KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC TUYỂN CHỌN ĐỘI TUYỂN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Ở TRƯỜNG THCS - Pdf 39

Chuyên đề:
TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC TUYỂN CHỌN ĐỘI
TUYỂN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Ở TRƯỜNG THCS
I.

Đặt vấn đề :
Như các đồng chí đã biết: Bồi dưỡng học sinh giỏi là công việc rất khó khăn, đòi
hỏi nhiều công sức của cả thầy và trò. Trong một vài năm gần đây, trong các kỳ thi
chọn học sinh giỏi cấp thị xã, cấp tỉnh, đội tuyển dự thi môn Toán nhìn chung đạt
được kết quả rất thấp (chất lượng giải không cao). Tuy nhiên công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi là một nhiệm vụ quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, bồi
dưỡng nhân tài cho nhà trường nói riêng, cho địa phương nói chung. Bởi vậy, tôi xin
thay mặt cho tổ Toán trong cụm 2 mạnh dạn trình bày “ Một số kinh nghiệm trong
công tác tuyển chọn đội tuyển và BDHSG ở trường THCS” để mọi người cùng tham
khảo và trao đổi.
II. Thực trạng của công tác tuyển chọn đội tuyển hiện nay ở trường THCS:
1. Thuận lợi
- Được sự chỉ đạo, quan tâm sâu sát và kịp thời của BGH. Nhà trường đã có những kế
hoạch cụ thể và lâu dài cho công tác bồi dưỡng HSG.
- Hiện nay các trường được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ việc dạy và
học tương đối đầy đủ, có thể đáp ứng được yêu cầu để việc dạy và học đạt kết quả tốt.
- Đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có nhiều đồng chí có kinh
nghiệm trong công tác bồi dưỡng HSG.
- Có nhiều HS chăm ngoan, học giỏi, có ý thức nỗ lực phấn đấu vươn lên trong học
tập.
2. Khó khăn
2.1. Về phía BGH nhà trường:
- Phân công chuyên môn chưa thật sự hợp lý giữa các giáo viên
- Chưa mạnh dạn quyết định đội tuyển cho từng môn theo năng lực, sở trường của
HS, còn để HS học nhiều môn thi cùng lúc.
- Sắp xếp lịch dạy ôn HSG chưa khoa học

khuyến khích thầy và trò như: Bồi dưỡng thỏa đáng cho giáo viên có thành tích, có
chế độ ưu tiên khuyến khích đối với học sinh đạt giải; tuyên dương khen thưởng kịp
thời, đầu tư thỏa đáng kinh phí để mua các tài liệu bồi dưỡng.
2. Đối với đội ngũ giáo viên tham gia bồi dưỡng HSG:
- Phẩm chất, uy tín, năng lực của người thầy có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình
học tập và rèn luyện của học sinh. Thầy cô là yếu tố hàng đầu đóng vai trò quyết định
trong việc bồi dưỡng năng lực học tập, truyền hứng thú, niềm say mê môn học cho
các em. Để dạy được học sinh có khả năng và phương pháp tự học thì bản thân thầy
cô cũng phải tự đào tạo, cố gắng hoàn thiện về năng lực chuyên môn, có am hiểu về


