Hiệu quả kinh tế cây chè của các nông hộ trên địa bàn huyện anh sơn tỉnh nghệ an - Pdf 39

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Kiên

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Phát triển cây công nghiệp lâu năm có ý nghĩa to lớn trong việc xóa đói giảm
nghèo, làm tăng thêm thu nhập cho người nông dân, sử dụng hợp lý tài nguyên, lao
động, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và nguồn xuất khẩu. Với xu thế phát triển

uế

CNH - HĐH như hiện nay, phát triển cây lâu năm ngày càng đóng vai trò quan trọng
cho cung cấp nguyên liệu sản xuất công nghiệp. Trong đó có sự đóng góp đáng kể của

tế
H

cây chè, là một cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao, nó rất phù hợp với

những vùng cao, vùng núi và đặc biệt với đời sống người dân vùng dân tộc thiểu số,
nâng cao thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo cho nhân dân địa phương ở đó.

in

nông hộ trên địa bàn huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An".

h

Nhận thức được điều đó tôi đã chọn đề tài " Hiệu quả kinh tế cây chè của các

Mục đích nghiên cứu


+ Phương pháp chuyên gia chuyên khảo
Kết quả nghiên cứu
Cây chè là cây có NPV khá lớn khoảng 3,8 triệu đồng/năm, như vậy sản xuất chè

cũng mang lại lợi ích đáng kể cho người dân, không chỉ có lợi ích kinh tế mà cả lợi ích
xã hội. Tuy nhiên sản xuất cũng có những bất cập, khó khăn, những năm hạn hán các
hộ hầu như không chủ động nước tưới cho nên là năng xuất thấp, không có hộ nào tưới
nước cho chè chủ yếu là "nhờ trời". Thời gian cho thu lợi nhuận chậm, đến năm kinh

Sinh viên thực hiện: Võ Thị Hoàng


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Kiên

doanh thứ 12 nếu tính cả những năm kiến thiết là đến 15 năm mới bắt đầu cho lợi
nhuận nhưng mức lợi nhuận cũng không cao. Những năm gần đây mức lợi nhuận chỉ ở
mức 14 triệu đồng/ha. Hoạt động sản xuất ở đây cũng còn manh mún, mức độ đầu tư
của các hộ chưa thật sự mạnh, tư tưởng trông chờ ỷ lại của người dân còn cao, tính bảo

uế

thủ trì trệ của một số cán bộ đảng viên vẫn còn phổ biến. Chính vì thế mà hiệu quả
kinh tế của cây chè chưa cao, người nông dân chưa nắm được thế mạnh của mình để

Tr

ườ


uế

triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm. Tuy nhiên nhờ sự phát triển của khoa học
kỹ thuật, cây chè đã được trồng khá xa với nguyên sản của nó. Trên thế giới, cây chè

tế
H

phân bố từ 42 vĩ độ Bắc đến 27 vĩ độ Nam và tập trung chủ yếu ở khu vực từ 16 vĩ độ
Bắc đến 20 vĩ độ Nam.

Việt Nam là một trong những nước có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè

h

phát triển. Lịch sử trồng chè của nước ta đã có từ lâu, cây chè cho năng suất và sản

in

lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế, tạo việc làm cũng như thu nhập hàng
năm cho người lao động,đặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi.

cK

Nghệ An là một tỉnh miền trung có nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triển
trồng chè. Và hiện nay diện tích trồng chè ngày càng được mở rộng và đang có nhiều

họ


Võ Thị Hoàng - K42AKTNN

1


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Kiên

sống của nhân dân như sâu hại chè và một số bệnh cây gây ảnh hưởng rất lớn đến sản
lượng và chất lượng, giá các loại vật tư phân bón tăng làm giảm mức đầu tư, chất lượng
và sản lượng giảm hẳn, gây ảnh hưởng đến năng xuất. Chưa có sự tập trung chỉ đạo
quyết liệt từ cấp cơ sở (xã, thôn bản). Trong chỉ đạo điều hành có lúc thiếu tính đồng bộ,

uế

thiếu tính kiên quyết. Chính sách hổ trợ trồng chè chưa lớn để tạo động lực cho nhân dân
tích cực tham gia. Ngoài ra nguồn vốn cho vay từ hoạt động trồng chè còn hạn chế gây

tế
H

không ít khó khăn đến các hoạt động của dự án. Do vậy phát triển trồng chè cần phải có
những giải pháp cụ thể để đảm bảo cho ngành trồng cây lâu năm phát triển ổn định và
mạnh mẽ hơn.

