Cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính và Vũ Hoàng Chương trước năm 1945 - Pdf 39

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đã hơn 80 năm trôi qua kể từ ngày phong trào Thơ mới ra đời. Trải qua bao
cuộc thăng trầm trong sự nhìn nhận, đánh giá, đến nay Thơ mới đã tự khẳng định vị
thế của mình trên tiến trình lịch sử văn học dân tộc, trở thành mối quan tâm của nhiều
thế hệ người đọc và thế hệ các nhà nghiên cứu – phê bình.
Sánh ngang cùng những tên tuổi sáng chói như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân
Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử… Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương
xứng đáng có một vị trí vinh dự trong những thi nhân xuất sắc nhất nền thơ Việt Nam
nói chung và phong trào Thơ mới nói riêng.
Cảm thức về thân phận là tâm trạng chung của cả một thế hệ thanh niên trí thức
tiểu tư sản những năm 1932 – 1945. Đó là tiếng nói của những con người luôn day
dứt về thân phận, đau đớn về thời thế, về tài năng uổng phí, công danh lỡ dở. Cảm
thức về thân phận trong thời đại bấy giờ là một biểu hiện của ý thức cá nhân, ý thức
khao khát sống và cống hiến của cả một thế hệ. Tìm hiểu về cảm thức thân phận là
thấy được một phần giá trị nhân đạo, nhân văn của phong trào Thơ mới.
Ở mỗi một tác giả, cảm thức về thân phận được thể hiện với đa dạng sắc thái
khác nhau. Vậy mà trong sâu thẳm tâm hồn của hai thi sỹ Nguyễn Bính, Vũ Hoàng
Chương, người đọc lại nhận thấy những nét đồng điệu. Qua thi phẩm của họ, người
đọc đều có chung một cảm nhận về một “cái tôi” tha hương, lạc loài, giang hồ, cô
đơn, đau khổ trong tình yêu, trong sự nghiệp, trong cuộc đời.
Đến với đề tài “Cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính và Vũ Hoàng
Chương trước năm 1945”, người viết mong muốn làm sáng tỏ giá trị nhân văn tỏa
ra từ tâm hồn của hai thi sỹ. Từ đó, luận văn muốn góp thêm tiếng nói khẳng định
hồn thơ độc đáo của hai tài năng thi ca trong phong trào Thơ mới 1932 -1945.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu về thơ của Nguyễn Bính và Vũ Hoàng Chương
2.1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính
Trước Cách mạng 8/ 1945
Phần lớn những sáng tác THƠ có giá trị của Nguyễn Bính được ra đời trong giai
đoạn này, và đương thời ông đã nhận được sự mến mộ của đông đảo người đọc. Tuy

Trước Cách mạng 8/1945
Giai đoạn này những sáng tác của Vũ Hoàng Chương chưa được chú ý nhiều.
“Thi nhân Việt Nam” của tác giả Hoài Thanh và “Nhà văn hiện đại” của Vũ Ngọc
2


Phan là những cuốn sách đầu tiên có ý kiến đánh giá về thơ Vũ Hoàng Chương.
Trong những nhận định mang tính khái quát về Vũ Hoàng Chương, giữa hai nhà
nghiên cứu đã thể hiện những quan điểm đánh giá trái chiều.
Sau Cách mạng 8/1945 đến 1975
Thơ Vũ Hoàng Chương bắt đầu được chú ý, đồng thời xuất hiện nhiều hơn
những quan điểm nhìn nhận, đánh giá không đồng nhất.
Ngoài Bắc, tình hình nghiên cứu không sôi nổi bằng trong Nam, những bài viết
về Vũ Hoàng Chương còn hạn chế về số lượng, bị chi phối nhiều bởi quan điểm
chính trị. Tiêu biểu có cuốn “Văn học lãng mạn Việt Nam”, ra đời năm 1966. Đứng
trên quan điểm phê bình Macxit, tác giả đã có cái nhìn tương đối tiêu cực đối với thơ
Vũ Hoàng Chương. Ở miền Nam, tên tuổi và các sáng tác của Vũ Hoàng Chương
xuất hiện nhiều trên báo, tạp chí. Tiêu biểu là Tạp chí Văn học Sài Gòn.

