY TNHH ĐẠI HÀ
2.1. Khái quát chung về công ty TNHH Đại Hà
30
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH Đại Hà
30
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và mặt hàng kinh doanh của Công ty
2.2.4. Phân tích các chỉ tiêu đòn bẩy tài chính
2.3. Đánh giá về tình hình tài chính của công ty TNHH Đại Hà
65
67
2.3.1. Những kết quả đạt được
67
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân
68
TÓM TẮT CHƯƠNG II
72
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI 73
CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH ĐẠI HÀ
3.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển công ty trong những năm tới
73
3.1.1. Bối cảnh kinh tế-xã hội trong nước và quốc tế
73
3.1.2. Phương hướng, định hướng phát triển trong những năm tới của
TÓM TẮT CHƯƠNG III
94
KẾT LUẬN
95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
96
2
DANH MỤC VIẾT TẮT
STT
Viết tắt
Nghĩa đầy đủ
1
TCDN
Tài chính doanh nghiệp
2
HĐKD
Hoạt động kinh doanh
8
HTK
Hàng tồn kho
9
TSCĐ
Tài sản cố định
10
SXKD
Sản xuất kinh doanh
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Stt
1
43
6
Bảng 2.6. Một số chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng chi phí của công ty
45
(2011- 2012)
7
Bảng 2.7. Chỉ tiêu năng suất tổng tài sản
47
8
Bảng 2.8. Bảng cơ cấu tài sản của công ty TNHH Đại Hà
52
9
Bảng 2.9. Hệ số nợ của công ty TNHH Đại Hà
57
10
Bảng 2.10. Cơ cấu nguồn vốn vay của công ty năm 2011- 2012
phẩm bao nhựa PE
15
Bảng 3.3. Đề xuất vốn đầu tư đổi mới công nghệ tại công ty TNHH Đại 86
Hà
16
Bảng 3.4 Mức hao phí nguyên vật liệu chi phí NVL tính trên 1 đơn vị
sản phẩm bao nhựa in PP trên dây chuyền công nghệ mới
4
87
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau khi hội nhập kinh tế thế giới thì nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát
triển và càng khẳng định được uy thế trên thị trường thế giới. Tuy nhiên trong
những khó khăn bước đầu của quá trình hội nhập thì không phải tất cả các doanh
nghiệp đều thích nghi và hoạt động vững mạnh. Điều này được thể hiện qua năng
lực tài chính riêng của từng doanh nghiệp. Chính vì vậy việc phân tích tình hình tài
chính của doanh nghiệp là hết sức cần thiết.
Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay thì bất kỳ doanh nghiệp nào khi
tiến hành đầu tư và sản xuất luôn mong muốn đồng tiền mình bỏ ra mang lại lợi
nhuận cao nhất. Bên cạnh những lợi thế sẵn có của từng ngành nghề kinh doanh thì
nội lực tài chính của doanh nghiệp là cơ sở đánh giá xem doanh nghiệp có thực sự
vững mạnh để tiếp tục hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Việc phân tích tình hình
được sử dụng là:
- Phương pháp duy vật lịch sử, biện chứng
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
5. Kết cấu luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được
kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích thực trạng tình hình tài chính của Công ty TNHH Đại
Hà
Chương 3: Một số giải pháp đề xuất nhằm cải thiện tình hình tài chính tại
Công ty TNHH Đại Hà
6
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính trong nền kinh tế,
là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của kinh tế hàng hóa tiền
tệ.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phát sinh nhiều mối quan
hệ kinh tế. Song song với những quan hệ kinh tế thể hiện một cách trực tiếp là các
quan hệ kinh tế thông qua tuần hoàn luân chuyển vốn, gắn với việc hình thành và sử
dụng vốn tiền tệ. Các quan hệ kinh tế này phụ thuộc phạm trù tài chính và trở thành
công cụ quản lí sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp.
Bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng
Trong đó, về mặt tài chính phải xem xét các khoản chi tiêu vốn cho đầu tư và thu
nhập do đầu tư đưa lại hay nói cách khác là xem xét dòng tiền ra và dòng tiền vào
liên quan đến khoản đầu tư để đánh giá cơ hội đầu tư về mặt tài chính của việc đầu
tư.
b. Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đủ nhu
cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp
Để có thể tổ chức huy động vốn kịp thời và đầy đủ điều đầu tiên mỗi doanh
nghiệp phải xác định nhu cầu vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn
vốn huy động gồm cả nguồn vốn ngắn hạn, nguồn vốn dài hạn. Tiếp theo là tổ chức
huy động kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp. Để có
được cơ cấu nguồn vốn thích hợp nhất, cần xem xét cân nhắc nhiều mặt như kết cấu
nguồn vốn hiện tại của doanh nghiệp, chi phí sử dụng vốn từng nguồn, phân tích
điểm lợi và bất lợi của từng phương thức huy động.
c. Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu chi và
đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là việc huy động các nguồn vốn
mà điều quan trọng và khó khăn hơn là sử dụng vốn hiện có đó như thế nào để đem
8
lại hiệu quả cao nhất. Tiến hành phân loại số vốn hiện có của doanh nghiệp theo các
tiêu thức khác nhau nhằm thuận lợi cho công tác quản lý vốn, đồng thời tránh tình
trạng ứ đọng vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Theo dõi các khoản thu, chi trong
quá trình hoạt động kinh doanh. Tìm các biện pháp nhằm lập lại sự cân bằng giữa
thu và chi bằng tiền để đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
d. Thực hiện việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của
doanh nghiệp
Phân phối lợi nhuận là việc giải quyết mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa các
bên. Việc phân phối lợi nhuận vừa đảm bảo nguồn lực cho sự phát triển lâu dài của
chính phản ánh khả năng sinh lời sau:
- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Chỉ tiêu này đo lường mức lợi nhuận sau thuế thu được trên mỗi đồng vốn
chủ sở hữu trong kỳ kinh doanh (1 năm hay 6 tháng hay 1 quý)
ROE = Lợi nhuận sau thuế trong kỳ / VCSH bình quân
Chỉ số này càng cao thì hiệu quả càng lớn.
- Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên tổng tài sản:
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng tài sản tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doanh trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế.
Tỷ suất LNTT/TTS = Lợi nhuận trước thuế / TTS bình quân
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản hay tỷ suất lời ròng của tài sản
(ROA)
ROA = Lợi nhuận sau thuế / TTS bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời của đồng tài sản sau khi đã trang trải cả
lãi vay và thuế.
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (hệ số lãi ròng – ROS)
ROS = Lợi nhuận sau thuế trong kỳ / DT thuần trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện tỷ lệ thu hồi lợi nhuận trên doanh số bán được. Qua đó
cho chúng ta biết được tỷ lệ phần trăm của mỗi đồng doanh số sẽ đóng góp vào lợi
nhuận. Hệ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi, tỷ số càng
lớn nghĩa là lãi càng lớn. Hệ số này âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ. Nếu tỷ
10
lệ này tăng chứng tỏ khách hàng chấp nhận mua giá cao, hoặc cấp quản lý kiểm soát
chi phí tốt, hoặc cả hai. Nếu tỷ lệ này giảm có thể báo hiệu chi phí đang vượt tầm
kiểm soát của cấp quản lý, hoặc công ty đó đang phải chiết khấu để bán sản phẩm
hay dịch vụ của mình.
Chỉ tiêu này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Vì thế, khi
cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này tăng thể hiện doanh nghiệp đang sử dụng lãng phí
tài sản của mình, hoặc công tác quản lý tài sản kém hiệu quả. Để đánh giá việc sử
dụng tài sản kinh doanh của doanh nghiệp, ta so sánh chỉ tiêu này giữa 2 kỳ nghiên
cứu để xem xét chỉ tiêu này tăng lên hay giảm đi, do những nguyên nhân nào để đưa
ra biện pháp khắc phục.
Tài sản của doanh nghiệp được dùng để đầu tư cho các loại tài sản ngắn hạn
và tài sản dài hạn. Do đó các nhà phân tích quan tâm tới việc đo lường hiệu quả sử
dụng của từng bộ phận cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp.
Năng suất tài sản ngắn hạn
Năng suất TSNH = Doanh thu thuần / TS ngắn hạn bình quân
Hoặc:
Số ngày một vòng quay TSNH = 365 ngày /Năng suất TSNH
Chỉ tiêu này cho biết để hoàn thành một vòng quay tài sản ngắn hạn thì cần
bao nhiêu ngày, chỉ tiêu này càng nhỏ phản ánh tốc độ luân chuyển tài sản càng
nhanh và ngược lại.