Để đánh giá đúng hiệu quả kinh tế của cây chè tác động đến đời sống người dân như

h


ườ

- Từ đó tìm ra các giải pháp từ hoạt động sản xuất đến hoạt động tiêu thụ, đề

xuất các định hướng phát triển trong tương lai.

Tr

2.3. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này tôi sử dụng một số phương pháp sau:
+ Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu sơ cấp: Chọn ngẫu nhiên 60 nông hộ thuộc 3 xã trong địa bàn huyện để

điều tra. phỏng vấn trực tiếp.

Võ Thị Hoàng - K42AKTNN

2


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Kiên

Số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu tại phòng Nông Nghiệp huyện, niên giám thống
kê huyện, và tìm hiểu thông tin qua mạng, sách báo...
+ Phương pháp thống kê: Trình bày các kết quả tổng hợp và phân tích số liệu
thống kê, từ đó đánh giá các vấn đề nghiên cứu dưới các khía cạnh khác nhau.

uế

xuất những giải pháp phát triển trong những năm tới.

Do thời gian và kiến thức còn hạn hẹp, nên đề tài khó tranh khỏi những sai xót, rất

Tr

ườ

ng

Đ
ại

mong sự đóng góp của quý thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn.

Võ Thị Hoàng - K42AKTNN

3


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Kiên

PHẦN II
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học về vấn đề nghiên cứu

uế


+ Quan điểm thứ nhất: Trước đây, người ta coi hiệu quả kinh tế là kết quả
đạt được trong hoạt động kinh tế. Ngày nay, quan điểm này không còn phù hợp,

Đ
ại

bởi vì nếu cùng một kết quả xuất nhưng hai mức chi phí khác nhau thì theo quan
điểm này chúng có cùng một hiệu quả.
+ Quan điểm thứ hai: Hiệu quả đạt được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản phẩm

ng

xã hội hoặc thu nhập quốc dân, hiệu quả sẽ cao khi các nhịp độ tăng của các chỉ tiêu đó cao.
Nhưng chi phí hoặc nguồn lực được sử dụng tăng nhanh vì sao? Hơn nữa, điều kiện sản

ườ

xuất năm hiện tại khác với năm trước, yếu tố bên trong và bên ngoài của nền kinh tế có

Tr

những ảnh hưởng cũng khác nhau. Do đó, quan điểm này chưa được thoả đáng.
+ Quan điểm thứ ba: Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất

ra, tức là giá trị sử dụng chứ không phải là giá trị.
+ Quan điểm thứ tư: Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm

chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức độ tăng khối lượng kết quả hữu ích
của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của

lao động ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Sản lượng tiềm năng cũng phải ứng với

in

một tỷ lệ huy động tài sản cố định nào đó thì mới hợp lý.

cK

Như vậy, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả do đó việc xác định khái niệm
hiệu quả cần xuất phát từ quan điểm triết học Mác xít và những luận điểm của lý
thuyết hệ thống để có cách nhìn nhận và đánh giá đúng đắn.

họ

- Một là: Theo quan điểm triết học Mác xít thì bản chất của hiệu quả kinh tế
là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sử dụng

Đ
ại

nguồn lực của xã hội. Các Mác cho rằng, quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có
tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất. Mọi hoạt động
của con người đều tuân theo quy luật này, nó quy định động lực phát triển của lực
lượng sản xuất tạo điều kiện phát triển phát minh xã hội và nâng cao đời sống của con

ng

người qua mọi thời đại.
- Hai là: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội là một


kinh tế được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật xác định bằng các
tỷ lệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống sản xuất xã hội, phản ánh trình độ sử

tế
H

dụng nguồn lực và việc tạo ra lợi ích nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội.

Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả như trên ta thấy rằng hiệu quả là một
phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của hiệu quả kinh tế và quản lý. Hơn nữa việc xác
định hiệu quả là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp về lý luận và cả thực tiễn. Bản

h

chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là đáp

in

ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong

cK

xã hội. Muốn vậy, sản xuất không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Quan điểm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thoả mãn vấn đề tiết
kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ môi

họ

trường. Chính vì vậy mà hiệu quả của một quá trình nào đó cần được đánh giá
toàn diện cả ba khía cạnh: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.