Ngoài

ra, thơ Vũ Hoàng Chương còn được nhắc đến trong một số công trình nghiên cứu của
các tác giả như Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng, Uyên Thao, Tạ Tỵ.
Từ 1975 đến nay
Sau 1975, đặc biệt từ sau đổi mới đến nay, khi cái nhìn đối với Thơ mới trở nên
cởi mở, khách quan, thì thơ Vũ Hoàng Chương cũng được nhắc đến nhiều hơn trên
văn đàn, việc đánh giá thơ ông đã có nhiều chiều hướng tích cực.
Năm 1992, Đỗ Lai Thúy cho ra mắt độc giả cuốn “Con mắt thơ” (Phê bình
phong cách Thơ mới). Đây là công trình đầu tiên có một bài viết công phu, tỉ mỉ về
Vũ Hoàng Chương và thơ ông. Năm 1997, cuốn Một thời đại trong thi ca (về phong

không vừa an hưởng, nhìn thân phận trôi đi, trôi đi như ảo ảnh để nuối tiếc giấc mơ
thành bướm thuở nào.”[67]
2.2.2. Nhà phê bình Thanh Việt trong bài viết “Tình yêu trong thơ Nguyễn
Bính” có đoạn ghi:
“Thơ Nguyễn Bính là tiếng lòng buồn bã, lỡ làng của trái tim đang thổn thức yêu
đương và đến với người đọc như một cô gái quê kín đáo, duyên dáng. Thơ tình Nguyễn
Bính được nhiều bạn đọc yêu mến ở cả nông thôn và thành thị, miền Bắc và miền Nam
cũng bởi tính chất mộc mạc, sâu sắc, tế nhị, hợp với phong cách Á Đông.”[tr162/31]
Cũng trong bài viết này, tác giả Thanh Việt đã có đoạn so sánh giữa thế giới tình
yêu trong thơ Nguyễn Bính với thế giới tình yêu trong thơ Vũ Hoàng Chương:

4


Thế giới quan chi phối sáng tác của nhà thơ. Vũ Hoàng Chương trốn vào tình
yêu nhưng tình yêu ấy xen nhiều nhục thể và không có chỗ bám víu nào vững chắc,
đi ra ngoài cuộc đời. Nguyễn Bính không ở trong tình cảnh thoát ly, nhà thơ vẫn gắn
bó với cuộc đời. Sự tưởng tượng trong thơ tạo nên một thế giới ảo gần gũi với cuộc
đời thật và có mối liên hệ với cuộc đời thực.[31]
2.2.3. Trong cuốn “Một thời đại trong thi ca” của tác giả Hà Minh Đức có đoạn viết:
“Vũ Hoàng Chương không tìm được sự hòa hợp với cuộc đời chung cho dù là
một khoảnh khắc và một mảnh đất riêng tư nào. Chuyện thành bại trực tiếp là ở tác
giả song cũng có nguyên nhân sâu xa trong đời. Thời cuộc lúc này như vây hãm mọi
người trong vòng tù túng, tước bỏ những khả năng và uốc mơ sáng tạo. Chính Xuân
Diệu cũng phải thốt lên “Chúng ta nay trong cuộc thế ao tù” và Huy Cận cũng cầu
mong sự giải thoát ở Thượng đế. Tù hãm, bơ vơ, chốn trần thế này chẳng còn hứa
hẹn một điều gì. Vũ Hoàng Chương đã nói lên cảm giác lạc loài của một kẻ không
tìm thấy những mối liên hệ với cộng đồng và rơi vào tình trạng mất phương hướng,
buông xuôi như con thuyền mặc cho đời vỗ sóng.” [tr219/15]
2.2.4. “Ba đỉnh cao thơ mới” của nhà phê bình Chu Văn Sơn là một công trình

