Nhận thức của người dân về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm của thịt lợn trên địa bàn xã văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội - Pdf 39

Đề tài : Nhận thức của người dân về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm của
thịt lợn trên địa bàn xã văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận
văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Trịnh Quang Tú


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban
Giám Hiệu trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, khoa Kinh tế và Phát triển
nông thôn; cảm ơn các Thầy, Cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức
quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Tiến sĩ Trần
Văn Đức - người đã dành nhiều thời gian, tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn
về phương pháp khoa học và cách thức thực hiện các nội dung của đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo UBND xã Văn Đức, cùng các
người dân trên địa bàn xã đã tiếp nhận và nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp các
thông tin, số liệu cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề
tài này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã chia
sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn
thiện luận văn này.
Trong quá trình làm nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn
thành luận văn, đã tham khảo nhiều tài liệu và đã trao đổi, tiếp thu ý kiến của
Thầy Cô và bạn bè. Song do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên cứu của

Đức, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Và mục tiêu cụ thể là: thứ nhất, góp phần hệ
thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề vệ sinh ATTP và nhận thức
của người dân về vệ sinh ATTP liên quan đến thịt lợn; thứ hai, đánh giá thực
trạng nhận thức của người dân về vấn đề vệ sinh ATTP của thịt lợn trên địa
bàn huyện; thứ ba là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về vấn đề


vệ sinh ATTP của thịt lợn của người dân trên địa bàn và thứ tư là đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong vấn đề vệ sinh
ATTP của thịt lợn trên địa bàn xã Văn Đức - huyện Gia Lâm- Hà Nội.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu trên các lĩnh vực
về nhận thức của người dân trên địa bàn xã Văn Đức- huyện Gia Lâm về vấn
đề vệ sinh ATTP của thịt lợn.
Để hiểu rõ vấn đề nghiên cứu, tôi đã đưa ra cơ sở lý luận và cơ sở thực
tiễn của đề tài. Phần cơ sở lý luận tôi nêu lên các lý luận về vấn đề vệ sinh
ATTP nói chung cũng như lý luận về vấn đề vệ sinh ATTP của thịt lợn và lý
luận về nhận thức của người dân về vấn đề vệ sinh ATTP của thịt lợn. Trong
phần lý luận này tôi nêu ra các khái niệm cũng như vai trò và các yếu tố ảnh
hưởng tói nhận thức của người dân về vấn đề vệ sinh ATTP. Phần cơ sở
thực tiễn là tình hình vệ sinh ATTP trên thế giới nói chung và ở Viêt Nam
nói riêng.
Tôi đã sử dụng các phiếu điều tra phỏng vấn người dân bằng bảng câu
hỏi đã chuẩn bị sẵn. Thu thập số liệu đã được công bố qua liên hệ với ủy ban
Nhân dân xã Văn Đức và internet, sách, báo…về các vấn đề vệ sinh ATTP
làm nguồn tài liệu cho quá trình nghiên cứu. Sử dụng phương pháp thống kê
mô tả, phương pháp so sánh để phân tích, dùng máy tính bỏ túi và excel để xử
lý số liệu. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu gồm: nhóm chỉ tiêu về người dân và
nhóm chỉ tiêu phản ánh nhận thức của người dân về vấn đề vệ sinh ATTP của
thịt lợn.
Ở phần kết quả nghiên cứu tôi đã nghiên cứu thực trạng vệ sinh ATTP