C: Chi phí
Võ Thị Hoàng - K42AKTNN

6


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Kiên

Phương pháp này phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các nuồn lực, xem xét được
một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu kết quả, do đó giúp ta so sánh
được hiệu quả ở các quy mô khác nhau.
Thứ hai, hiệu quả kinh tế được xác định bằng cách so sánh phần tăng thêm của kết
Q
C

tế
H

H

uế

quả thu được và phần tăng thêm của chi phí bỏ ra. Công thức được xác định như sau:

H: Hiệu quả kinh tế
Q: Phần tăng thêm của kết quả
C: Phần tăng thêm của chi phí


Tổng giá trị sản xuất là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cho các cơ sở

sản xuất thuộc tất cả các ngành nghề kinh tế quốc dân đạt được trong một chu kỳ nhất

ườ

định thường là 1 năm. Là kết quả hoạt động hữu ích từ các cơ sở sản xuất từ các cơ sở

Tr

sản xuất đó, giá trị sản xuất bao gồm:
Giá trị sản phẩm vật chất: Tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng
Giá trị sản phẩm dịch vụ: Phục vụ sản phẩm và phục vụ đời sống
GO =  p *i Qi

Trong đó:
Qi: là khối lượng sản phẩm loại i sản xuất ra (kg)
Pi: Là giá bán sản phẩm loại i (1000/kg)
Võ Thị Hoàng - K42AKTNN

7


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Kiên

+ Chi phí trung gian IC: Là bộ phận cấu thành của tổng giá trị sản xuất bao gồm
toàn bộ chi phí thường xuyên về vật chất (không kể khấu hao) và chi phí dịch vụ (sản
phẩm vật chất và phi vật chất) được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch

+ Tổng chi phí sản xuất: là toàn bộ hao phí về vật chất, dịch vụ và lao động đã

họ

đầu tư cho tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm.
+ GO/IC: Cứ mỗi đơn vị trung gian bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất

Đ
ại

+ VA/IC: Cứ mỗi đơn vị trung gian bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng
+ Giá trị hiện tại thuần (NPV - Net present value)
Giá trị hiện tại thuần là hiệu số của giá trị hiện tại dòng doanh thu (cash inflow)

ng

trừ đi giá trị hiện tại dòng chi phí (cash inflow) tính theo lãi xuất chiết khấu lựa chọn.
NPV được tính theo công thức sau:
n

ườ

NPV   ( Bt  Ct ) / (1  r ) t
t o

Tr

Trong đó:
* Bt: Khoản thu hàng năm của dư án và cả giá trị thanh lý khi hết thời kỳ kinh doanh.
* Ct: Là chi phí hàng năm của năm t, và vốn ban đầu bỏ ra để tạo tài sản cố định,

chè đã mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định,cải thiện đời sống văn hóa xã hội, tạo ra

in

h

công ăn việc làm cho bộ phận lao động dư thừa nhất là ở các vùng nông thôn. Nếu so
sánh cây chè với các loại cây chè khác thì cây chè có giá trị kinh tế cao hơn hẳn,vì cây

cK

chè có chu kỳ kinh tế dài, nó có thể sinh trưởng,phát triển và cho sản phẩm liên tục
khoảng 30-40 năm, nếu chăm sóc tốt thì chu kỳ này còn kéo dài hơn nữa.
Mặt khác cây chè là cây không tranh chấp đất đai với cây lương thực,nó là loại cây

họ

trồng thích hợp với vùng đất trung du và miền núi. Chính vì vậy cây chè mang lại giá trị
kinh tế cao mà còn góp phần cải thiện môi trường,phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Nếu

Đ
ại

kết hợp với trông rừng theo phương thức Nông - Lâm kết hợp sẽ tạo nên một vành đai
xanh chống xói mòn rửa trôi, góp phần bảo vệ một nền nông nghiệp bền vững.
Như vậy, phát triển sản xuất chè đã và đang tạo ra một lượng của cải vật chất lớn

ng

cho xã hội,tăng thu nhu nhập cho người dân,cải thiện mức sống ở khu vực nông thôn.

uế

biên phát triển mạnh.
Thân chè : Cây chè sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên chỉ có một thân chính,

tế
H

trên thân phân thành 3 loại :

Thân gỗ : Là loại hình cây to, có thân chính, vị trí phân cành cao.