đã thấy, lịch sử nghiên cứu về thi nhân chưa nhiều, và chủ yếu mới tập trung vào
mảng đề tài “tình yêu”, “thú say”, hoặc thẩm bình một số bài thơ tiêu biểu của tác
giả. Tính đến thời điểm này, vấn đề “cảm thức thân phận” trong thơ trước 1945 của
hai thi sỹ vẫn đang bỏ ngỏ và là đề tài đáng được quan tâm. Đặc biệt, việc nghiên cứu
một cách sóng đôi cảm thức thân phận của cả hai thi sỹ (vốn rất khác nhau về phong
cách) thực sự là một đề tài mới mẻ và hấp dẫn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Là các tập thơ của hai tác giả Nguyễn Bính và Vũ Hoàng Chương sáng tác trong
thời kì trước Cách mạng tháng Tám:
Nguyễn Bính: Lỡ bước sang ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940), Hương cố nhân
(1941), Một nghìn cửa sổ (1941), Người con gái ở lầu hoa (1942), Mây tần (1942),
Mười hai bến nước (1942).
Vũ Hoàng Chương: Thơ say (1940), Mây (1943).
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn xác định giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ yếu là “Cảm thức thân
phận trong thơ” của hai thi sỹ Nguyễn Bính và Vũ Hoàng Chương trong những
tập thơ nêu trên.
6


4. Nhiệm vụ của đề tài:
4.1. Xác định khái niệm cảm thức thân phận và phân tích cơ sở hình thành nên
cảm thức ấy trong thơ Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương.
4.2. Phân tích những biểu hiện của cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính,
Vũ Hoàng Chương.
4.3. Tìm hiểu phương thức thể hiện cảm thức thân phận của hai nhà thơ.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thống kê, phân loại
5.2. Phương pháp so sánh – đối chiếu

mãi nét chân quê. Nhà thơ tôn thờ quá khứ đến mức chối từ mọi sự đổi thay của
thời thế, trong khi đến cả ông giời cũng đổi thay. Không đơn giản là chối bỏ, mà
một cách tự nhiên nhất, con người ấy không thể tiếp nhận cuộc sống mới, vì thế
mà trở nên lẻ loi, lạc loài. Nhân vật trữ tình trong thơ Vũ Hoàng Chương cũng là
con người lạc lõng, khép lòng trước hiện tại, hướng về những giá trị truyền thống.
Đây chính là điểm chung trong cảm thức về thân phận của hai nhà thơ.
Tuy nhiên, giữa chàng trai thôn dân Nguyễn Bính, với chàng trai thị thành Vũ
Hoàng Chương, cảm thức thân phận cô đơn lạc loài vẫn mang nhiều điểm khác
biệt độc đáo.
Nếu như Nguyễn Bính hướng về với ngày xưa của nông thôn Việt Nam mà chối
bỏ thị thành, thì dường như Vũ Hoàng Chương lại đề cao những giá trị mang tính
khuôn thước, cổ kính của văn hóa Đông phương.
Nếu như Nguyễn Bính vấp phải bi kịch của một kẻ thôn dân bị vứt bỏ giữa chốn
thị thành, không thể nhập cuộc mà trở nên lạc lõng, thì Vũ Hoàng Chương lại vấp
phải bi kịch của một con người luôn ý thức cao về cá nhân, muốn được đem cái tài
của mình ra khẳng định với đời nhưng không được thỏa mãn nên cảm thấy bơ vơ, lạc
loài như kẻ “đầu thai lầm thế kỷ”.
Những năm tháng tuổi thơ sống gắn bó với miền quê thôn Vân đất mẹ đã nuôi
dưỡng tâm hồn dung dị, mộc mạc trong Nguyễn Bính. Những tư tưởng và nếp sinh
hoạt bao đởi đã ăn sâu trong thi sỹ từ rất sớm. Buổi giao thời với những đổi thay của
đời sống xã hội đã khiến chàng trai thôn dân Nguyễn Bính dứt áo từ bỏ “vườn cam”,
“mái gianh” để đi “gian díu với kinh thành”, mong ước xây mộng đẹp đời mình.
Nhưng một kẻ nặng lòng với quá khứ như Nguyễn Bính tuy háo hức với những cái mới
8


đang hình thành, vẫn không thoát khỏi nỗi niềm khắc khoải, day dứt trước những giá trị
cũ đang mất đi. Bước chân vào đời sống đô thị với nhiều hi vọng và mơ ước, nhưng
Nguyễn Bính ngày càng trở nên xa lạ, lạc lõng trước sự tha hóa và đổi thay của nó. Mà
trước hết là ở sự đổi thay của tình người, trong đó có tình cảm bạn bè, tình yêu đôi lứa.