kiến thức chuyên sâu, có phương pháp truyền đạt khoa học, tâm huyết với công việc,
yêu thương học trò, giúp đỡ đồng nghiệp.
- Trong quá trình giảng dạy, sau mỗi chuyên đề phải kiểm tra kết hợp với việc
chấm trả bài, để rèn luyện học sinh cách làm bài cũng như qua đó phát hiện các lỗ
hổng về kiến thức của học sinh nhằm điều chỉnh nội dung giảng dạy cho phù hợp.
Giáo viên dạy cần xây dựng kế hoạch dạy học của mình theo từng tháng. Sau mỗi
tháng, tự mình đánh giá và rút kinh nghiệm cho tháng dạy tiếp theo. Giáo viên cần
nắm rõ năng lực từng học sinh, biết được điểm mạnh, điểm yếu của từng em để có
hướng giúp các em phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu. Giáo viên dạy bồi
dưỡng cần phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh, với giáo viên chủ nhiệm trong
việc dạy đối tượng học sinh giỏi để tạo mọi điều kiện giúp các em phát huy hết năng
lực của mình.
3. Công tác đánh giá, phát hiện học sinh giỏi
- Trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi khâu đầu tiên là khâu phát hiện và
tuyển chọn học sinh, khâu này quan trọng chẳng khác gì khâu “chọn giống của nhà
nông".
- Phương châm giảng dạy là “Phải làm cho học sinh yêu thích môn học của mình,
truyền ngọn lửa yêu thích môn học thì mới có hiệu quả trong giảng dạy” vì vậy trong
các bài giảng bên cạnh việc cung cấp các kiến thức thầy cô cần dạy cho học sinh lối

môn, giáo viên chú ý nhiều hơn đến việc dạy học sinh phương pháp tự học. Cụ thể là:
+ Giao chuyên đề, hướng dẫn học sinh tự đọc tài liệu …
+ Tổ chức cho học sinh báo cáo theo chuyên đề, thảo luận, phản biện…
+ Kiểm tra việc tự học, tự đọc tài liệu của học sinh; rút kinh nghiệm kịp thời.
+ Sử dụng các thiết bị giảng dạy phù hợp; tăng cường thời gian thực hành.
+ Đa dạng các hình thức đánh giá: Giáo viên đánh giá học sinh, học sinh đánh giá
nhau và học sinh tự đánh giá.
5. Về chương trình bồi dưỡng
- Tất cả giáo viên tham gia dạy đội tuyển phải có khả năng soạn, dạy chuyên đề
chuyên sâu.
- Đội ngũ này phải được phân công cụ thể, rõ ràng để phát huy khả năng và thế
mạnh của từng người.
- Biên soạn chương trình, nội dung bồi dưỡng rõ ràng, cụ thể, chi tiết cho từng
mảng kiến thức.
- Giáo viên đầu tư đào sâu chuyên môn, đọc và tìm tài liệu, tích lũy kinh nghiệm,
nghiên cứu kỹ dạng thức đề thi về kỹ năng ở các đề thi đã qua.
- Một yếu tố không thể thiếu trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi là tài liệu.
Giáo viên có thể sưu tầm tài liệu, các bộ đề thi học sinh giỏi cấp thị xã, cấp tỉnh, các
đề thi Violympic qua mạng Internet,…bằng nhiều nguồn. Đặc biệt thuận tiện nhất
thông qua Website của các trường THCS chuyên, Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh,


trên mạng Internet... Ngoài các tài liệu, sách vở phù hợp với trình độ của các em được
cung cấp để các em tự rèn luyện thêm ở nhà, giáo viên cần giới thiệu địa chỉ các
Website nói trên để học sinh có thể tự học, tự nghiên cứu, bổ sung kiến thức.
6. Về xây dựng phương pháp học tập của học sinh giỏi
- Tôi cho rằng hướng dẫn HS tự học là điều rất quan trọng, vì con đường ngắn
nhất để HS đạt được kết quả học tập tốt là phải tự học, tự nghiên cứu. Nhưng động lực
để giúp các em tự học, tự nghiên cứu chính là niềm say mê, hứng thú đối với môn
học. Vậy làm sao để khơi gợi được niềm say mê, hứng thú học tập của học sinh? Tôi