8
9
10
11

CHỮ VIẾT TẮT
ATTP
RAT
CNH-HÐN
NÐTP
BVTV
TBVTV
ATVSTP
TAÐP
BÐVHX
GTSX
UBND

GIẢI THÍCH
An toàn thực phẩm
Rau an toàn
Công nghiệp hóa- Hiện ðại hóa
Ngộ ðộc thực phẩm
Bảo vệ thực vật
Thuốc bảo vệ thực vật
An toàn vệ sinh thực phẩm
Thức ãn ðýờng phố
Býu ðiện vãn hóa xã
Giá trị sản xuất
Ủy ban nhân dân huyện


nhiên để bảo đảm được sức khỏe và vệ sinh cho gia đình mình thì trước hết
trong tình hình hiện nay vấn đề nhận thức của người dân về vệ sinh an toàn
thực phẩm mang tính cấp thiết hơn bao giờ hết. Từ thực trạng đó, cùng với sự
giúp đỡ của thầy giáo Tiến sĩ Trần Văn Đức và UBND xã Văn Đức, tôi xin
nghiên cứu đề tài: “ Nhận thức của người dân về vấn đề vệ sinh an toàn
thực phẩm của thịt lợn trên địa bàn xã Văn Đức - huyện Gia Lâm - thành
phố Hà Nội”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở tìm hiểu nhận thức của người dân về vấn đề vệ sinh an toàn
thực phẩm của thịt lợn, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức từ đó
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề
này trên địa bàn xã Văn Đức - huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề vệ
sinh ATTP và nhận thức của người dân về vệ sinh ATTP liên quan đến
thịt lợn.
- Đánh giá thực trạng nhận thức của người dân về vấn đề vệ sinh ATTP
của thịt lợn trên địa bàn xã Văn Đức - huyện Gia Lâm - Hà Nội.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về vấn đề vệ sinh ATTP
của thịt lợn của người dân trên địa bàn xã Văn Đức - huyện Gia Lâm - Hà
Nội.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân
trong vấn đề vệ sinh ATTP của thịt lợn trên địa bàn xã Văn Đức- huyện Gia
Lâm- Hà Nội.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
1. Người dân hiểu như thế nào về Vệ sinh an toàn thực phẩm nói chung



Thực phẩm Theo quy định 31 khoản 1 Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực
phẩm 2003 ( gọi tắt là pháp lệnh 2003), thực phẩm là những sản phẩm mà con
người ăn uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản.
Khái niệm này mang tính khái quát cao, nên sự phân biệt giữa thực phẩm
với các khái niệm mỹ phẩm và dược phẩm chưa rõ ràng. Hiện nay có rất
nhiều sản phẩm vừa được sử dụng như thực phẩm vừa được sử dụng như
dược phẩm như trà thanh nhiệt, các loại sữa chua lên men, viên ngậm vitamin
C … và những sản phẩm được coi là dược phẩm khi có thành phần hoạt chất
với hàm lượng liều dùng có tác dụng phòng và chưa bệnh, đồng thời được sản
xuất công bố có tác dụng phòng chữa bệnh. Theo điểm 1 mục 1 thông tư số
17/2000/TT-BYT ngày 27/9/2000 hướng dẫn đăng ký sản phẩm dưới dạng
thuốc , dược phẩm thì việc hiểu đúng khái niệm về thực phẩm có ý nghĩ quan
trọng trong việc áp dụng các quy định về sản xuất, đăng ký, lưu hành đối với
các nhà sản xuất.
Thực phẩm còn được hiểu là bất kỳ vật phẩm nào, bao gồm chủ yếu các
chất: chất bột (cacbohydrat), chất béo (lipit), chất đạm (protein), hoặc nước,
mà con người hay động vật có thể ăn uống được, với mục đích cơ bản là thu
nạp các chất dinh dưỡng nhằm nuôi dưỡng cơ thể hay vì sở thích. Các thực
phẩm có nguồn gốc từ thực vật, động vật, vi sinh vật hay các sản phẩm chế
biến từ phương pháp lên men như rượu, bia. Thực phẩm được thu nhận thông
qua việc gieo trồng, chăn nuôi, đánh bắt và các phương pháp khác.