Niềm u uất dâng cao hề tháng ngày trôi xuôi.
(Túy hậu cuồng ngâm)
2. Cảm thức về ái tình đau khổ
Cũng như nhiều thi nhân ngày ấy, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương tìm cho
mình lối thoát trong tình yêu – con đường thoát ly quen thuộc của Thơ mới. Nhưng
sống giữa cuộc đời muôn vàn nỗi đau khổ, tình yêu cũng không đủ sức cứu cánh cho
những tâm hồn ấy. Hay như lời Hoài Thanh: “….động tiên đã khép, tình yêu không bền,
điên rồi lại tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ…”, họ trở thành con người thất bại, lỡ làng, mất mát
trong tình ái.
Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương bước đời mình vào yêu đương với những trái
tim chân thành, nồng cháy, yêu bằng tất cả sự thơ ngây và bằng cả những trải
nghiệm. Hai chàng thi sỹ ấy đã hiến dâng cho vị thần tình ái trọn vẹn trái tim si mê,
rạo rực của tuổi trẻ, nhưng hạnh phúc không thân thiện mỉm cười với họ.
Thơ Nguyễn Bính viết nhiều về tình yêu, nhưng không mấy khi người ta bắt gặp ở
đó nụ cười mãn nguyện mà chỉ thấy nhiều buồn đau và nước mắt. Bởi phần lớn những
cuộc tình là đơn phương thầm lặng, hoặc người ta bỏ nhà thơ mà đi, cho nên cái ấn
tượng về sự khổ đau nó hằn in trong tâm trí, đi vào thơ một cách tự phát. Con tim đa tình
kia đã bao lần trao gửi, nhưng không nơi nào cho nó một bến đỗ bình yên. Hết lần này
đến lần khác, trái tim đa cảm ấy rơi vỡ và ngày càng mang nhiều thương tích.
Yêu thương và oán hận, Nguyễn Bính yêu say mê, đắm đuối để rồi khi người ta
phụ bạc, bao nhiêu yêu thương ấy uất nghẹn thành nỗi căm hận, có khi bật ra thành
tiếng chửi cay đắng, thái độ bất cần. Thi nhân viết những câu thơ đầy mỉa mai gửi
đến người đã cùng chung mộng uyên ương một thời. Nhưng trong sâu thẳm lòng thi
sỹ, vẫn nhiều đêm dâng lên nỗi niềm chua chát. Đằng sau những lạnh nhạt, mai mỉa
bên ngoài, là cả nỗi niềm suy tư, sầu muộn, cả thế giới niềm tin đổ vỡ. Dù có đôi khi
Nguyễn Bính viết những lời thơ gay gắt, nhưng nhìn lại, cái buồn đau trong thơ ông
phần nhiều là sâu lắng, ngậm ngùi, tủi khổ.
Ở vào chặng đường cuối của Thơ mới, khi cái tôi cá nhân đã rơi vào tình cảnh
bế tắc cực độ, những bài thơ tình của Vũ Hoàng Chương dường như rơi vào trạng
10

nhiều nét chân thực, sinh động khởi phát từ một tâm hồn tuổi trẻ giàu niềm tin và hi
vọng vào cuộc sống. Cái mơ ấy có phần tỉnh táo của lý trí, vừa là ao ước, vừa là dự
11


