MỞ ĐẦU
Một bài học lớn của quá trình đổi mới được các Đại hội của Đảng xem
là có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là: "Trong quá trình đổi mới phải kiên định
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội". Vấn đề đặt ra là phải xác định
một quan niệm về chủ nghĩa xã hội, vì cho đến nay, đã và đang có những
quan niệm khác nhau về chủ nghĩa xã hội.
Ở thế kỷ XIX, cho đến trước khi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ra
đời, như Ph.Ăngghen đã nhận định, "người ta thường dùng từ xã hội chủ
nghĩa, một mặt để gọi những người theo các hệ thống không tưởng...; mặt
khác, để gọi những tên lang băm xã hội đủ các cỡ...", không chỉ thế, ông còn
chỉ rõ, “trong cả hai trường hợp, đấy là những người sống ngoài phong trào
công nhân”1 .
Còn trong phong trào công nhân thì cho đến nay, quan niệm về chủ
nghĩa xã hội cũng đang có sự khác nhau ngay trong hàng ngũ những người
cộng sản. Vì thế, khi nói về mục tiêu xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã chỉ rõ quan
niệm về chủ nghĩa xã hội của Đảng dựa trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định: "Trong quá trình đổi mới
phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh" 2.
Tính chất phức tạp của vấn đề là ở chỗ, học thuyết của chủ nghĩa Mác
- Lênin về chủ nghĩa xã hội nói chung, không phải đã được xây dựng xong
xuôi hẳn; còn việc xác định những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, tức là
những nét riêng biệt có ý nghĩa tiêu biểu để nhận biết nó, phân biệt nó với các
xã hội khác thì lại chỉ có thể là một quá trình hình thành và phát triển không
1
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.21. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.522
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb CTQG, H. 2006, tr.70.
2
NỘI DUNG
1. Quan điểm của V.I. Lênin về chủ nghĩa xã hội
Tên tuổi, sự nghiệp của V.I.Lênin gắn liền với cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa tháng Mười Nga vĩ đại và những cống hiến vô giá của Người trong
việc bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác nói chung, những quan điểm của
C.Mác, Ph.Ăngghen về xã hội chủ nghĩa và con đường xây dựng chủ nghĩa xã
hội chủ nghĩa nói riêng.
Giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức trên thế
giới ghi nhận những cống hiến to lớn của Lênin đối với phong trào cách mạng
trên thế giới không chỉ ở việc Lênin đã tiếp tục giương cao ngọn cờ cách
mạng không ngừng do Mác và Ăngghen khởi xướng mà còn ở chỗ Người đã
kết hợp chặt chẽ lý luận và thực tiễn, từ thực tiễn mà phát triển lý luận để hiện
thực hoá sinh động những quan điểm lý luận khoa học và cách mạng đã khái
quát những quan hệ thực tiễn của cuộc đấu tranh giai cấp.
Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học khẳng định về lý luận của
những người cộng sản: “Những quan điểm lý luận của những người cộng sản
tuyệt nhiên không dựa vào những ý niệm, những nguyên lý do một nhà cải
cách thế giới nào phát minh ra. Những nguyên lý ấy chỉ là biểu hiện khái
quát của những quan hệ thực tại của cuộc đấu tranh giai cấp hiện có” 4. Đặc
biệt là quan điểm khoa học - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội: “… ngày nay chủ
nghĩa xã hội không còn bị xem là một sự phát hiện ngẫu nhiên của một khối
óc thiên tài nào đó mà là một kết quả tất nhiên của cuộc đấu tranh giữa hai
giai cấp phát sinh ra trong quá trình lịch sử - giai cấp vô sản và giai cấp tư
sản. Nhiệm vụ của CNXH không còn là ở chỗ nặn ra một chế độ hết sức hoàn
4
V.I.Lê-nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1981, t 26, tr 110.
3
7
V.I.Lênin: Toàn tập, t.33, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr.121.
6
4
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra rằng, chủ nghĩa
xã hội với tư cách là một giai đoạn, một nấc thang của xã hội mới, là xã hội
trực tiếp phát sinh ra từ chủ nghĩa tư bản thì nó không chỉ đối lập một cách
chung chung với chủ nghĩa tư bản mà nó còn là một xã hội phát triển cao hơn,
tốt đẹp hơn so với chủ nghĩa tư bản. Điều này được thể hiện ở chỗ, chủ nghĩa
xã hội sẽ tạo ra một năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản bởi mục tiêu
của chủ nghĩa xã hội là vì con người.