sinh năm sau).
- Có chế độ đãi ngộ phù hợp, có quy chế thi đua cho giáo viên dạy bồi dưỡng và
cho học sinh. Thông thường, thủ trưởng nào thì phong trào ấy. Một khi hiệu trưởng
đam mê bồi dưỡng học sinh giỏi, chắc chắn thành tích học sinh giỏi của trường sẽ
không ngừng được tăng lên. Theo bản thân tôi, năm yếu tố cơ bản và cốt lõi tác động
đến kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi là: Tài nghệ của giáo viên, tài năng của học sinh,
tài liệu bồi dưỡng, tài chính để hỗ trợ, động viên, khen thưởng và tâm huyết của thầy
và trò.
Trên đây chỉ là một vài kinh nghiệm nhỏ của tôi đã rút ra được trong quá trình
chọn lựa đội tuyển, bồi dưỡng học sinh giỏi của mình. Chắc chắn rằng các đồng chí,
đồng nghiệp, có những ý kiến và giải pháp khác quý giá hơn rất nhiều. Rất mong
được sự trao đổi và giúp đỡ của các đồng chí, đồng nghiệp, để trường chúng tôi có thể
làm tốt hơn công việc của mình góp phần vào thành tích của Nhà trường và sự nghiệp
giáo dục của địa phương.

Hiệu trưởng

MAI CÔNG VÀN

Tân Phong, ngày 9 tháng 10 năm 2016
Giáo viên

PHẠM VĂN LỢI

THAM LUẬN
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HSG
MÔN: LỊCH SỬ 9
I. CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HSG MÔN LỊCH SỬ Ở THCS:
- Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi (HSG) các môn văn hóa là một trong các mũi
nhọn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, tạo nguồn lực, bồi dưỡng nhân tài cho

khảo, học kinh nghiệm từ đồng nghiệp.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NĂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC
BỒI DƯỠNG HSG:
1. Đối với Ban giám hiệu:
- Cần phải phân công chuyên môn một cách hợp lí, lựa chọn giáo viên có năng
lực chuyên môn giỏi, có kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm cao, cố gắng phân công
theo hướng ổn định để phát huy kinh nghiệm của giáo viên, tạo điều kiện để giáo viên
yên tâm ôn có chất lượng.
Phát hiện và xây dựng nguồn bắt đầu từ lớp 6, cử giáo viên có kinh nghiệm dạy
2-3 buổi/ tuần (trái buổi học cho chính khóa), tránh trường hợp môn chính chiếm hết
HS khá giỏi vào đội tuyển ôn trước còn lịch sử không có nguồn để sau.
- Cần tạo mọi điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp học sinh nâng cao trình
độ, chuyên môn nghiệp vụ, có tài liệu hướng dẫn ôn và kiểm tra cụ thể.
- Có những chế độ động viên, khuyến khích khen thưởng đối với giáo viên và
học sinh tham gia bồi dưỡng HSG tạo điều kiện cho HS ở xa đi học được thường
xuyên, các em có ý thức tự học cho mình.
2. Đối với giáo viên dạy bồi dưỡng:
Qua thời gian tham gia công tác bồi dưỡng HSG, tôi nhận thấy để nâng cao chất
lượng trong công tác này cần thực hiện tốt các công việc sau:


- Muốn có HSG phải có thầy giỏi vì thế người thầy phải luôn luôn có ý thức tự
rèn luyện, tích lũy tri thức và kinh nghiệm từ lớp 6-9 với hai mảng: lịch sử thế giới và
lịch sử Việt Nam, trau dồi chuyên môn, luôn xứng đáng là “người dẫn đường tin cậy”
cho học sinh noi theo.
- Trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi khâu đầu tiên là khâu tuyển chọn học
sinh khâu này rất quan trọng. Phải dựa trên cơ sở bài khảo sát chất lượng đầu năm,
các giờ học trong những tuần đầu đối với học sinh và kết quả của năm trước đó. Tôi
lựa chọn những học sinh yêu thích thật sự môn lịch sử và phải có tinh thần tự giác
học, biết tìm tòi, tham khảo.



