LUẬN văn THẠC sĩ vấn đề bảo tồn và PHÁT HUY GIÁ TRỊ văn hóa SINH THÁI TRUYỀN THỐNG ở VÙNG núi ĐÔNG bắc nước TA HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Không phải ngẫu nhiên mà năm 2002 được Liên hợp quốc chọn là
năm quốc tế về miền núi. Qua thực tế và qua hàng loạt Hội nghị quốc tế về
môi trường từ năm 1972 đến nay, đặc biệt là Hội nghị Môi trường Quốc tế lần
thứ nhất tại Stốckhôm năm 1972, Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất tại Rio
De Janeiro năm 1992 và ở Johan Nesburg (Nam Phi) năm 2002, nhân loại đã
phải chứng kiến biết bao thảm họa về môi trường do chính mình gây ra. Một
trong những nguyên nhân quan trọng gây nên các cuộc khủng hoảng sinh thái
cục bộ và đang đe dọa một cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu là sự khai
thác và sử dụng một cách vô ý thức, bừa bãi, lãng phí các nguồn tài nguyên
thiên nhiên và môi trường, đặc biệt là sự lãng quên các giá trị văn hóa sinh
thái ở vùng rừng núi - nơi được coi là "lá phổi", là "mái nhà" của thế giới
sống. Qua đó, có thể thấy rằng, tự nhiên nói chung, đặc biệt là những nơi khởi
nguồn của những dòng sông, của những cánh rừng bạt ngàn, những dãy núi
trùng điệp, những thảo nguyên mênh mông đang có những vấn đề gay cấn và
nan giải, đòi hỏi phải có sự quan tâm nghiên cứu và giải quyết. Do đó, vấn đề
môi trường sinh thái nhân văn, đặc biệt là vấn đề môi trường ở các vùng núi
đã trở thành vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu, được cả nhân loại quan tâm
vì sự sinh tồn của chính con người.
Vì sự tồn tại và phát triển của mình, con người phải quan hệ với tự
nhiên và quan hệ với nhau; trong quá trình đó, những giá trị văn hóa sinh thái
cũng dần dần được hình thành. Nghĩa là những giá trị văn hóa sinh thái gắn
liền với mối quan hệ giữa con người và môi trường thiên nhiên. Vì vậy, trong
quá trình bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa sinh thái, cần phải tính đến
các yếu tố của môi trường tự nhiên và mối quan hệ, sự tác động giữa con




Từ đây:
- Số đầu là số thứ tự trong danh mục tài liệu tham khảo.
- Số cuối là số trang của tài liệu tham khảo.


3

bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng này là một
đóng góp không nhỏ vào quá trình xây dựng và phát triển bền vững của đất
nước. Trong khi đó, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sinh thái
truyền thống ở vùng núi Đông Bắc nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế do các
điều kiện kinh tế, xã hội và sự nhận thức của con người ở đây còn nhiều bất
cập so với yêu cầu đặt ra. Vì vậy, vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hóa sinh thái truyền thống ở vùng này hiện nay đang là vấn đề cấp bách cần
được nghiên cứu cả trên bình diện lý luận lẫn thực tiễn.
Chính vì những lý do trên mà chúng tôi đã chọn đề tài "Vấn đề bảo
tồn và phát huy các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng núi Đông
Bắc nước ta hiện nay" làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề xây dựng, phát triển văn hóa luôn được Đảng ta chú ý ngang
tầm với những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội và đã xác định: văn hóa là
nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội. Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay,
Đảng ta đã tiếp tục khẳng định phải giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc,
chúng ta "hòa nhập" nhưng không "hòa tan". Và điều này đã được bàn đến rất
cụ thể trong Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII. Mặt
khác, trước nguy cơ cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm
nặng nề môi trường sống hiện nay, cũng như nhu cầu cấp thiết của phát triển
bền vững, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về bảo vệ môi trường trong thời kỳ

tương đối điển hình trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta như: Tày,
Nùng, Dao, Mông, Thái, Ê đê,... vẫn còn văn hóa của nhiều dân tộc thiểu số
khác chưa được nghiên cứu và công bố rộng rãi.
Vấn đề sinh thái và môi trường đã có một số công trình đề cập đến
như: "Môi trường sinh thái - Vấn đề và giải pháp" (Phạm Thị Ngọc Trầm,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997); "Xã hội học môi trường" (Vũ Cao
Đàm, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2002); cuốn "Sinh thái học và môi