Trên cơ sở đó, chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định rằng, xét cho đến
cùng thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, quyết định nhất cho thắng
lợi của chế độ mới. Chủ nghĩa tư bản đã lật đổ được chế độ phong kiến bởi nó
đã tạo ra một năng suất lao động cao hơn chưa từng thấy so với chế độ phong
kiến. Do đó, chủ nghĩa tư bản cũng có thể bị lật đổ, bởi chủ nghĩa xã hội tạo
ra một năng suất lao động mới, cao hơn nhiều so với chủ nghĩa tư bản. Và
một điều nữa là, khác với chủ nghĩa tư bản, những sản phẩm của chủ nghĩa xã
hội được làm ra là nhằm đáp ứng cho nhu cầu ngày càng cao của mọi thành
viên trong xã hội chứ không nhằm nô dịch con người.
Và để phân biệt sự khác nhau giữa chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư
bản, V.I.Lênin đã đưa ra một số phác thảo về chủ nghĩa xã hội, được thể hiện
ở những điểm sau:
Một là, cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp cơ
khí.
Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ra đời là tất yếu, trước hết là tất
yếu kinh tế. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, phải ưu tiên hàng đầu cho phát
mạng tháng Mười Nga, chỉ sau vài chục năm, nước Nga từ một nước tư bản
kém phát triển đã trở thành một cường quốc về kinh tế, khoa học, kỹ thuật.
6
Hai là, chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao
động mới.
Trong những luận giải của mình về chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin đã nêu
rõ nguyên nhân vì sao chủ nghĩa xã hội đã tạo ra được một năng suất lao động
cao hơn so với chủ nghĩa tư bản. Xác lập một nền kinh tế phát triển cao hơn,
tiến bộ hơn chủ nghĩa tư bản cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, tổ
chức lao động và năng suất lao động, chính là quan niệm của V.I.Lênin về
kinh tế của chủ nghĩa xã hội: “Trong bất cứ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
nào, khi giai cấp vô sản đã làm xong nhiệm vụ giành được chính quyền rồi và
trong chừng mực mà nhiệm vụ tước đoạt những kẻ đi tước đoạt và nhiệm vụ
đập tan sự phản kháng của chúng đã được hoàn thành trên những nét chủ
yếu và cơ bản - thì tất nhiên có một nhiệm vụ căn bản khác được đề lên hàng
đầu, đó là: thiết lập một chế độ xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản, nghĩa là
nâng cao năng suất lao động và do đó (và nhằm mục đích đó) phải tổ chức
lao động theo một trình độ cao hơn”8. Đó cũng chính là đặc trưng thể hiện
bản chất về kinh tế của chủ nghĩa xã hội theo quan điểm của Lênin.
Ngoài cơ sở vật chất là nền đại công nghiệp hiện đại, thì còn do
những yếu tố vốn có của chủ nghĩa xã hội, những yếu tố này không thể có
được trong lòng chủ nghĩa tư bản. Đó là cách tổ chức lao động và kỷ luật lao
động mới.
V.I.Lênin khẳng định kỷ luật của chế độ nô lệ và chế độ phong kiến là
kỷ luật roi vọt; kỷ luật của chủ nghĩa tư bản là kỷ luật đói; còn kỷ luật của chủ
nghĩa xã hội là kỷ luật tự giác. Theo ông, kiểu tổ chức lao động xã hội của
chủ nghĩa xã hội sở dĩ cao hơn so với kiểu tổ chức lao động xã hội của chủ
dùng cá nhân, cho cả tích lũy tái sản xuất mở rộng và cho cả tiêu dùng công
cộng của xã hội. Tiêu dùng cá nhân chỉ là một phần trong tổng sản phẩm do
8
lao động của người công nhân làm ra. Tuy nhiên, theo các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mác-Lênin, trên thực tế, những phần không phân phối trực tiếp cho
tiêu dùng cá nhân những người công nhân vẫn thuộc về họ, vẫn nhằm đảm
bảo lợi ích cơ bản, lâu dài, chung cho mọi thành viên trong xã hội.