Vệ sinh thực phẩm là khái niệm khoa học để chỉ thực phẩm không có
chứa vi sinh vật gây bệnh và không chứa độc tố. Hay nói cách khác vệ sinh
thực phẩm là mọi điều kiện và biện pháp nhằm đảm bảo sự an toàn và tính
hợp lý của thực phẩm trong toàn bộ dây chuyền thực phẩm.
An toàn thực phẩm được hiểu như khả năng không gây hại cho người tiêu
dùng khi nó được chế biến hay ăn uống theo mục đích sử dụng đã định trước.
Vệ sinh an toàn thực phẩm: là các điều kiện và biện pháp cần thiết để

dân nước họ vì vệ sinh là một khoa học về bảo vệ và tăng cường sức khoẻ của
con người
Mối quan hệ giữa vệ sinh và an toàn thực phẩm luôn luôn có sự tác động
theo hai chiều là tích cực hoặc tiêu cực.
- Theo chiều tích cực:
Nếu tất cả các sản phẩm đều được vệ sinh sạch sẽ và an toàn trước khi
đưa vào sử dụng phục vụ nhu cầu của con người thì nó sẽ tạo cho con người
luôn có sức khoẻ tốt, ít bệnh tật và đảm bảo vệ sinh.
Vệ sinh và an toàn thực phẩm không những làm giảm bệnh tật, tăng
cường sức lao động mà còn nâng cao sự phát triển kinh tế văn hoá xã hội và
thể hiện nếp sống văn minh của nước đó.
- Tác động tiêu cực:
Tuy nhiên ngược lại nếu như thực phẩm mà không được vệ sinh sạch sẽ
thì sẽ gây ra nguy hiểm vì thực phẩm cũng có thể là một yếu tố truyền bệnh
nguy hiểm. Nhiều loại vi sinh vật gây bệnh có thể tồn tại ở thực phẩm một
thời gian khá dài, một số còn có khả năng sinh sản và phát triển rất mạnh ở
đó. Các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao lại là môi trường thuận lợi
cho nhiều vi sinh vật phát triển. Khi thực phẩm bị ôi ươn, biến chất còn tạo ra
những chất gây độc hại cho cơ thể.


2.1.1.3 Tính tất yếu của Vệ sinh ATTP và vai trò của nó trong đời sống
xã hội
Con người muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải ăn. Một đời người
trung bình đã ăn 10 tấn gạo, 25 tấn thực phẩm gồm: rau, củ, quả, đậu, lạc, thịt,
cá, trứng, đường sữa…
Mọi người chúng ta đều nhận thấy tầm quan trọng của ăn uống.Ăn uống
là nhu cầu hàng ngày, nhu cầu cấp bách, bức thiết. Ăn không chỉ chống cảm
giác đói mà ăn còn đem lại niềm thích thú, gắn liền với phát triển và gắn liền
với sức khoẻ. Ngay từ trước Công nguyên, các nhà y học đã cho rằng ăn uống


Mỹ

- 175 ca / 1000 dân

1531USD/ca

2
3
4
5
6

Nhật
Anh
Úc
Canada

- Mỗi năm chết 5000 người
20- 40ca / 100.000 dân
190ca / 1000 dân
4.2 triệu ca / năm

789 bảng Anh/ca
1679 AUS/ca
1100 USD/ca

Chỉ 1/10 số ngộ độc thực phẩm
Trung Quốc được thống kê
- Các nước phát triển : 10% bị ngộ