Thân nhỏ: Là loại hình trung gian, có thân chính tương đối rõ rệt, vị trí phân cành
thường cao 20-30 cm.

nhiều. Vị trí phân cành cấp 1 ngay gần cổ rễ.

in

h

Thân bụi (quán mộc) : Không có thân chính rõ rệt, tán cây rộng thấp, phân cành

cK

Cành chè : Cành chè mọc từ chồi dinh dưỡng trên thân chính gọi là cành 1, mọc
từ cành 1 gọi là cành 2, cành 3…Cành nằm tương.

Trên cành chia ra nhiều đốt, dài 1 đến 10 cm tùy giống và điều kiện sinh trưởng.


cánh màu trắng hay phớt hồng. Quả chè thuộc loại quả nang có từ 1-4 hạt. Hình dạng
Võ Thị Hoàng - K42AKTNN

10


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Kiên

quả có thể tròn, tam giác, vuông, tùy theo số hạt. Khi còn non quả chè màu xanh, khi
chín quả chuyển sang màu thẫm hoặc nâu. Khi quả chín vỏ nức ra.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
1.1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới

hạn hán ở Ấn Độ, Sri Lanka và Kenya, trong khi nhu cầu tăng mạnh.

uế

Giá chè thế giới năm 2009 đã tăng gấp đôi, lập kỷ lục cao của nhiều năm nay do

tế
H

Từ mức giá trung bình 2,38 USD/kg năm 2008, giá chè hảo hạng BP1s của
Kenya đã tăng lên 2,74 USD/kg vào đầu năm 2009, tiếp tục tăng lên 3,18 USD/kg vào
tháng 9/2009 và kết thúc năm 2009 ở mức 5,45 USD/kg.

Sản lượng chè của Kenya, nước xuất khẩu chè đen lớn nhất thế giới, đã giảm 9%


ườ

tới 3,4 điểm phần trăm so với mức tăng cung, đúng vào thời điểm giá chè tăng mạnh.
Trên thực tế, phần thu nhập mà các hộ gia đình dành để mua chè vẫn tương đối nhỏ. Vì

Tr

vậy, đây là thị trường được đánh giá là có tiềm năng rất lớn.
Dự báo tình trạng thiếu cung chè sẽ càng thêm trầm trọng trong năm 2010 do sản

lượng ở Châu Phi, Sri Lanka và Ấn Độ tăng không theo kịp mức tăng của nhu cầu về
chè. Theo ông Aditya Khaitan, giám đốc công ty McLeod Russel India Ltd – công ty
sản xuất chè lớn nhất thế giới, dự báo thị trường chè thế giới có thể thiếu tới 130 triệu

Võ Thị Hoàng - K42AKTNN

11


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Kiên

kg vào tháng 4/2010, cao hơn mức thiếu 110 triệu kg dự báo hồi tháng 9/2009 và giá
có thể lập kỷ lục cao mới trong năm nay do tình trạng thiếu hụt kéo dài quá lâu.
Sản lượng của các nước sản xuất lớn năm nay sẽ hồi phục, song vẫn không đủ bù đắp
chỗ thiếu hụt bởi tiêu thụ đang tăng nhanh, không chỉ ở Ấn Độ mà cả Trung Đông,

uế


Đ
ại

117 ngàn tấn, nhờ khối lượng xuất khẩu tăng. Đây là một trong số ít những ngành giữ
được phong độ xuất khẩu trong bối cảnh kinh tế toàn cấu sa sút. Việt Nam hiện có 270
doanh nghiệp làm chè, 75% lượng chè khô hàng năm được xuất khẩu sang 110 nước

ng

và vùng lãnh thổ trên thế giới và Việt Nam hiện nay đứng thứ 5 thế giới về sản lượng
cũng như kim ngạch xuất khẩu chè. Triển vọng thiếu cung chè trong những tháng tới

ườ

sẽ là cơ hội tốt cho ngành chè Việt Nam. Tuy nhiên, điểm yếu của chè nước ta là chất
lượng không đồng đều, nên giá chưa cao, chỉ bằng nửa giá thế giới. Trong khi giá chè