5

trường" (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002),... Nhìn
chung, qua các công trình nêu trên, vấn đề sinh thái và môi trường đã được
khai thác có hệ thống, nhất là những cảnh báo từ môi trường và các tương tác
của nó đến sự phát triển đã được đề cập tương đối rõ nét.
Vấn đề văn hóa sinh thái mới chỉ được quan tâm trong thời gian gần
đây, khi mà thực trạng môi trường sống đang có nhiều vấn đề có liên quan
đến văn hóa, lối sống... Nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể ra một số công
trình như: "Văn hóa sinh thái - nhân văn" (Trần Lê Bảo (chủ biên), Nxb Văn
hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001); "Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi
trường thiên nhiên" (Nguyễn Viết Chức (chủ biên), Nxb Văn hóa - Thông tin,
2002); "Kỷ yếu diễn đàn phát triển bền vững miền núi Việt Nam" (Ủy ban dân
tộc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2003); "Một số vấn đề về bảo vệ môi trường
vùng dân tộc và miền núi" (Ủy ban dân tộc, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2003);
"Những giá trị văn hóa sinh thái nhân văn Hồ Chí Minh" (Phạm Thị Ngọc
Trầm, Tạp chí Triết học, số 12, 2003); "Về cách tiếp cận triết học - xã hội đối
với hiện trạng môi trường sinh thái nhân văn ở Việt Nam: các vấn đề, nguyên
nhân và giải pháp" (Phạm Thị Ngọc Trầm, Tạp chí Triết học, số 6, 2004);
ngoài ra cũng có một số luận án tiến sĩ triết học đã bước đầu đi vào nghiên
cứu văn hóa sinh thái như: "Mối quan hệ giữa thích nghi và biến đổi môi

các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng núi Đông Bắc nước ta hiện
nay nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
- Về giới hạn nghiên cứu đề tài:
Đây là một đề tài rộng có liên quan đến nhiều ngành khoa học. Ở đây
luận văn chỉ giải quyết vấn đề dưới góc độ chuyên ngành triết học. Trên cơ sở
lý luận chung về văn hóa, chúng tôi xem xét vấn đề văn hóa sinh thái từ cách
tiếp cận giá trị.
Khu vực miền núi Đông Bắc nước ta về mặt phân giới địa lý chỉ
mang tính tương đối và ở khu vực này có rất nhiều dân tộc khác nhau cùng
sinh sống, nên văn hóa sinh thái truyền thống của các dân tộc ở đây rất đa
dạng, phong phú. Trong phạm vi của luận văn này chỉ có thể đi sâu vào
nghiên cứu những giá trị văn hóa sinh thái truyền thống của một số dân tộc
tiêu biểu như: Tày, Nùng, Dao, Mông vì đây là những dân tộc chiếm tỷ lệ cao


8

trong tổng số dân cư của vùng, văn hóa sinh thái của họ hiện nay còn lưu giữ
lại được nhiều giá trị truyền thống, họ lại đại diện cho các tộc người sinh sống
ở cả ba vị trí thung lũng, lưng núi và trên núi cao, nên các giá trị văn hóa sinh
thái truyền thống của họ mang tính đặc trưng chung cho giá trị văn hóa sinh
thái truyền thống cả vùng núi Đông Bắc.
Do điều kiện về lịch sử và địa lý của nước ta và tính chất giao thoa
mạnh mẽ của văn hóa, nên những đặc trưng về văn hóa sinh thái ở vùng này
không độc lập, riêng rẽ với văn hóa sinh thái của các vùng khác mà chỉ mang
tính tương đối.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu và trình bày của luận văn dựa trên cơ sở lý luận và
các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam có liên quan đến đề

con người có một thái độ đúng đắn, hợp quy luật trong quá trình khai thác và
sử dụng tự nhiên. Luận văn còn có thể sử dụng vào việc nghiên cứu những
vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở miền núi nước ta trong giai đoạn hiện
nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết.