tình trạng thiếu thốn thực phẩm hàng ngày, điều kiện vệ sinh môi trường kém,
những người có sức đề kháng kém hoặc đang có bệnh thường dễ bị ngộ độc
thực phẩm hơn, hậu quả là tình trạng sức khoẻ lại càng tồi tệ, đôi khi lại còn
kéo theo một số bệnh tiềm ẩn khác do tích luỹ các chất độc hại trong cơ thể.
Sử dụng thực phẩm không vệ sinh an toàn trước mắt có thể bị ngộ độc cấp
tính với các triệu chứng ồ ạt dễ nhận thấy, nhưng vấn đề nguy hiểm hơn nữa
là sự tích luỹ dần các chất độc hại ở một số bộ phận trong cơ thể sau một thời
gian mới phát bệnh hoặc có thể gây dị tật, dị dạng cho các thế hệ mai sau.
Những bệnh do thực phẩm gây ra có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với
sức khoẻ và cuộc sống của con người. Nhiều người đã bị mắc bệnh, thậm chí
tử vong do ăn phải các thực phẩm không đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn
thực phẩm. Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm là một vấn đề toàn cầu,
quan hệ trực tiếp đến sức khoẻ của toàn nhân loại. Theo ước tính của Tổ chức
Y tế thế giới, tại một số nước đang phát triển, tỷ lệ tử vong do ngộ độc thực
phẩm chiếm từ 1/2 đến 1/3 tổng số trường hợp tử vong. Ở Việt Nam, trên thị
trường vẫn còn nhiều hàng thực phẩm giả, nhiều thực phẩm không đảm bảo
chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, nhiều cửa hàng dịch vụ thực phẩm
không đảm bảo vệ sinh, dẫn đến các vụ ngộ độc thực phẩm ngày càng gia
tăng và các dịch bệnh lây theo đường ăn uống còn khá phổ biến. Nhiều vụ
ngộ độc thực phẩm hàng loạt với hàng trăm người mắc thỉnh thoảng vẫn xảy
ra. Hiện nay, suy dinh dưỡng liên quan đến tiêu chảy là một trong những vấn
đề mà thế giới đang phải quan tâm. Trẻ em rất nhạy cảm với thực phẩm ô


nhiễm, thường bị ngộ độc cấp tính dẫn đến tiêu chảy, nếu thời gian kéo dài sẽ
gây nên hội chứng kém hấp thu ảnh hưởng đến toàn bộ tình trạng dinh dưỡng.
Hậu quả là một vòng luẩn quẩn của suy dinh dưỡng, tăng tính nhạy cảm với
bệnh tật và nhiễm trùng, đôi khi còn kéo theo một số bệnh tiềm ẩn khác.
Ảnh hưởng đến sức khoẻ của ngộ độc cấp tính rất rõ rệt và còn có thể
gây nên tình trạng suy nhược, ảnh hưởng ngắn hạn hoặc dài hạn đến tình

hiểm xã hội, vệ sinh cơ sở và quan trọng hơn là mất khách hàng, mất thị
trường. Đối với người tiêu dùng, phải chi phí cho điều trị, giảm thu nhập do
sự nghỉ việc, chi phí cho khám bệnh, phục hồi sức khoẻ…
Qua đó, chúng ta có thể thấy ảnh hưởng trầm trọng của ngộ độc thực
phẩm tới sức khoẻ cũng như chi phí của từng cá thể. Đối với nền nông
nghiệp, ngộ độc thực phẩm dẫn tới nghỉ việc, sức khoẻ của người lao động
giảm và có thể dẫn tới thất nghiệp. Đối với công nghiệp thực phẩm, trong
trường hợp có sản phẩm gây ngộ độc thực phẩm thì nhà máy phải ngừng sản
xuất, sản phẩm thu hồi để tái chế hoặc thu hồi vào có thể gây hậu quả lớn đến
sức khoẻ cộng đồng. Đối với ngành du lịch, trường hợp các khách sạn nhà
hàng có những món ăn, đồ uống gây ngộ độc thì khách sạn, nhà hàng sẽ mất
uy tín đối với khách hàng dẫn tới hiệu quả kinh doanh ăn uống bị giảm sút
trong thời gian dài. Sự tăng trưởng kinh tế của các nước có thể bị ảnh hưởng
bởi ngộ độc thực phẩm do không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển luôn
đòi hỏi sức lao động khoẻ mạnh.
Từ những ví dụ trên chúng ta có thể nói rằng:
- Ngộ độc thực phẩm là không thể tránh khỏi nếu chất lượng vệ sinh an
toàn thực phẩm không đảm bảo, thiếu sự quan tâm đúng mức của mỗi người
dân, mỗi gia đình và mỗi quốc gia.
- Mọi thực phẩm đều có nguy cơ tiềm ẩn bị vi khuẩn xâm nhập. Do