Trong tài sản ngắn hạn, có thể tính chi tiết cho các yếu tố thành phần của tài
sản ngắn hạn, như:
- Vòng quay hàng tồn kho:
Số vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần hàng tồn kho luân chuyển trong
kỳ.
Vòng quay hàng tồn kho = DTT hoặc Giá vốn hàng bán/ HTK bình quân
Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp. Nếu số vòng quay hàng tồn kho cao so với doanh nghiệp trong ngành cho
biết việc tổ chức và quản lý hàng tồn kho là tốt, công tác bán hàng hiệu quả. Nếu số
vòng quay hàng tồn kho thấp có thể do doanh nghiệp dự trữ nguyên vật liệu quá
mức gây tình trạng ứ đọng vốn, sản phẩm bị tiêu thụ chậm. Từ đó, có thể đặt doanh
nghiệp vào tình thế khó khăn về tài chính trong tương lai. Như vậy, để phân tích chỉ
12
13
khả năng thanh toán. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ
giữa tài sản và nguồn vốn. Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu:
- Hệ số khả năng thanh toán hiện hành
Là mối tương quan giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn, là thước
đo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành = Tổng TSNH/ Nguồn vốn NH
Tỷ số này cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản ngắn hạn có thể
chuyển đổi thành tiền mặt để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số này lớn hơn
hoặc bằng 1 thể hiện tất cả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ đều
có tài sản đảm bảo.
Hệ số này nhỏ hơn 1 thể hiện khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp ở
mức độ thấp và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tiềm ẩn về tài chính có
thể xảy ra.
Hệ số này cao hơn 1, cho thấy tại thời điểm phân tích doanh nghiệp sẵn sàng
thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo khả năng trả nợ ngay các
khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ mà không cần bán đi vật tư hàng hóa.
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Nguồn vốn ngắn hạn
Nhìn chung, hệ số này càng gần 1 thì càng tốt, nhưng nếu quá cao cần xem
xét lại, vì có thể xảy ta trường hợp hệ số cao trong TSNH các khoản phải thu khó
đòi chiếm tỷ lệ trọng lớn. Điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của
doanh nghiệp, gây tình trạng vòng quay của vốn chậm, phát sinh một số chi phí. Do
vậy, chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán tức thời được thiết lập, nhằm giúp chúng ta
thì có nhiều cơ hội cho doanh nghiệp đầu tư phát triển, từ đó đòi hỏi doanh nghiệp
phải tích cực áp dụng các biện pháp huy động vốn để đáp ứng yêu cầu đầu tư, khả
năng tìm kiếm các nguồn tài trợ cũng trở nên dễ dàng, điều kiện kinh doanh thuận
lợi nên hầu như các chỉ số tài chính của các doanh nghiệp đều tốt. Ngược lại, nền
15
kinh tế đang trong tình trạng suy thoái thì doanh nghiệp khó có thể tìm được cơ hội
tốt để đầu tư.
Lãi suất thị trường: Lãi suất thị trường là yếu tố tác động rất lớn đến hoạt
động tài chính của doanh nghiệp. Lãi suất thị trường ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư,
đến chi phí sử dụng vốn và cơ hội huy động vốn của doanh nghiệp. Mặt khác, lãi
suất thị trường còn ảnh hưởng gián tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Khi lãi suất thị trường tăng cao thì người ta có xu hướng tiết kiệm
nhiều hơn tiêu dùng, điều đó làm hạn chế việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Trong trường hợp này, các hệ số về vòng quay tài sản ngắn hạn và vòng quay vốn
kinh doanh sẽ giảm, sức sinh lời doanh thu của doanh nghiệp cũng giảm theo.
Lạm phát: Khi nền kinh tế lạm phát ở mức độ cao thì việc tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp gặp khó khăn khiến cho tình trạng tài chính của doanh nghiệp
căng thẳng. Nếu doanh nghiệp không áp dụng các biện pháp tích cực thì có thể bị
thất thoát vốn kinh doanh. Lạm phát cũng làm cho nhu cầu vốn kinh doanh tăng lên
và tình hình tài chính của doanh nghiệp không ổn định.
Chính sách kinh tế và tài chính của Nhà nước đối với các doanh nghiệp như
chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách thuế, chính sách xuất khẩu, nhập khẩu,
chế độ khấu hao tài sản cố định... đây là yếu tố tác động lớn đến các vấn đề tài
chính của doanh nghiệp.