Tr

trung bình toàn cầu năm 2009 là 2,2 USD/kg thì chè VN chỉ khoảng 1,1 USD/kg. Do
vậy, trong khi khối lượng xuất khẩu tăng mạnh thì trị giá xuất khẩu chỉ tăng khoảng
13,6% đạt 167 triệu USD. Những vấn đề đặt ra cho ngành chè nước ta hiện nay là nâng
cao chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu để chè Việt Nam ngày một vươn xa
trên thị trường toàn cầu. Triển vọng chè thế giới năm 2009 sẽ còn tiếp tục tăng và mức

Võ Thị Hoàng - K42AKTNN

12




cK

của Việt nam sẽ đạt 131,5 nghìn ha, với năng suất dự kiến 6,5 tấn búp tươi/ha. Dự báo
của ngành chè cho thấy, thời gian tới do diễn biến thời tiết thuận lợi,năng suất và sản
lượng chè năm 2009 của Việt Nam sẽ tăng hơn so với năm 2008. Bên cạnh đó các hộ

họ

sản xuất và kinh doanh ngành chè Việt Nam cũng đã dần chú trọng đến khâu sản xuất
và chế biến chè đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm nâng cao năng

Đ
ại

suất và chất lượng chè Việt Nam nên bức tranh tổng thể của ngành chè trong năm 2009
tương đối sang sủa và khả quan.

Hiệp hội Chè Việt Nam(Vitas) cho biết,trong những tháng cuối năm 2009, ngoài

ng

các thị trường lớn như Pakistan, Ấn Độ,Ả rập Xeut …thì Nga và Mỹ cũng là hai thị
trường tiềm năng “mới nổi” mà các doanh nghiệp ngành chè cần tập trungg phát triển

ườ

hơn nữa trong tổng số 49 thị trường nhập khẩu chè Việt nam hiện nay.
Theo điều tra đánh giá của Vitas, hiện nay Mỹ là quốc gia tiêu thụ chè lớn thứ 8


Sơn là một trong những huyện trọng điểm chè của tỉnh. Quỹ đất trồng chè trong các

vùng đã được quy hoạch vẫn còn trên 600 ha. Hiện tại trên địa bàn huyện đã có 03 nhà
máy chế biến chè với tổng công suất 100 tấn ngày (cả chè xanh và chè đen). Sản lượng
chè tươi cung cấp cho nhà máy chế biến trong những năm gần đây mới đạt từ 13-15

in

h

ngàn tấn. Thị trường xuất khẩu chè của trong nước nó chung, tỉnh Nghệ An nói riêng
được mở rộng và ổn định. Như vậy nhu cầu nguyên liệu cho nhà máy chế biến và xuất

cK

khẩu còn rất lớn. Trong mười năm qua ( Từ năm 2001) huyện Anh Sơn xác định chè là
cây mũi nhọn kinh tế, vì vậy cây chè được chú trọng phát triển và đã mang lại hiệu quả
kinh tế khá rõ.tổng diện tích chè hiện có là 960 ha tập trung tại 3 xã: Hùng Sơn, Phúc

họ

Sơn, Long Sơn. Theo báo cáo tình hình sản xuất thì Hùng Sơn với diện tích 363ha,

Đ
ại

Phúc Sơn là 160, Long Sơn là197 còn lại là các xã khác.

Bảng 1 : Một số chỉ tiêu về diện tích và sản lượng, năng suất chè trên địa bàn



9

2. DT cho sản phẩm

Ha

616

650

500

24

3. Sản lượng

Tấn

9523,36

9535,5 10000

12,14

4.Năng suất

Tấn/ha

Tr


14


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Kiên

Trong năm 2009 diện tích trồng chè là 907 ha nhưng đến năm 2010 diện tích
trồng chè tăng lên 916 ha tăng lên 9ha tương đương với tăng 1%. Nhưng trong đó diện
tích co sản lượng chỉ có 616 ha với năng suất là 15,46 tấn/ha. Trong năm 2010 thì diện
tích đất trồng cho sản lượng có tăng nhưng không đáng kể với diện tích là 650 ha đạt

uế

14,67 tấn/ha. Năng suất năm 2010 giảm so với năm 2009 đó là do yếu tố khí hậu làm
ảnh hưởng đến năng suất và có một số vườn chè đến thời kì giảm năng suất. Trong