vậy, bảo vệ và giữ gìn vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm là vô cùng
quan trọng, đang là mối quan tâm của mỗi quốc gia – nhất là các nước
chậm phát triển.
- Xã hội ngày càng phát triển, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất ngày càng rộng rãi trong các ngành nông nghiệp và công nghiệp chế
biến thực phẩm, các chất hoá học ngày càng được tham gia nhiều vào quá
trình sản xuất, chế biến, phân phối vào bảo quản thực phẩm, càng tạo ra nhiều
nguy cơ vi sinh vật gây ngộ độc thực phẩm. Chính vì vậy, xã hội ngày càng

aureus có thể phát triển trên các loại thực phẩm có chứa nhiều tinh bột,
đường, protein, nhưng chỉ sinh độc tố ở một số thực phẩm nhất định. Ví dụ:
sữa và sản phẩm của sữa, một số sản phẩm chế biến từ thịt, cá, tim, gan và
một số đồ hộp.
- Ngộ độc do độc tố của Clotridium botulimun:
Những thực phẩm có khả năng gây trúng độc: Clotridium botulimun
thường phát hiện trên cá muối, cá ướp lạnh, đồ hộp, xúc xích…
- Virus: virus ô nhiễm trong thực phẩm có thể gây viên gan, bại liệt hoặc
tiêu chảy. Tiêu chảy do thực phẩm nhiễm virus Rota là một trong những
nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi.
Những thực phẩm có khả năng nhiễm virus: các loài nhuyễn thể như loài
hàu, trai, sò… chưa nấu chín là nguyên nhân chính gây bệnh.
- Nấm mốc: Nấm mốc phát triển trong thực phẩm có khả năng sinh độc
tố vi nấm nguy hiểm và tác động ảnh hưởng của những độc tố này khác nhau.
Chẳng hạn ung thư gan do aflatoxin ở các nước miền nhiệt đới, suy thận do
ochratoxin ở các nước Bắc Âu… độc tố vi nấm có thể tác động trên nhiều tổ
chức cơ thể khác nhau.
Những thực phẩm có khả năng nhiễm nấm mốc: thường là các thực


phẩm từ thực vật như ngô, đỗ, lạc…
- Ký sinh vật (ký sinh trùng)
Đa số các trường hợp bị nhiễm giun sán đều do vệ sinh cá nhân kém,
thực phẩm chưa nấu chín hoặc rau quả ăn sống chưa rửa sạch. Giun sán có thể
sống ở bất cứ cơ quan hoặc mô nào trong cơ thể, nhưng thường hay gặp nhất
là ở ruột.
- Ngộ độc do ăn phải thức ăn bản thân chứa các độc tố tự nhiên
+ Ngộ độc do thực vật có chất độc
Một số loại như khoai tây mọc mầm, măng, sắn, nấm rừng… bản thân có
chứa chất độc. Trong khách sạn, nhà hàng, khoai tây là loại thường được sử

thực tiễn. Theo đó, nhận thức không phải là một quá trình thuần túy trừu
tượng hay thuần túy cụ thể. Nó là sự phản ánh vào ý thức những hoạt động
thực tiễn của con người, dưới dạng ý niệm và biểu tượng. Vượt ra ngoài giới
hạn của hoạt động thực tiễn sẽ không có quá trình nhận thức.
2.1.2.2 Các cấp độ của nhận thức
* Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhận thức là một quá trình
biện chứng, diễn ra qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính (trực quan sinh
động) và nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng).
Nhận thức cảm tính có được nhờ sự hoạt động của các giác quan nhận
biết của con người, như thính giác, thị giác, xúc giác. Nó được tiến hành
thông qua ba hình thức nhận biết quan trọng là cảm giác, tri giác, biểu tượng.
Cảm giác là hình thức đầu tiên của sự phản ánh hiện thực khách quan và là
nguồn gốc của tri thức. Theo Lênin, cảm giác tư tưởng, ý thức là sản phẩm
cao nhất của vật chất được tổ chức theo một cách thức đặc biệt.
- Cảm giác là một liên hệ trực tiếp của ý thức với thế giới bên ngoài, là