định trong đời. Nhưng trước những va đập lạnh lùng của đời sống, ước mơ đó trở
thành giấc mộng xa vời. Trái tim thi sỹ dần nhuốm đầy khổ đau, ngày càng trở nên cô
đơn tận cùng, tạo thành một ấn tượng, ám ảnh trong vô thức. Bởi vậy, mà một cách tự
phát, giấc mơ của Nguyễn Bính hướng về mộng ảo, tự phân đôi mình để có đối tượng
tâm tình. Tuy nhiên, có thể nói rằng, từ giấc mộng trong thơ Nguyễn Bính đến giấc
mộng trong thơ Vũ Hoàng Chương còn là một khoảng cách lớn.
3. Cảm thức về công danh lỡ lở, tài năng uổng phí
Là những thanh niên trí thức tiểu tư sản, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương đều
được học hành đầy đủ, am hiểu về chữ nghĩa, văn chương. Và như bao thanh niên trẻ
ngày ấy, họ sớm mang trong mình nhiệt huyết, khát vọng thành danh. Giữa thời đại
cái tôi lên ngôi, họ càng khao khát hơn được khẳng định tài năng, vị thế của mình
trong xã hội. Nhưng chính cơn chuyển mình đầy biến động của thời thế, đã đẩy
những con người ấy vào biết bao bi kịch. Họ lâm vào cảnh ngộ của những con người
đổ vỡ lý tưởng, uổng phí tài năng, công danh lỡ dở.
Đọc thơ Nguyễn Bính, người ta thấy ông mơ nhiều tới hình ảnh Quan Trạng.
Giấc mộng Trạng nguyên là ước mơ thành danh bao đời của các chàng Nho sinh
trong xã hội cũ.
Sớm được tiếp thu nền Hán học uyên thâm từ Người cậu Bùi Trình Khiêm, lại
sinh ra trong gia đình có truyền thống khoa bảng mấy đời hiển đạt, nên giấc mộng
Trạng Nguyên ám ảnh tâm tư, ước vọng của Nguyễn Bính một cách sâu sắc. Ước
muốn trở thành Trạng Nguyên trong ông không chỉ là khát vọng được khẳng định tài
năng, có một vị trí cao trong xã hội, mà có lẽ còn xuất phát từ chính cái nghèo.
Một điều dễ nhận thấy, là trong thơ Nguyễn Bính, giấc mộng công danh luôn hòa
quyện, vấn vít cùng giấc mơ ái tình. Hình ảnh Quan Trạng thường được đặt sóng đôi
cùng bóng giai nhân. Khi chàng nho sinh trở thành Quan Trạng, cũng là khi chàng có

nỗi đau thời cuộc, có lúc trong thơ Vũ còn viết những lời thơ bất mãn, mỉa mai chính
mình, tự cho rằng mình là kẻ bất tài vô dụng. Thậm chí, có lúc thi nhân như muốn rũ
bỏ, phá tan tất cả, buông xuôi cuộc sống, không còn thiết tha nuôi lý tưởng trong đời.
Ở chính phút giây thi nhân tuyệt vọng nhất, quyết định dứt bỏ mọi ước mơ, cố gắng,
cũng là lúc chìm vào men rượu. Con người ấy thực chất không bao giờ chấp nhận
sống vô nghĩa trước cuộc đời, nên đâu thể dễ dàng rũ bỏ mọi thứ. Sau mỗi cơn say
dài, nỗi đau trong lòng thi nhân càng thêm nhức nhối.
13


CHƯƠNG III
CẢM THỨC THÂN PHẬN
TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH, VŨ HOÀNG CHƯƠNG
NHÌN VỀ MẶT PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN
1. Hình ảnh và biểu tượng
Tìm hiểu hình ảnh và biểu tượng trong thơ chính là đi vào đặc trưng cơ bản nhất
của văn học, bởi văn học phản ánh hiện thực và bộc lộ thế giới nội tâm của nhà thơ
thông qua việc xây dựng hệ thống hình ảnh và biểu tượng bằng ngôn từ nghệ thuật.
Hình ảnh thơ là những “tín hiệu nghệ thuật” thể hiện sinh động cuộc sống, kết
tinh những rung cảm mạnh mẽ trong thế giới tâm hồn của nhà thơ, vừa cụ thể, cảm
tính, vừa khái quát và có ý nghĩa thẩm mỹ.
Biểu tượng vừa là kết quả của hoạt động nhận thức vừa là phương tiện biểu đạt
của hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Biểu tượng có sức biểu hiện gây ấn tượng đậm nét
trong nhận thức của người đọc, có hiệu lực trên bình diện giá trị và tạo nên sự rung
động tình cảm thẩm mỹ.
Các nhà thơ lãng mạn của Phong trào Thơ mới (1932-1945), nhất là với Nguyễn
Bính và Vũ Hoàng Chương, hình ảnh thơ vừa kế thừa những hình ảnh của văn học
truyền thống, vừa có sự liên tưởng, sáng tạo độc đáo, từ đó đem đến những biểu hiện
mới, những rung cảm thẩm mỹ mới.
1.1 Hệ thống hình ảnh và biểu tượng biểu hiện cảm thức thân phận trong thơ