tế
H

năm 2011 do áp dụng khoa học kĩ thuật và bón phân đúng qui định nên năng suất có
tăng đáng kể tăng lên đến 5,33 tấn/ha,tương dương với tăng 36,33% so với năm 2010,
năng suất năm này lên đến 20 ngàn tấn.nhưng diện tích cho sản lượng thì giảm đi
21,875% tương đương với giảm là 140 ha. Sở dĩ diện tích này giảm đi là do một số hộ

h

phá chè đã lâu năm năng suất thấp để trông mới, có một số hộ phá để canh tác cây


Đối với vùng núi cao không nhất thiết phải tổ chức HTX mà phát triển kinh tế hộ và
thành lập quan hệ Nhà nước theo đơn vị bản, buôn, HTX, thực hiện cơ chế khoán gọn

Tr

cho xã viên.
- Chỉ thị số 53 CT/TW: Ngày 08/01/1984 của BBT trung ương Đảng về khuyến

khích phát triển kinh tế hộ gia đình, cho phép các hộ gia đình nông dân tận dụng mọi
nguồn đất đai mà HTX và lâm trường chưa sử dụng hết để đưa vào sản xuất. Nhà nước
không đánh thuế sản xuất kinh doanh đối với kinh tế hộ gia đình, kinh tế hộ gia đình
xã viên được chính thức thừa nhận là một bộ phận hợp thành kinh tế xã hội chủ nghĩa
Võ Thị Hoàng - K42AKTNN

15


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Kiên

và được tạo mọi điều kiện phát triển.
- Nghi quyết 10: Ban hành ngày 05/04/ 1988 của BCH Trung ương Đảng với nội
dung chủ yếu là khoán hộ, đã xác định hộ nông dân được quyền tự chủ ruộng đất lâu
dài và lam chủ thêm nhiều tư liệu sản xuất. Phần lớn các phương tiện sản xuất được

uế

giao cho hộ nông dân và họ tự do sử dụng chúng theo mong muốn. Đất đai vẫn thuộc
quyền sở hữu của nhà nước và có thể chia lại sau một thời gian nhất định.

Đ
ại

nghiệp từ đó phát triển kinh tế xã hội.
- Để công nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế cá thể này bỏ vốn, sức lao
động và kỹ thuật vào phát triển nông lâm nghiệp.

ng

- Nghị định 170 HĐBT: đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế này phát triển

trong mọi lĩnh vực như: Trồng rừng sản xuất, chăn nuôi và kinh doanh nghề phụ. Thông

ườ

qua đó có thể mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh phù hợp với khả năng sẵn có của mình.
- Quyết định 72 HĐBT: Ra ngày 13/03/1990 về một số chủ trương chính sách cụ

Tr

thể để phát triển kinh tế xã hội miền núi. Quyết định đề cập đến vấn đề giao đất, giao
rừng cho các hộ gia đình, có quyền tự chủ kinh doanh bằng nhiều hình thức phù hợp
với điều kiện cụ thể cho từng vùng.
Thực tế cho thấy các chính sách của Đảng và Nhà nước đã tạo cho nông thôn
miền núi nói chung và các hộ gia đình miền núi nói riêng rất nhiều thuận lợi trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội của khu vực này.
Võ Thị Hoàng - K42AKTNN

16



cK

- Phía Tây giáp huyện Con Cuông và nước Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào.
- Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Năm 2007 là 60.328,50 ha với 20 đơn vị
hành chính cấp xã (01 thị trấn và 19 xã).

họ

Huyện Anh Sơn cách thành phố Vinh khoảng 100 km về phía Tây Bắc, trên địa
bàn huyện có 2 tuyến đường giao thông chính là Quốc lộ 7A và đường mòn Hồ Chí

Đ
ại

Minh nối liền các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Tân Kỳ. Hệ thống giao thông
đường thủy bao gồm: Sông Lam, sông Giăng và sông Con đã tạo điều kiện thuận lợi
cơ bản cho huyện trong việc mở rộng giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với các địa
phương khác trong và ngoài tỉnh.

ng

2.1.1.2. Địa hình, địa mạo

ườ

Địa hình của huyện chủ yếu là đồi núi có xen kẽ với đồng bằng, hai bên cao dốc

ở giữa là sông Lam. Do địa hình bị chia cắt bởi ba con sông lớn (sông Lam, sông Con


H

công nghiệp dài ngày và cây ăn quả, mía đồi, trồng cây lâm nghiệp.