V.I.Lênin chỉ rõ cách phân phối sản phẩm theo lao động được dựa trên
hai nguyên tắc: “người nào không làm thì không ăn”; “số lượng lao động
ngang nhau thì hưởng số sản phẩm ngang nhau”.
Nguyên tắc “người nào không làm thì không ăn”, theo V.I.Lênin, đó là
quy tắc cơ bản, là chân lý sở đẳng và hiển nhiên. Tất cả những công nhân, tất
cả những bần nông và ngay cả trung nông, tức là tất cả những người đã trải
qua cảnh túng thiếu, tất cả những người đã sống bằng lao động của mình đều
tán thành điều đó.
Nguyên tắc “số lượng lao động ngang nhau thì hưởng số lượng sản
phẩm ngang nhau” thể hiện sự công bằng dưới chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên,
V.I.Lênin cũng nhận thấy rằng nguyên tắc này mặc dù thể hiện sự phân phối
công bằng hơn so với xã hội tư bản và các xã hội tư hữu khác, song nó vẫn
chưa tạo ra được sự bình đẳng hoàn toàn. Bởi đó vẫn là “bình đẳng kiểu tư
sản” và chưa gạt bỏ được “pháp quyền tư sản”. Điều đó biểu hiện ở chỗ người
ta còn phải dùng nguyên tắc “trao đổi ngang giá”, còn phải dùng quy tắc duy
nhất là lấy lao động làm thước đo để phân phối cho mọi người mà trong thực
tế họ không có khả năng lao động ngang nhau.
Do đó, V.I.Lênin cho rằng xã hội cần phải kiểm tra, kiểm soát nghiêm
ngặt mức độ lao động và mức độ tiêu dùng của từng người bởi dưới chủ nghĩa
xã hội vẫn còn nhiều người trốn tránh lao động, muốn làm ít hưởng nhiều,
V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1975, t.6, tr.518.
10
qua cũng chỉ là sự thay thế của các hình thức áp bức, bóc lột đối với người lao
động mà thôi. Chỉ đến chủ nghĩa xã hội thì con người mới có khả năng được
giải phóng khỏi các hình thức áp bức và bóc lột đó.
V.I.Lênin viết: “Chủ nghĩa xã hội có mục đích không những xóa bỏ
tình trạng nhân loại bị chia thành những quốc gia nhỏ và xóa bỏ mọi trạng
thái biệt lập giữa các dân tộc, không những làm cho các dân tộc gần gũi
nhau, mà cũng còn nhằm thực hiện việc hợp nhất các dân tộc lại” 10. Sở dĩ có
được điều đó là vì chủ nghĩa xã hội, theo V.I.Lênin, đã tổ chức được nền sản
xuất không có sự áp bức giai cấp, do đó đảm bảo phúc lợi cho tất cả các thành
viên của quốc gia, cho nên nó làm cho “tình cảm” của dân cư phát triển tự do;
và chính vì vậy, đã tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy hết sức mạnh mẽ sự
gần gũi và sự hợp nhất giữa các dân tộc. Chủ nghĩa tư bản không thể thủ tiêu
được ách áp bức dân tộc, cũng như ách áp bức chính trị nói chung bởi vì nó
không xóa bỏ được giai cấp. Sau khi xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ
nghĩa xã hội, giai cấp vô sản tạo ra khả năng thủ tiêu hoàn toàn ách áp bức
dân tộc. Nhưng, V.I.Lênin cho rằng khả năng ấy chỉ biến thành hiện thực nếu
hoàn toàn thiết lập được nền dân chủ trong mọi lĩnh vực, kể cả việc quy định
biên giới của quốc gia dựa theo những “tình cảm” của dân cư, và kể cả quyền
hoàn toàn tự do. V.I.Lênin còn khẳng định rằng, việc thủ tiêu ách áp bức dân
tộc đòi hỏi phải có một cơ sở tức là nền sản xuất xã hội chủ nghĩa, nhưng trên
cơ sở đó cần phải thiết lập một tổ chức nhà nước dân chủ.
Như vậy, chủ nghĩa xã hội sẽ giải phóng con người khỏi mọi áp bức
bóc lột, khỏi tình trạng dân tộc này thống trị dân tộc khác, đồng thời tạo điều
kiện thuận lợi và thúc đẩy sự gần gũi và sự hợp nhất giữa các dân tộc.