10

Chương 1
CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA SINH THÁI TRUYỀN THỐNG
Ở VÙNG NÚI ĐÔNG BẮC NƯỚC TA

1.1. GIÁ TRỊ VĂN HÓA SINH THÁI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

1.1.1. Khái niệm văn hóa sinh thái và những đặc trưng của giá trị
văn hóa sinh thái
Văn hóa là một khái niệm rộng, nó được xem xét dưới nhiều góc độ
khác nhau. Hiểu theo nghĩa khái quát:
Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động sống và làm nên
lịch sử, được lưu giữ và truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác,
nhằm duy trì và phát triển cuộc sống của cộng đồng người ở các
mức độ tổ chức xã hội khác nhau, hướng đến cái đúng, cái tốt, cái
đẹp (Chân - Thiện - Mỹ) [44, tr. 14].
Còn sinh thái có nghĩa là nhà ở, nơi cư trú, nơi sinh sống của các sinh
vật từ bé nhất đến lớn nhất. Vì vậy, môi trường sinh thái chính là môi trường
sống hay là cái nhà ở của sinh vật, bao gồm tất cả các điều kiện xung quanh có

dạng này, một mặt nhằm đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của loài người;
mặt khác, nó còn thể hiện sự hiểu biết về tự nhiên, cách ứng xử với tự nhiên
và trình độ chinh phục tự nhiên của con người ở từng thời kỳ nhất định. Chính
mặt thứ hai này đã được thể hiện trong giá trị văn hóa sinh thái.
Những giá trị văn hóa sinh thái không phải là toàn bộ những gì con
người sáng tạo ra trong quá trình tác động và cải biến giới tự nhiên, mà nó chỉ
là những cái góp phần tạo ra cho con người một môi trường sống tốt đẹp hơn,
trong lành hơn và hài hòa hơn với tự nhiên được lưu giữ và được truyền lại
qua các thế hệ cho đến ngày nay. Trong lịch sử đã từng xuất hiện những quan
niệm khác nhau, thậm chí đối lập nhau trong cách ứng xử của con người đối


12

với tự nhiên. Có quan niệm cho rằng, con người là "chúa tể của vạn vật" trong
vũ trụ nên con người hoàn toàn có quyền khai thác tự nhiên một cách không
có giới hạn, con người thống trị tự nhiên như một dân tộc này thống trị một
dân tộc khác mà không cần tuân theo các quy luật của tự nhiên. Quan niệm
này đã từng thống trị trong triết học phương Tây, điều này đã dẫn tới mâu
thuẫn ngày càng gay gắt giữa con người và tự nhiên. Thực tế ở các nước phát
triển về mặt công nghiệp phương Tây đã cho thấy đời sống kinh tế càng phát
triển, của cải vật chất làm ra càng nhiều thì tự nhiên càng bị tàn phá, tài
nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt và môi trường bị ô nhiễm nặng nề. Do đó, xét
trên bình diện những giá trị văn hóa sinh thái thì những gì mà họ đạt được
không chỉ là giá trị mà còn có những phản giá trị. Sở dĩ có hiện tượng như vậy
vì con người không hiểu được rằng: "Không nên quá tự hào về những lần
thắng lợi của chúng ta đối với tự nhiên. Bởi vì, cứ mỗi lần ta đạt được một
thắng lợi là một lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta" [30, tr. 654]. Ngược lại,
có quan niệm lại cho rằng, giữa con người và tự nhiên phải có mối quan hệ
hòa hợp với nhau, con người phải coi mình cũng là một bộ phận của giới tự

tốt, cái đẹp (Chân - Thiện - Mỹ) trong mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của xã hội.
Các công trình nghiên cứu về giá trị của GS. Trần Văn Giàu và GS. Phạm
Minh Hạc đều quan niệm: giá trị là tính có nghĩa tích cực, tốt đẹp, đáng quý,
có ích của các đối tượng đối với các chủ thể. Như vậy, giá trị chỉ là những
thuộc tính chính diện (mặt tích cực trong ý nghĩa) chứ không phải bất kỳ
thuộc tính nào. Giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp. Bất kỳ
sự vật nào cũng có thể được coi là "có giá trị" nếu nó được các thành viên xã
hội thừa nhận và xem xét như một biểu tượng trong đời sống tinh thần của họ
và cần đến nó như một nhu cầu thực thụ.
Từ quan niệm trên, có thể hiểu: giá trị văn hóa sinh thái chính là
những cái tốt, cái đẹp, cái đúng, cái hợp lý mà con người sáng tạo ra và đã
được thử thách trong thực tiễn cải tạo và hòa nhập với tự nhiên của mỗi cộng