Mức độ cạnh tranh: Nếu doanh nghiệp hoạt động trong những ngành nghề,
lĩnh vực có mức độ cạnh tranh cao đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư nhiều hơn cho
việc đổi mới thiết bị, công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm, cho quảng cáo,
tranh của sản phẩm trên thị trường, từ đó góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận cho
doanh nghiệp. Khi các yếu tố này tăng, các chỉ số tài chính của doanh nghiệp sẽ
luôn tốt, thương hiệu của công ty sẽ ngày một bền vững và vững mạnh.
Trình độ lao động: Bên cạnh việc sử dụng công nghệ hiện đại trong quá trình
sản xuất, một vấn đề luôn đi liền với nó là trình độ của lao động trong doanh
nghiệp. Doanh nghiệp muốn áp dụng công nghệ mới thì trước hết phải nâng cao
trình độ cho công nhân viên của mình, để tránh lãng phí trong việc sử dụng tài sản,
doanh nghiệp cần bố trí lao động có trình độ cao sản xuất trong những khu vực có
công nghệ hiện đại, 2 nhân tố này kết hợp với nhau sẽ làm tăng năng suất lao động
17
cho doanh nghiệp, làm gia tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực và gia tăng khả
năng tích lũy.
1.2. Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Thực chất, ý nghĩa của việc phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là tổng thể các quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu, và
so sánh số liệu... để đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà
quản lý đưa ra được quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp,
từ đó giúp những đối tượng quan tâm đi tới dự đoán chính xác về mặt tài chính của
doanh nghiệp, qua đó có các quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ.
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là công việc làm thường xuyên
không thể thiếu trong quản lý tài chính doanh nghiệp, việc làm này sẽ cung cấp
thông tin cho người sử dụng từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, vừa
tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính của doanh
nghiệp để nhận biết phán đoán và đưa ra quyết định tài chính, quyết định đầu tư và
quyết định tài trợ phù hợp.
Thông qua các báo cáo tài chính để phân tích tình hình tài chính của doanh
nghiệp là mối quan tâm của nhiều đối tượng, mỗi đối tượng này lại có nhu cầu về
cổ phần là bao nhiêu? Mức tăng trưởng cao hay thấp? Nhà đầu tư luôn mong muốn
mỗi đồng vốn bỏ ra sinh lời cao nhất đồng thời họ phải tìm cách bảo vệ an toàn cho
đồng vốn của mình. Vì vậy, ngoài việc quan tâm đến cổ tức, mức độ hoàn vốn, tỷ lệ
tăng trưởng, các nhà đầu tư còn quan tâm đến mức độ rủi ro của các dự án đầu tư.
Phân tích TCDN sẽ giúp cho họ biết được giới hạn an toàn của đồng vốn đến mức
nào, khả năng sinh lời của nó cao hay thấp? Từ đó các nhà đầu tư sẽ có cơ sở để
xem xét tiếp có nên quyết định đầu tư hay không? Nếu có thì mức độ đầu tư là bao
nhiêu thì hợp lý?
- Phân tích TCDN đối với người cho vay: Người cho vay bao gồm các ngân
hàng và các tổ chức tín dụng cũng có thể là các doanh nghiệp khác, đây là những
người cho doanh nghiệp vay vốn để đảm bảo nhu cầu sản xuất kinh doanh. Mục
đích của họ là muốn biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp như thế nào?
Phân tích TCDN sẽ cho họ biết được những thông tin cần thiết về năng lực tài chính
của khách hàng, từ đó đưa ra quyết định đúng đắn về việc cho cho doanh nghiệp
vay hay không?
19
+ Các chủ ngân hàng quan tâm đến vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, coi đó
như nguồn đảm bảo cho ngân hàng có thể thu hồi nợ khi doanh nghiệp thua lỗ hay
phá sản. Ngân hàng sẽ hạn chế cho các doanh nghiệp vay khi nó có dấu hiệu không
có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
+ Cũng giống như các chủ ngân hàng, các nhà cung cấp tín dụng khác như:
các doanh nghiệp cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cần thông tin để quyết định bán
hàng trả chậm cho doanh nghiệp hay không.