Tóm lại, chủ nghĩa xã hội sẽ không thể thực hiện sự bình đẳng hoàn
toàn, sự bình đẳng về mọi phương diện, bởi vì dưới chủ nghĩa xã hội vẫn thực
hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, vẫn còn sự khác biệt giữa các giai
12
cấp, sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị, v.v... Những khác biệt đó cho
thấy còn tồn tại những bất bình đẳng xã hội. Mặc dù vậy, chủ nghĩa xã hội
vẫn là xã hội bình đẳng hơn so với chủ nghĩa tư bản. Điều đó được thể hiện
trước hết ở sự bình đẳng xã hội, bình đẳng về địa vị xã hội của con người.
Quá trình phát triển của chủ nghĩa xã hội cũng chính là quá trình khắc phục và
xoá bỏ dần những bất bình đẳng trong xã hội.
Ở một phương diện khác - phương diện văn hoá - Lênin cũng đã nêu
lên hàng loạt quan điểm về văn hoá vô sản - văn hoá xã hội chủ nghĩa. Trong
xã hội xã hội chủ nghĩa, một nền văn hoá vô sản sẽ được xây dựng như là “sự
phát triển hợp quy luật của tổng số kiến thức mà loài người đã tích lũy được
dưới ách thống trị của xã hội tư bản”. Tính ưu việt về văn hoá là một đặc
trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, theo quan điểm của Lênin: “Văn hoá vô
sản không phải bỗng nhiên mà có, nó không phải do những người tự cho
mình là chuyên gia về văn hoá vô sản phát minh ra. Đó là điều ngu ngốc. Văn
hoá vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng số kiến thức mà loài
người đã tích luỹ được dưới ách thống trị của xã hội tư bản, xã hội của bọn
địa chủ và xã hội của bọn quan liêu”11.
Trên đây chưa phải là toàn bộ những phác thảo của V.I.Lênin về chủ
nghĩa xã hội, nhưng điều này đã cho thấy những quan điểm khoa học, cách
mạng của ông khi đưa ra những dự đoán về chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy,
nó cần được bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn.
2. Những phác thảo của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam
thời chiến. Mọi quy luật của chủ nghĩa xã hội lúc bấy giờ diễn ra trong một
trạng thái không bình thường vì bị chi phối bởi qui luật của chiến tranh.
14
Trong hoàn cảnh lịch sử như vậy, chúng ta không thể đòi hỏi sự tư
duy hoàn toàn đầy đủ về chủ nghĩa xã hội của Đảng ta cũng như của lãnh tụ
Hồ Chí Minh. Dưới đây, tác giả xin trình bày những quan niệm và những
phác thảo của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trên những điểm
cơ bản nhất.
Thứ nhất, về bản chất của chủ nghĩa xã hội
Ngay từ những năm hai mươi của thế kỷ XX, khi đang sống và hoạt
động ở nước Pháp, Hồ Chí Minh đã mong mỏi khi đất nước giành được độc
lập thì Chính phủ cách mạng của nhân dân sẽ: “vạch ra kế hoạch chi tiết về tổ
chức sản xuất và tiêu thụ. Nào là bảo vệ và phát triển lành mạnh cho trẻ em;
giáo dục và lao động đối với tráng niên; nghiêm khắc lên án bọn ăn bám;
nghỉ ngơi cho người già … thủ tiêu mọi sự bất bình đẳng về hưởng thụ, hạnh
phúc không phải dành cho một số người mà cho tất cả mọi người” 12.
Sau đó, Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập đến mô hình tổng thể của
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, với một cách diễn đạt ngắn gọn, súc tích và dễ
hiểu: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội là làm cho dân giàu nước mạnh. Dân có
giầu thì nước mới mạnh”. Người nhấn mạnh đến những bản chất tốt đẹp nhất
của chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh, xã hội không còn
người bóc lột người, không còn đói rét, mọi người đều được ấm no, hạnh
phúc; là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
lao động.
Cả cuộc đời vĩ đại và thanh cao của Hồ Chí Minh là dành cho dân, cho
nước, cho dân tộc và nhân loại. Ở Người “chỉ có một ham muốn tột bậc là
làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng
13
14
Hå ChÝ Minh: Toµn tËp, t. 4, Nxb CTQG, H. 2000, tr.161.