14

đồng người. Do đó, bản thân giá trị văn hóa sinh thái vừa mang tính khách
quan, lại vừa mang tính chủ quan. Tính khách quan của giá trị văn hóa sinh
thái được thể hiện rõ nhất ở tính hợp lý của nó được cả cộng đồng người thừa
nhận và tuân theo trong quá trình tác động và biến đổi giới tự nhiên của mình,
ở các giá trị phổ quát về cái đúng, cái tốt, cái đẹp đối với tự nhiên đã được
kinh nghiệm toàn nhân loại chấp nhận. Song, các giá trị văn hóa sinh thái còn
mang tính dân tộc, tính giai cấp và tính thời đại nên trong một phạm vi nhất
định, giá trị văn hóa sinh thái còn mang tính chủ quan. Trong thực tế đã có
những hiện tượng đối với dân tộc, giai cấp và ở một thời đại nhất định được
coi là giá trị văn hóa sinh thái, thì vẫn những hiện tượng đó, nhưng đối với
dân tộc, giai cấp và ở thời đại khác lại bị coi là phản giá trị văn hóa sinh thái,
là cái cổ hủ, lạc hậu, lỗi thời cần xóa bỏ. Trong lịch sử loài người đã xảy ra rất
nhiều hiện tượng như vậy, ví dụ như, tình trạng du canh du cư trong canh tác

sinh thái nói riêng, không thể không nói đến cái cốt lõi nhất của nó đó là tính
sáng tạo. Con người hơn hẳn con vật ở chỗ con người có ý thức, có tư duy.
Hoạt động của con người trong quá trình tác động vào giới tự nhiên là hoạt
động có mục đích, nó khác hẳn với hoạt động mang tính bản năng của loài vật.
Để cải biến giới tự nhiên theo mục đích của mình, loài người nhờ có tư duy đã
không ngừng sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần mang đậm dấu ấn và
tính chủ quan của chính con người. Như vậy, trong thế giới muôn loài của vũ
trụ, chỉ duy nhất loài người là có khả năng sáng tạo trong quan hệ với tự nhiên
nhằm tạo ra sự thích ứng cao nhất với tự nhiên vì lợi ích của chính mình.
Chính sự sáng tạo đó đã tạo ra những giá trị văn hóa sinh thái của con người.
Hai là, nó phải thể hiện tính nhân văn của con người trong cách ứng
xử với tự nhiên: trong quan hệ với tự nhiên, tính nhân văn được thể hiện trước
hết ở tình yêu đối với thiên nhiên, cụ thể là tình yêu đối với quê hương - nơi
"chôn rau cắt rốn" của mỗi con người, đối với cây đa, bến nước đầu làng, đối
với núi rừng, đồng ruộng bao la... Từ tình yêu đó, con người đã sống hòa hợp
với tự nhiên, coi sự sống còn của tự nhiên như chính sự sinh tồn của mình.
Trong quá trình khai thác và cải tạo tự nhiên, con người luôn phải có một


16

điểm dừng, tuyệt đối không được coi tự nhiên là vốn trời ban cho ta một cách
vô tận. Bên cạnh việc khai thác tự nhiên, con người luôn phải có ý thức bảo
vệ và tái tạo lại môi trường tự nhiên vì cuộc sống của chính mình cũng như
của giới tự nhiên. Cũng cần phải nhận thức được rằng, nhân văn và sáng tạo
trong văn hóa sinh thái là hai mặt có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Nếu thiếu
một mặt nào hoặc quá nhấn mạnh một mặt nào trong hai mặt đó đều dẫn tới
xã hội sẽ mất đi sự cân đối cần thiết giữa cái cơ sở vật chất - kỹ thuật và ý
nghĩa cao quý của con người. Đây là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan
trọng trong thời đại ngày nay khi mà cuộc cách mạng khoa học - công nghệ

mải chạy theo "chủ nghĩa thực dụng" đã bỏ qua những giá trị cơ bản của văn
hóa sinh thái. Với quan điểm này đã đặt ra một yêu cầu cho toàn nhân loại
trong việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào quá trình tác động và cải tạo tự
nhiên là phải đảm bảo được sự kết hợp hài hòa cả ba yếu tố chân - thiện - mỹ
để xây dựng được một nền văn hóa sinh thái lành mạnh, phát triển có những
giá trị văn hóa sinh thái đúng đắn và cao quý góp phần thúc đẩy sự phát triển
của cả con người và tự nhiên.
Bốn là, nó phải mang tính bản sắc riêng của dân tộc trong cách ứng
xử của con người đối với tự nhiên: bản sắc dân tộc trong văn hóa sinh thái bao
gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử
hàng ngàn năm tác động và cải biến giới tự nhiên của cộng đồng các dân tộc
đang sinh sống. Đó chính là lòng yêu thiên nhiên; tư tưởng hòa hợp giữa con
người và tự nhiên; sự nghiêm túc, tự giác tuân theo các quy luật của giới tự
nhiên; sự sáng tạo ra một phương thức sống thích ứng với sự tồn tại, phát
triển của tự nhiên,...
Năm là, nó là những giá trị mang tính trường tồn, đã tồn tại từ lâu đời
trong cách ứng xử của con người đối với tự nhiên: nhiều giá trị văn hóa sinh
thái được hình thành từ lâu, trải qua thử thách của thời gian, của cuộc sống xã