- Dạng địa hình núi thấp: Chủ yếu ở dạng núi thấp 300 - 500 m, chiếm khoảng
26% diện tích tự nhiên. Tập trung ở phía Bắc của huyện (gồm các xã: Thành Sơn, Bình
Sơn, Thọ Sơn, Đỉnh Sơn), phía Tây nam (xã Phúc Sơn). Những đỉnh cao nhất ở xã

cK

2.1.1.3. Khí hậu

in

chủ yếu sử dụng vào mục đích lâm nghiệp.

h

Thành Sơn là 400 m, Phúc Sơn cao nhất là đỉnh Cao Vều 1.200 m, dạng địa hình này

Huyện Anh Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và mang những đặc điểm
riêng của khí hậu khu vực miền Trung. Khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa,
a. Nhiệt độ:

họ

nóng từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm. Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau:

Đ
ại


d. Lượng mưa:
- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.870 mm
- Lượng mưa năm lớn nhất:

3.500 mm

- Lượng mưa năm nhỏ nhất:

1.105 mm.

uế

Lượng mưa phân bố không đều theo thời gian, lượng mưa lớn thường tập trung
vào tháng 8 và tháng 9 chiếm 75% - 80% lượng mưa cả năm. Tháng có lượng mưa ít là

tế
H

tháng 2, tháng 3, tháng 7.
đ. Nắng:

+ Số giờ nắng trong năm: 1.668 giờ. Các tháng nắng nhiều là: tháng 5, tháng 6,
1,6 giờ/ngày, thường có mưa phùn.

in

2.1.1.4. Thuỷ văn

h

đun dòng chảy là 25,4 l/s/km2.
- Sông Giăng: Sông Giăng cũng là phụ lưu của sông Lam, chiều dài của sông

Tr

đoạn chảy qua địa bàn huyện là 13 km, chảy qua địa bàn các xã: Hội Sơn và Phúc Sơn.
Diện tích lưu vực của sông là 1.050 km2, tổng lượng nước của sông khu vực phụ lưu
lên tới 21,90 km3, ứng với lưu lượng bình quân nhiều năm là 688 m3/s và mô đun dòng
chảy là 25,3 l/s/km2. Lòng sông nhỏ, hẹp, khả năng vận tải gặp nhiều khó khăn.
Ngoài 3 sông chính trên, địa bàn huyện Anh Sơn còn có các sông suối nhỏ: ... tạo

Võ Thị Hoàng - K42AKTNN

19


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Kiên

thành mạng lưới lưu vực các sông chính. Đây là nguồn cung cấp nước phục vụ cho sản
xuất, sinh hoạt của người dân trong huyện.
2.1.1.5.Thổ nhưỡng
Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng toàn tỉnh Nghệ An, huyện Anh Sơn có những

uế

loại đất chính sau:
* Đất phù Sa



cây trồng như: ngô, lạc, mía, đậu, rau.... Nơi có điều kiện thủy lợi tốt có thể trồng lúa.
Là loại đất có giá trị trong sản xuất nông nghiệp (đã được sử dụng gần hết). Yêu cầu sử
dụng là cần có biện pháp để bảo vệ cho đất không bị xói lở bào mòn, bồi lấp, như
trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, trồng rừng ven sông.

ng

- Đất phù sa không được bồi không có glây hoặc glây yếu - chua: Diện tích 5.728

ha, chiếm 9,45% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 10,3% tổng diện tích các loại thổ

ườ

nhưỡng. Phân bố ở các xã Hùng Sơn, Hội Sơn, Tường Sơn, Đức Sơn, Thạch Sơn,
Long Sơn, Tào Sơn, Thành Sơn, Bình Sơn. ở địa hình cao, nguồn gốc là đất phù sa của

Tr

hệ thống sông Cả, do quá trình canh tác lâu đời, chế độ nước không ổn định và hợp lý
nên chất màu kém dần. Hầu hết đất có sản phẩm Peralit, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ
đến thịt nặng tùy từng vùng. Đất có phản ứng chua (pH(kcl) phần lớn nhỏ hơn 5), ít
mùn, lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo (lân tổng số 0,02 - 0,04%, lân dễ tiêu thường là
vệt, kali trung bình (kali tổng số 0,12 - 1,00%).