Sđd, tr. 100.
16
* ú l mt xó hi khụng cú nn ngi ỏp bc búc lt ngi. Cú cuc
sng bỡnh ng v t do. Lm theo nng lc, hng theo lao ng phỳc li
cho ngi gi yu, ngi tn tt v tr m cụi
* ú l mt xó hi cú nn vn húa tiờn tin, c kt tinh t nhng
truyn thng vn húa tt p ca dõn tc v nhng tinh hoa vn húa ca th
gii.
* ú l mt xó hi cú nn o c vn minh tiờn tin, trong ú ngi
vi ngi l ng chớ, l bn bố, anh em. Mt xó hi m bo cho con ngi
sng xng ỏng vi danh hiu v v th con ngi.
Th hai, quỏ i lờn ch ngha xó hi Vit Nam l mt quỏ trỡnh
y khú khn, phc tp v lõu di
H Chớ Minh xỏc nh rng, s nghip xõy dng ch ngha xó hi
nc ta l cuc chin u chng li nghốo nn v lc hu cho nờn s nghip
y khú khn hn vic ỏnh gic; Ngi nhn mnh: Đặc điểm to lớn nhất
của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nớc nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên
chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển t bản chủ nghĩa
Vì vậy; nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật
chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã
hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiên
tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền
kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và
quan trọng như ngày nay.
Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng tới điều kiện thực tế của đất nước để
xác định các bước đi. Người nhận thức được rằng, chủ nghĩa xã hội không
phải là sắc lệnh từ trên ban xuống. Chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự
nghiệp của quần chúng nhân dân.
16
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.9, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1989, tr.69-70.
18
Một tháng trước khi đi xa, Người căn dặn: “Ta xây dựng chủ nghĩa xã
hội từ hai bàn tay trắng đi lên thì còn gian khổ và lâu dài”.
Thứ ba, về các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Một là, về chế độ mới, đó là chế độ do nhân dân lao động làm chủ, tất
cả mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Hồ Chí Minh vừa chỉ ra mục tiêu của
chế độ mới ở Việt Nam là chế độ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân,
đồng thời Người cũng nhấn mạnh đến vai trò và mối quan hệ giữa các cán bộ
lãnh đạo Đảng và nhà nước đối với nhân dân trong chế độ này, rằng: “Chủ
tịch, Bộ trưởng là đầy tớ cho nhân dân chứ không phải là làm quan cách
mạng”; rằng, “Người đảng viên vừa là người lãnh đạo và vừa là người đầy tớ
trung thành của nhân dân” …
Hai là, về nền kinh tế mới, đó là một nền kinh tế công - nông nghiệp
hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa mà
Người phác họa trong tương lai với bốn hình thức sở hữu. Đó là sở hữu nhà
nước (tức sở hữu toàn dân); sở hữu tập thể, sở hữu của những người lao động
riêng lẻ (kinh tế cá thể) và sở hữu của các nhà tư bản. Trong đó kinh tế quốc
doanh giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế mới.
Ba là, về văn hóa tư tưởng, Hồ Chí Minh cho rằng chủ nghĩa xã hội
Người nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu
cũng xong”; “có dân là có tất cả”. Nhưng để “có dân”, Người khuyên: “Đảng
viên phải gương mẫu, làm đúng chính sách, phải thực sự tôn trọng quyền làm
chủ của nhân dân, lắng nghe ý kiến của quần chúng thì mới được dân tin, dân
17
18
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1989, tr.759-760
Sđd, t.8, tr.429.
20
phục, dân yêu. Như vậy công việc khó mấy cũng làm được” 19. Xây dựng chủ
nghĩa xã hội là một sự nghiệp rất to lớn nặng nề và phức tạp, mà cũng rất vẻ
vang. Đây là: “Một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để
tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến
đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân,
dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”20.
Để phát huy nhân tố con người trong chế độ mới, theo Hồ Chí Minh
phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng và xây dựng con người trên mọi phương
diện, để họ hiểu rõ cả lợi ích, nhu cầu, đạo đức, lý tưởng và văn hóa thanh cao
của con người trong chế độ mới. Phải hết sức chú ý đến mặt lợi ích và nhu
cầu của con người. Phải có sự kết hợp hài hòa cả 3 mặt của lợi ích: lợi ích
người lao động, lợi ích tập thể và lợi ích của nhà nước. Đồng thời cũng phải
biết sử dụng một cách thích hợp các đòn bẩy kinh tế: khoán, thưởng, phạt rõ
ràng và công minh.