18

hội trên nhiều chặng đường lịch sử đã trở thành những giá trị trường tồn. Nó
được truyền lại và kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác, mặc dù cuộc sống
xã hội có những biến động, nhưng những giá trị trường tồn đó vẫn có sức
sống lâu bền với thời gian, nó đã ăn sâu vào tiềm thức một dân tộc, một cộng
đồng và vẫn có tác dụng nhất định mang tính định hướng cho con người trong
quan hệ với tự nhiên. Nhờ có những giá trị mang tính trường tồn mà giá trị
văn hóa sinh thái là một dòng chảy liên tục, không bị đứt quãng bởi vì bên
cạnh những giá trị văn hóa sinh thái mới còn luôn có mặt những giá trị văn

phải đẹp, hài hòa về hình thức. Bên cạnh đó, nó còn thể hiện được sự tôn
trọng đối với các điều kiện sống của con người, góp phần nâng cao chất lượng
sống của con người về mọi mặt.
- Trang phục:
Có thể nói trang phục là một trong những hình thức biểu hiện rõ nhất
của văn hóa sinh thái. Thông qua các trang phục của con người, cái chân, cái
mỹ bộc lộ rõ nét. Từ quần áo đến những đồ dùng kèm theo như khăn cuốn,
thắt lưng,... một mặt, nó đã thể hiện được sự hiểu biết về môi trường và khả
năng vận dụng những điều kiện cụ thể của môi trường vào công việc thiết kế
trang phục của con người sao cho vừa phù hợp với hoàn cảnh vừa tạo điều
kiện tốt nhất, thoải mái, dễ chịu nhất trong sinh hoạt hàng ngày cũng như
trong các hoạt động khác nhau của họ; mặt khác, nó còn thể hiện rõ năng
khiếu thẩm mỹ, sự sáng tạo và sự khéo léo của con người trong quá trình
vươn tới cái đẹp, cái hài hòa giữa con người và tự nhiên. Trang phục không
chỉ thể hiện được cái đẹp về hình thức bên ngoài, mà nó còn thể hiện được cái
đẹp trong tâm hồn của mỗi con người. Thông qua kiểu cách, hình dáng, chất
liệu màu sắc... của trang phục nó phản ánh khả năng thích ứng của con người
đối với tự nhiên và phản ánh tình yêu thiên nhiên, cảm xúc trước vẻ đẹp thiên
nhiên để từ đó tạo ra được sự cân đối, hài hòa giữa trang phục và tự nhiên.
- Dược liệu chữa bệnh:


20

Việt Nam là một quốc gia đa dạng sinh học, có thảm động, thực vật rất
phong phú. Đây chính là nguồn dược liệu rất phong phú, đa dạng. Với trí óc
thông minh, tinh thần ham học hỏi và do yêu cầu của sự sinh tồn, con người
Việt Nam từ xa xưa đã biết sử dụng nguồn dược liệu này vào công việc chữa
bệnh cũng như trong một số lĩnh vực hoạt động khác của mình. Thông qua
một quá trình nghiên cứu và thử nghiệm trong thực tiễn, con người đã dần dần