cảm yêu thương của “tôi” với “nàng”. Hình ảnh “sợi tơ” đứt trên phím đàn trong bài
thơ Đàn tôi của Nguyễn Bính dường như là để thể hiện một sự thiếu hụt, trống trải
trên con đường tình duyên của nhà thi sỹ.
Cũng có không ít hình ảnh con thuyền, dòng sông, bến nước trong thơ Nguyễn
Bính. Những hình ảnh này mang tính biểu tượng cho sự lênh đênh, nổi trôi không hạn
định của cuộc đời thi nhân. Trở về với ca dao, nhà thơ tiếp nhận hình ảnh con thuyền của
ca dao, nhưng đã đem đến cho hình ảnh con thuyền một biểu tượng khác, hình ảnh con
thuyền là biểu tượng cho sự trôi dạt “ngược xuôi” không định hướng.
Ngoài ra, ta còn bắt gặp những biểu tượng khác trong thơ Nguyễn Bính, với tần
số xuất hiện tuy không nhiều, nhưng cũng để lại những ấn tượng khá mạnh trong tâm
trí người đọc như cánh chim giang hồ, cánh chim lìa đàn hoặc biểu tượng quan trạng
hay dòng sông, con đò v.v...
15


Hệ thống hình ảnh mang tính biểu tượng trong thơ Nguyễn Bính có phần nào đó
tiếp nối những hình ảnh của văn chương dân gian. Tuy nhiên, nhà thơ đã đem đến
cho hệ thống những hình ảnh và biểu tượng ấy những ý nghĩa mới trong những hoàn
cảnh cụ thể.
1.2 Hệ thống hình ảnh và biểu tượng biểu hiện cảm thức thân phận trong thơ
Vũ Hoàng Chương
Bắt gặp trong thơ Vũ Hoàng Chương nhiều nhất cũng là hình ảnh con thuyền với
những ý nghĩa và biểu tượng khác nhau. Con thuyền thực đưa thi nhân đi những
chuyến giang hồ, con thuyền mộng đưa thi nhân vào cõi mơ và thơ. Cả con thuyền
thực và con thuyền mơ đều là phương tiện để đưa tác giả chạy trốn khỏi thực tại chán
chường, bế tắc!
Không chỉ có hình ảnh con thuyền, cũng giống như Nguyễn Bính, trong thơ Vũ
Hoàng Chương cũng còn đầy vơi nước mắt! Hình ảnh giọt nước mắt trong thơ họ Vũ
biểu tượng cho sự đau khổ chung của kiếp người nghệ sỹ, và cho chính nỗi đau khổ
riêng của ái tình.