Hồ Chí Minh đã sớm đề phòng về khuynh hướng chủ quan, nóng vội,
đốt cháy giai đoạn. Người luôn coi trọng đến từng bước đi sao cho thật vững
chắc và phải luôn xuất phát từ đặc điểm tình hình thực tế của đất nước. Xa rời
Chớ Minh, ng ta khng nh, i lên ch ngha xó hi là sự lựa chọn duy nhất
đúng đắn của Đảng và nhân dân ta. Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới xây
dựng ch ngha xó hi ở nớc ta đến nay, Đảng ta đã từng bớc xác định, bổ
sung và hoàn thiện dần những đặc trng ch ngha xó hi mà Đảng và nhân dân
ta xây dựngó a ra mụ hỡnh xó hi xó hi ch ngha Vit Nam trong
Cng lnh xõy dng t nc trong thời kỳ quá độ lên ch ngha xó hi
Vit Nam (Cng lnh 1991). i hi X cho rng, nhn thc v ch ngha xó
hi v con ng i lờn ch ngha xó hi ngy cng sỏng t hn vi mt h
thng quan im lý lun; ng thi lu ý rng, h thng quan im lý lun tuy
ó hỡnh thnh nhng mi l "trờn nhng nột c bn" m thụi. So vi Cng
lnh 1991cú gỡ khỏc?
Xem bng i chiu di õy (s th t c thờm vo d so sỏnh;
nhng t khỏc gia hai ln c tỏc gi nhn mnh):
22
Cương lĩnh 1991 (tr.8 - 9)
Văn kiện Đại hội X (tr.68)
Dân giàu, nước
1 mạnh, công bằng, dân chủ,
văn minh
1
2
Do nhân dân lao
động làm chủ
tộc
Con người được giải
Con
người
được
phóng khỏi áp bức, bóc lột,
giải phóng khỏi áp bức, bất
bất công, làm theo năng lực,
công, có cuộc sống ấm no,
4 hưởng theo lao động, có
5 tự do, hạnh phúc, phát triển
cuộc sống ấm no, tự do hạnh
toàn diện
phúc, có điều kiện phát triển
toàn diện cá nhân
5
Các dân tộc trong
c cỏc nc trờn th gii
dõn cỏc nc trờn th gii
Nh vy, ến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, qua thực tế xây dựng
ch ngha xó hi, Đảng ta đã nhận thức đầy đủ hơn về những đặc trng ch
ngha xó hi ở nớc ta, đồng thời có sự bổ sung, phát triển thêm những đặc trng
mới, gồm 8 đặc trng cơ bản, ú l:
Thứ nhất, xó hi xó hi ch ngha m ng, Nh nc v nhõn dõn ta
ang xõy dng l một xã hội dân giàu, nớc mạnh, công bằng, dân chủ, văn
minh. Đặc trng này đợc đặt lên hàng đầu và có ý nghĩa bao trùm, thể hiện cô
đọng t tởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ch ngha xó hi là nhằm nâng cao
đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, thực hiện ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai
cũng đợc hạnh phúc, ấm no.
Xây dựng ch ngha xó hi chính là làm cho cuộc sống của nhân dân
ngày càng giàu lên thì nớc mới mạnh. Đồng thời, bảo đảm sự công bằng trên
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từng bớc xây dựng xã hội dân chủ văn minh.
T tởng dân giàu, nớc mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh thể hiện mục tiêu
xuyên suốt của ch ngha xó hi mà chúng ta xây dựng và đạt tới. Đồng thời,
xây dựng niềm tin của nhân dân với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, ú l xó hi do nhân dân làm chủ.
24
Cng lnh xõy dng t nc trong thi k quỏ lờn ch ngha xó
hi , ng ta nờu xó hi m chỳng ta ang xõy dng l: do nhõn dõn l ng lm
ch. Song t thc tin ca cụng cuc i mi xõy dng ch ngha xó hi nc
ta, ng ta nhn thc rng s nghip xõy dng ch ngha xó hi l ca dõn, do