Võ Thị Hoàng - K42AKTNN

20




cK

vôi. Đất có cấu tượng tốt (xốp), khả năng giữ nước và giữ màu khá. Đất có phản ứng
chua, mùn trung bình, đạm và ka li giàu, lân khá. Là loại đất khá tốt, có thể trồng cây
công nghiệp như cà phê, chè, mít, cây ăn quả và các loại rau màu khác. Hiện nay hầu

họ

hết loại đất này đã được sử dụng.

- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét: Diện tích 22.015 ha, chiếm

Đ
ại

36,33% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 40,07% tổng diện tích các loại thổ nhưỡng.
Phân bố ở tất cả các xã vùng đồi của huyện, nhiều nhất ở các xã Cao Sơn, Khai Sơn,
Long Sơn, Phúc Sơn. Đây là loại đất quan trọng, chứa đựng nhiều tiềm năng và thế
mạnh của huyện. Là loại đất có diện tích lớn nhất và tương đối tốt về lý tính cũng như

ng

hóa tính. Đất có phản ứng chua (pH( kcl) 4 - 5), đạm tổng số trung bình (0,08% 0,1%), kali tổng số trung bình (0,1% - 0,15%), thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung

ườ

bình, tầng đất trung bình hoặc dày (40 cm -120 cm). Tuy nhiên một số nơi lâu nay sử

Tr


ha

%

Ha

So sánh

2010/2009

%

60328,50 100,00

60328,50 100,00

60328,50

I.Đất nông nghiệp

13743,06 22,78

14127,59 23,42

14457,24

100,00

+/-


36,17

0,43

109,28

1,28

2.Đất trồng cây lâu năm

3159,77

5,24

3308,13

5,48

3428,50

5,68

148,36

4,7

120,37

3,64


0,49

293,48

0,49

5,38

1,87

0,77

0,26

II.Đất lâm nghiệp

35133,84 58,24

35689,39

59,59

368,31

1,05

187,24

0,53


1,29

789,14

1,32

17,84

2,35

11,74

1,51

8453,39

14,01

7508,29

12,45

6829,12

11,42

-945,10

-11,18


h

Tổng diện tích tự nhiên

+/-

2011/2010

(Số liệu phòng nông nghiệp huyện Anh Sơn)

22


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Kiên

Nhìn vào bảng ta thấy rằng: Tổng diện tích của huyện là 60328,50 ha và ổn định
qua 3 năm. Trong đó đất nông nghiệp chiếm 22,78% trong năm 2009 tổng đó năm
2010 tăng 2.8% so với năm 2009 nhưng sang năm 2011 tăng 2,33% so với năm 2010
tương đương với tăng lên 329,65 ha

uế

Trong cơ cấu đất nông nghiệp thì tất cả các loại đất đều có xu hướng tăng lên, tuy
nhiên chỉ tăng với số lượng nhỏ, đất trồng cây hằng năm và đất trồng cây lâu năm tăng

tế
H


ng

2.1.2.2. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
Tổng dân số toàn huyện năm 2011 là 101969 người với tổng số hộ là 27598 hộ.

ườ

Để biết được tình hình dân số và lao động qua 3 năm ta đi vào phân tích bảng sau:
Nhìn vào số liệu ta thấy rằng:

Tr

Về số hộ: Tính đến 6 tháng đầu năm 2011 theo số liệu thống kê toàn huyện có

27898 hộ với 101969 khẩu tăng lên 527 hộ so với 2010, tương ứng tăng 0,52%. Trong
đó có 18967 hộ sản xuất nông nghiệp, còn hộ phi nông nghiệp là 8931 tăng lên 2183
hộ, tương ứng với tăng 24,44% so với năm 2010. Trong năm 2010 thì tổng số hộ là
27730 với tổng nhân khẩu là 101442 khẩu tăng lên 77 hộ so với 2009, tương ứng tăng
0.28%.trong đó có 20982 hộ nông nghiệp,còn hộ phi nông nghiệp là 6748 tăng lên

Võ Thị Hoàng - K42AKTNN

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status