sự biến thể, chuyển hoá của năng lượng tác động bên ngoài thành yếu tố của ý
thức, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tri giác nảy sinh trên cơ
sở phối hợp, bổ sung lẫn nhau của nhiều cảm giác, đưa lại cho chủ thể nhận
thức sự hiểu biết tương đối đầy đủ hơn về đối tượng phản ánh. Biểu tượng là
hình ảnh của đối tượng nhận thức với những thuộc tính, mối liên hệ nổi bật
của nó được lưu giữ và tái hiện lại trong đầu óc chủ thể. Biểu tượng thể hiện
năng lực ghi nhận, lưu giữ, tái hiện thông tin của bộ óc con người. Chính
những thông tin này là những dữ liệu căn cứ làm tiền đề cơ bản cho việc hình
thành các khái niệm, phạm trù.
- Nhận thức cảm tính cung cấp những hiểu biết ban đầu về đối tượng
nhận thức, nhưng những hiểu biết đó mới chỉ dừng lại ở những nét bề ngoài
của đối tượng. Từ những tri thức trực quan, cảm tính bề ngoài đó, người ta

nhiên bởi con người. Nhưng đó không phải là một phản ánh đơn giản, trực
tiếp, hoàn chỉnh, mà là một quá trình cả một chuỗi những sự trừu tượng, sự
cấu thành, sự hình thành ra các khái niệm, quy luật... Con người không thể
nắm được bằng phản ánh bằng miêu tả toàn bộ giới tự nhiên một cách đầy đủ,
“tính chỉnh thể trực tiếp” của nó, con người chỉ có thể đi gần mãi đến đó,
bằng cách tạo ra những trừu tượng, những khái niệm, những quy luật, một
bức tranh khoa học về thế giới...”.
Như vậy, nhận thức hiểu theo nghĩa chung nhất là sự hiểu biết của con
người đối với hiện thực khách quan, là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc
con người về hiện thực khách quan. Bản chất nhận thức là quá trình phản ánh
biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào óc người
trên cơ sở thực tiễn.
* Theo trường phái dựa trên quan điểm của Benjamin Samuel Bloom


(Bloom)
Năm 1956, Nhà tâm lý, giáo dục Benjamin Samuel Bloom (Bloom) dựa
trên việc đánh giá khả năng nhận thức của người học, ông chia nhận thức
thành 6 cấp độ. Đến năm 1999, Tiến sĩ Lorin Anderson cùng các cộng sự đã
xuất bản phiên bản mới được cập nhật về Phân loại tư duy của Bloom
Biết

Hiểu

Vận dụng

Phân tích

Sáng tạo


riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất
Nhận thức cần phải đi từ cái cá biệt đến cái phổ biến, từ cái riêng đến cái
chung, từ hiện tượng đến bản chất. Bởi vì, có như vậy con người mới đạt tới
sự hiểu biết đúng đắn, đầy đủ, chính xác về bản chất và quy luật của các sự
vật, hiện tượng cũng như của thế giới khách quan nói chung. Nguyên lý về
mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật cũng cho thấy, trong thế
giới, các sự vật, hiện tượng không phải tồn tại biệt lập với nhau, mà trong mối
liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau, cái cá biệt chính là một bộ phận của cái phổ
biến và ngược lại, cái phổ biến tự thể hiện mình thông qua cái cá biệt. Chẳng
hạn, không thể hiểu được bản chất của một cá nhân nếu không tìm hiểu bản chất
của những cá nhân khác, cũng như mối quan hệ của nó đối với cộng đồng.
Quá trình tư duy đi từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản
chất giúp con người có thể rút ra những đặc tính chung của một lớp sự vật,
qua đó đúc kết thành các khái niệm, phạm trù. Mác đã vận dụng đặc điểm này
của nhận thức để nghiên cứu lịch sử phát triển xã hội loài người. Qua sự khảo
sát tiến trình vận động, phát triển lịch sử của từng dân tộc (quốc gia) riêng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status