- Phân tích tài chính đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: Bao gồm các cơ
quan quản lý cấp bộ, cơ quan thuế, thanh tra tài chính... Các cơ quan dựa vào báo
cáo tài chính của doanh nghiệp để phân tích, đánh giá tình hình tài chính nhằm mục
đích kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời qua đó giúp các cơ
Quá trình vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chính trong tiến trình
phân phối để tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc hoạt động và chuyển hóa ra sao,
có phù hợp với mục tiêu mong muốn của các đối tượng quan tâm đến TCDN là nội
dung nghiên cứu cụ thể của phân tích TCDN.
Kết quả kinh tế tài chính thuộc đối tượng nghiên cứu của phân tích TCDN có
thể là kết quả của từng khâu, từng bộ phận, từng quan hệ kinh tế, từng quyết định
kinh tế như mua vào, bán ra, bộ phận A, B quan hệ kinh tế nội sinh, ngoại sinh,
quyết định sử dụng vốn chủ, vốn vay... cũng có thể là kết quả tổng hợp của cả quá
trình vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp.
Phân tích TCDN hướng vào việc thực hiện các mục tiêu, kế hoạch đặt ra
hoặc là kết quả đã đạt được ở các kỳ trước đồng thời xác định kết quả có thể đạt
được trong tương lai. Phân tích TCDN cần nghiên cứu mối quan hệ biện chứng,
khách quan giữa các hiện tượng và sự kiện kinh tế để quá trình tổ chức thực hiện
các quyết định đặt ra không xa rời mục tiêu đã định hướng.
Quá trình và kết quả tổ chức vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chính
của doanh nghiệp có thể được biểu hiện bằng những chỉ tiêu kinh tế cụ thể nhưng
cũng có thể được thể hiện thông qua miêu tả cuộc sống kinh tế tài chính đang và sẽ
diễn ra. Sự miêu tả cùng với nghiên cứu xem xét các chỉ tiêu kinh tế cụ thể, những
nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng đến các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị
gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình
kinh doanh chính là nội dung nghiên cứu của phân tích TCDN.
21
1.2.2. Trình tự phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1. Kỳ phân tích và chỉ tiêu dùng để phân tích
- Kỳ phân tích tài chính có thể sử dụng: 1 quý, 6 tháng hay 1 năm hoặc dài
hơn 1 năm. Thông thường để phân tích tài chính doanh nghiệp người ta thường sử
dụng kỳ phân tích là 1 năm. Để so sánh các chỉ tiêu tài chính giữa các kỳ chúng ta
+ Các đại lượng phải dảm bảo tính chất so sánh được. Đó là sự thống nhất về
nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và
đơn vị đo lường.
Ngoài ra, trong trường hợp so sánh 2 doanh nghiệp với nhau, ngoài các điều
kiện nêu trên, thì vần đảm bảo điều kiện khác như cùng quy mô, loại hình hoạt động,
có điều kiện kinh doanh tương tự nhau.
-
Xác định gốc để so sánh:
Kỳ gốc so sánh tùy thuộc vào mục đích của phân tích:
+ Gốc so sánh là kỳ kế hoạch khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu,
nhiệm vụ đặt ra.
+ Gốc so sánh là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hàng loạt kỳ
trước ( năm trước) nếu mục đích của phân tích nhằm xác định xu hướng và tốc độ
phát triển của chỉ tiêu phân tích.
+ Gốc so sánh có thể là số liệu của một doanh nghiệp hoặc có thể là số liệu
trung bình của ngành khi đánh giá vị trí doanh nghiệp so với doanh nghiệp khác
hoặc tổng thể một ngành.
-
Kỹ thuật so sánh:
+ So sánh về số tuyệt đối: Là việc xác định chênh lệch giữa trị số của chỉ tiêu
phân tích với trị số của kỳ gốc. Kết quả so sánh cho thấy sự biến động về số tuyệt
đối của chỉ tiêu hiện tượng kinh tế đang nghiên cứu.
+ So sánh số tương đối: Là xác định số % tăng (giảm) giữa thực tế so với kỳ
gốc để so sánh.
b. Phương pháp tỷ lệ
1.2.2.3. Tài liệu dùng để phân tích
Để phân tích một cách toàn diện và đầy đủ về tình hình tài chính doanh
nghiệp, chúng ta sử dụng rất nhiều tài liệu khác nhau, từ nhiều nguồn khác nhau,
bao gồm tài liệu bên trong và bên ngoài doanh nghiệp:
a. Tài liệu bên trong doanh nghiệp, bao gồm: báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo
tài chính và một số tài liệu, chứng từ khác...
- Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh: Khác với bảng cân đối kế
toán, báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình
24