điệu của ngôn ngữ dân gian. Thi nhân sử dụng những vốn từ rất quê, gần gũi với đời
sống của người dân
Những bài thơ Nguyễn Bính làm trong những ngày tha hương là những bài thơ
bộc lộ rõ nhất, nhiều nhất cảm thức về thân phận buồn tủi của nhà thơ. Nhìn nhận
một cách tổng quát, thơ Nguyễn Bính thể hiện một giọng điệu rầu rĩ, xót xa, ngậm
ngùi và buồn tủi. Việc sử dụng nhiều thán từ cùng cách lặp câu khiến cho lời thơ như
nỉ non, não nề, có lúc tựa như tiếng nấc nghẹn ngào của thi nhân. Nhiều khi trong thơ
Nguyễn Bính còn gặp lối nói “đay nghiến”, hậm hực, mỉa mai qua cách dùng từ
“vâng” đầu câu thơ.
Diễn tả tâm trạng cô đơn, buồn tủi ở xứ người, Nguyễn Bính đã sử dụng ngôn
từ, thành ngữ dân gian, như “xa lắc xa lơ” và “ngoảnh lại” càng làm cho giọng điệu
thơ thêm xót xa.
Lại còn có những dòng thơ, do cách ngắt nhịp 2/4 ở dòng lục và 4/4 ở dòng bát
cùng với cách gieo vần chân chặt chẽ, thế nên khi đọc mỗi câu chữ, ngôn từ và âm
điệu ta tưởng như buốt nhói đến tâm can.
2.2 Ngôn ngữ và giọng điệu thể hiện cảm thức thân phận trong thơ
Vũ Hoàng Chương
Vũ Hoàng Chương – chàng thi sỹ của say và quên, thế nên, đọc thơ của thi sỹ họ
Vũ ta như thấy, nhiều khi tâm trạng của ta như cùng hòa vào với những cơn say đủ sắc
17


màu của thi nhân. Ấy là vì Vũ Hoàng Chương đã khéo léo sử dụng ngôn từ và giọng
điệu lột tả được cái trạng thái đê mê ấy!
Bài thơ “Say đi em” có lẽ là một bài thơ bộc lộ rõ nhất tâm trạng chán chường
và thân phận cùng cực của một kẻ “lạc loài” bế tắc trong cuộc đời, đã mô phỏng trạng
thái say khướt của nhà thơ qua ngôn ngữ và giọng điệu.
Ngôn ngữ thơ của Vũ Hoàng Chương nhìn chung có sắc thái sang trọng, có
người cho là có sự tổng hòa của ngôn ngữ phương Đông và phương Tây. Những bài
thơ bộc lộ cảm thức thân phận của thi sỹ họ Vũ cũng nằm trong giọng điệu và trường

thời gian tâm tưởng.
Không gian nghệ thuật có thể là không gian thiên nhiên hay không gian sinh
hoạt và chúng luôn gắn liền với những tình cảm, ước mơ và khát vọng của con người.
Bên cạnh thời gian vật chất, trong văn học còn có thời gian tâm lý.
Nguyễn Bính và Vũ Hoàng Chương là hai thi nhân của Phong trào Thơ mới lãng
mạn 1932-1945, cuộc đời hai nhà thơ này có điểm chung ở chỗ họ đều là những thi sĩ
lãng du, phiêu bạt, lênh đênh, để thả con thuyền thơ trôi về nơi vô định... Chính trong
những không gian và thời gian phiêu bạt ấy, với biết bao nhiêu đau khổ, buồn tủi, uất
hận và bế tắc ấy, Nguyễn Bính và Vũ Hoàng Chương đã bộc lộ rõ nhất tâm trạng và
thân phận của mình.
3.1 Không gian và thời gian nghệ thuật thể hiện cảm thức thân phận trong
thơ Nguyễn Bính
3.1.1 Không gian nghệ thuật
Quyết chí ra đi tìm lý tưởng cho cuộc đời, Nguyễn Bính từ bỏ cái không gian êm
đềm của tuổi thơ để lên đường. Nơi ấy có vườn chè, cây lê, con đê đầu làng, với
những giậu mồng tơi, giàn trầu, hàng cau và với những người con gái chân quê chăn
tằm. Và sau này, trên bước đường lưu lạc, không gian ấy trở thành không gian tâm
tưởng ám ảnh nhức nhối trong tâm hồn thi nhân.
Nguyễn Bính đi lang bạt đến nhiều nơi, từ Bắc vào Nam. Hành trang Nguyễn
Bính mang theo chỉ là sự tài hoa của mình và hình bóng hương thôn. Trên hành trình
giang hồ ấy, con thuyền vừa là phương tiện ra đi vừa là nơi trú ngụ của người thơ.
Chính vì thế mà con thuyền vừa là không gian thực, nhưng cũng vừa là hình ảnh
không gian nghệ thuật trong thơ của thi sỹ Nguyễn Bính. Từ hình ảnh con thuyền ta
cũng có thể nhận thấy, không gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính chủ yếu là
19


không gian trôi giạt. Ra đi để đến với những không gian khác nhau như một khát
vọng trong cuộc đời nhà thơ.
Bên cạnh không gian trôi giạt với con thuyền, dòng sông, cảm nhận thân phận