+ Hệ thống hóa kiến thức từ 1858 đến 1918.
+ Giúp HS nhớ lại kiến thức lịch sử Việt Nam đã hoc. Từ đó các em nắm được
mối liên quan đến nguyên nhân Pháp xâm lược Việt Nam.
+ Từ kiến thức đó các em tham khảo sách để nắm kiến thức trọng tâm để ghi
nhớ sau đó làm các đề thi sưu tầm trên mạng vừa làm bài vừa ghi nhớ kiến thức theo
hệ thống câu hỏi.
* Khối 9:
- Phần lịch sử thế giới:(1945 đến nay)
+ Ôn kiến thức của các nước tư bản Âu – Mĩ đến sau chiến tranh thế giới thứ
hai.
+ Các nước Á, Phi, Mĩ La – Tinh, trong cuộc chiến tranh thế giới, giải phóng
dân tộc và các thành tựu của các nước.
+ Ôn theo chủ đề hoặc nội dung chính của từng bài.
Từ đó HS sẽ dễ dàng nhớ kiến thức và tích hợp với kiến thức của những năm
trước đã học, tránh tâm lí căng thẳng vì kiến thức quá nhiều.
- Phần lịch sử Việt nam: (1945 đến nay)
+ Ôn theo giai đoạn thực dân Pháp xâm lược 1919 đến 1945.
+ Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến 2000.
+ Ôn theo chủ đề hoặc nội dung chính của từng bài.
Từng phần kiến thức cho HS lập bảng niên biểu, vẽ sơ đồ tư duy, tập làm câu
hỏi giải thích, phân tích, so sánh rồi nêu suy nghĩ để kết hợp rèn luyện kĩ năng làm
bài, kĩ thu thập thêm kiến thức lịch sử hiện đại của Việt Nam và thế giới để mỏ rộng
thêm sự hiểu biết.
3. Đối với học sinh:
- Phải nhận thức đúng về tầm quan trọng của học tập nhất là khi học các sự kiện.
- Phải yêu thích môn học, say mê học tập và ham học hỏi, tìm tòi, nắm vững kiến
thức nhất là các bảng niên biểu.
- Phải cần cù tích lũy và chăm chỉ rèn luyện, ngoài việc đọc sách giáo khoa, học


THỰC HÀNH
BÀI 4: CÁC NƯỚC CHÂU Á
Vì sao nhiều người dự đoán thế kỉ XXI là “ thế kỉ của châu Á” ?
Thế kỉ XXI là thế kỉ của châu Á vì:
* Chính trị:
- Trước chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước châu Á là thuộc địa và nửa
thuộc địa của tư bản phương Tây.
- Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á phát triển
mạnh khắp châu Á. Cuối những năm 50 thế kỉ XX, phần lớn các nước châu Á giành
được độc lập: Trung Quốc, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, ... Nửa sau thế kỷ XX, châu Á
không ổn định các nước đế quốc xâm lược ĐNÁ, Tây Á, ...
* Kinh tế:
Là khu vực phát triển năng động nhất, sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế trở
thành những con rồng châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Xin-ga-po,
Ma-lai-xi-a, Thái Lan.
- Ấn Độ thực hiện kế hoạch dài hạn đạt nhiều thành tựu to lớn. Từ một nước phải
nhập khẩu lương thực nước ngoài, Ấn Độ áp dụng “Cách mạng xanh” trong nông


nghiệp tự túc được lương thực cho một số dân hơn 1 tỉ người. Công nghiệp phát triển
vươn lên cùng các cường quốc lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, công nghệ
phần mềm, công nghệ hạt nhân và công nghệ vũ trụ...
- Trung Quốc tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới: Tổng sản phẩm trong nước
(GDP) trung bình hàng năm tăng 9,6 % , đứng hàng thứ 7 trên thế giới. Đời sống
nhân dân nâng cao rõ rệt. Phóng tàu, đưa người lên vũ trụ để nghiên cứu KHKT,
Trung Quốc vươn lên hàng thứ 2 thế giới sau Mỹ.
- Nhật Bản trong những năm 50-70 của thế kỉ XX, phát triển với tốc độ “ thần kì” .
Tổng sản phẩm quốc dân đạt 402 tỉ USD (1973). Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng
năm là 15% (1950-1960), 13,5% (1961-1970).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status