Nhưng nhiều hơn cả trong thơ Vũ Hoàng Chương cũng như Nguyễn Bính là
không gian phiêu bạt, giang hồ. Hình ảnh con thuyền trong thơ Vũ vừa là con thuyền
thực đưa thi nhân tới những bến bờ xa xôi trên con đường lãng du, nhưng con thuyền
đó cũng là con thuyền của không gian hưởng lạc. Thống kê khảo sát không gian con
thuyền trong hai tập thơ Thơ Say và Mây của Vũ Hoàng Chương ta thấy có đến chục
lần nhà thơ lấy con thuyền làm không gian giang hồ và hành lạc.
Trốn tránh thực tại, cũng như Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương tìm về không
gian mộng.
Ngoài ra, trong thơ Vũ Hoàng Chương còn có không gian gác tối, ngõ hẹp,
không gian Đào Nguyên... Tất cả, hoặc là để biểu hiện cho một tâm trạng bi quan,
chán nản; hoặc là để biểu hiện một ước vọng thoát ly, rời bỏ hiện thực cuộc sống có
quá nhiều nỗi buồn trần thế đang diễn ra xung quanh cuộc sống của nhà thơ.
3.2.2 Thời gian nghệ thuật
Trong thơ Vũ Hoàng Chương, thời gian đối với thi nhân cũng là thời gian của
những cuộc truy hoan, thời gian thi nhân đắm chìm trong men rượu và ái tình. Thời
gian để nhà thơ bộc lộ tâm trạng, cảm xúc và sáng tạo tác phẩm thơ, đó cũng là thời
gian nghệ thuật. Cũng như Nguyễn Bính, thời gian đêm tối hầu như bao phủ các bài
thơ của thi sỹ Vũ Hoàng Chương.
Không chỉ có thời gian đêm khuya mới làm dấy lên những khúc nhạc sầu trong
lòng nhà thơ, mà ngay cả thời gian chiều, nhà thơ cũng cảm thấy nao nao, bồn chồn.
Nhớ một buổi chiều xưa tình cũ ái ân, nay chiều về chỉ làm cho lòng thi nhân thêm
buồn khổ. Có những buổi chiều ghê rợn đi trên bãi tha ma (Nhìn quanh: chiều xám
với tha ma / Vắng tanh! Ôi, chiều, nơi tha ma!). Cũng như Thôi Hiệu thuở trước, có
những buổi chiều hình bóng quê hương lay động trái tim nhà thơ trên con đường tha
hương. Cũng như thời gian đêm đêm, thời gian buổi chiều trong thơ cũng như đời của
Vũ, chỉ là biểu tượng cho sự tàn lụi của cuộc đời, thân phận thi nhân.

21



22


có khi bi phẫn, uất ức… Nó cũng chi phối sự hiện diện của không gian thời gian: sự
đối lập giữa không gian thành thị với không gian nông thôn, xuất hiện thường xuyên
không gian nơi con thuyền trôi dạt trong thơ Nguyễn Bính; không gian gác tối, ngõ
hẹp trong thơ Vũ Hoàng Chương; thời gian đêm tối, chiều tàn là thời gian ám ảnh đối
với cuộc sống của cả hai thi nhân.
4.Cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương là một đề tài
thú vị, hấp dẫn nhưng cũng không hoàn toàn dễ dàng chiếm lĩnh. Người viết cần có
kiến thức sâu sắc về lịch sử, văn hóa, tâm lý học nghệ thuật, và cần có năng lực cảm
nhận nhạy cảm đối với thơ. Tuy nhiên, với khả năng còn hạn chế của bản thân, nên
trong quá trình triển khai đề còn nhiều chỗ chưa thực sự sâu sắc, thấu đáo. Bởi thế,
“Cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương” vẫn là vấn đề rộng
mở cho tất cả những người đến sau.

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status