tồn tại và phát triển thì trước hết phải thỏa mãn những nhu cầu về ăn, ở,
mặc,... nhưng do dân số tăng nhanh và do sự bừa bãi trong việc ứng dụng
những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại đã dẫn tới tình trạng thiếu
hụt và ô nhiễm lương thực, thực phẩm ở phạm vi toàn cầu. Từ đó đặt ra một
vấn đề cấp bách là con người phải tìm mọi cách khắc phục, nói cách khác là
phải phát huy tính thiện của mình trong ẩm thực.
- Các đồ dùng trong sinh hoạt và sản xuất:
Để thỏa mãn các nhu cầu của con người trong sinh hoạt và sản xuất,
nhất thiết phải có những vật dụng nhất định với tư cách là công cụ lao động.
Công cụ lao động cũng là một nhân tố không thể thiếu trong hoạt động cải tạo
tự nhiên của con người, và trình độ của công cụ lao động sẽ góp phần quyết
định hiệu quả của hoạt động đó. Theo lý thuyết, chính sự phát triển của khoa
học - công nghệ sẽ quyết định trình độ của công cụ lao động, nhưng trong
thực tế, có khi lại không phải như vậy. Trình độ và đặc biệt là cấu trúc, hình
dáng của các công cụ lao động lại còn phụ thuộc vào hoàn cảnh tự nhiên cụ
thể. Con người ngoài sự vận dụng thành tựu của khoa học công nghệ, còn
phải chú ý tới điều kiện tự nhiên của nơi mình sinh sống để từ đó tạo ra được
những công cụ lao động phù hợp, có như vậy mới đạt được hiệu quả cao nhất
trong thực tiễn. Ngoài tính thực dụng, con người với tư duy sáng tạo của
mình, còn chú ý đến tính thẩm mỹ trong việc chế tạo ra các đồ dùng trong
sinh hoạt và sản xuất. Các vật dụng này không những phải có ích lợi lớn mà
còn phải có cả tính hài hòa cao, và đặc biệt nó không được gây ra ô nhiễm
môi trường cũng như phá hoại cảnh quan xung quanh.
• Trong văn hóa sinh thái phi vật thể


22

- Đạo đức sinh thái
Đạo đức sinh thái là quan niệm và cách thức ứng xử của con người và

sinh thái, hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ trong các mối quan hệ giữa
con người và tự nhiên.
Lối sống văn hóa sinh thái có thể hiểu đó là tình yêu đối với thiên
nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên, nương nhờ và tận dụng thiên nhiên, luôn
tôn tạo và bảo vệ vẻ đẹp và sự trong sạch của thiên nhiên, được thể hiện từ
trong lối tư duy sinh thái đến những hành vi ứng xử cụ thể của con người đối
với thiên nhiên.
Để có lối sống sinh thái lành mạnh, con người trước hết trong suy
nghĩ, tư tưởng của mình phải có quan điểm đúng về mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên, đó là quan điểm "Thiên - Nhân hợp nhất", con người phải
có ý thức sống hòa mình với tự nhiên, không chấp nhận tư tưởng coi con
người là trung tâm của vũ trụ, có quyền uy tối cao đối với tự nhiên và được
phép khai thác tự nhiên một cách bừa bãi.
Trên cơ sở có quan điểm đúng đối với tự nhiên, con người sẽ có
những hành vi ứng xử đúng đắn đối với tự nhiên. Trong hoạt động thực tiễn
của mình, con người lúc nào cũng phải tôn trọng vẻ đẹp của tự nhiên cũng
như những quy luật vốn có của nó. Mọi hành vi của con người ngoài việc tính
đến hiệu quả kinh tế - xã hội còn phải chú ý tới hiệu quả về mặt sinh thái, việc
phát triển kinh tế - xã hội phải đi liền với việc nâng cao chất lượng môi
trường sống. Vì vậy, con người có lối sống sinh thái không chỉ dừng lại ở việc
mọi hành vi phải nhằm bảo vệ môi trường tự nhiên mà còn thể hiện ở khả
năng tái tạo, mở rộng và nâng cao chất lượng cũng như vẻ đẹp của nó.
Cùng với lối sống, nếp nghĩ, các phong tục tập quán cũng là một biểu
hiện của văn hóa sinh thái. Mặc dù chỉ là một sự cưỡng chế mặc nhiên không
thành văn nhưng sức mạnh của phong tục, tập quán rất lớn vì nó gắn liền với


24

lối sống của cộng đồng và ăn sâu vào tiềm thức của mọi người. Cái được coi

nhiên. Với các hình thức biểu hiện sinh động, nghệ thuật đã đem lại cho con
người những hiểu biết về các quy luật của tự nhiên và khuyên người ta nếu
muốn tồn tại và phát triển thì nhất định phải tuân theo những quy luật đó, phải
hòa đồng chứ không được đối lập với tự nhiên. Nó dạy con người phải biết
tận dụng những giá trị sử dụng của tự nhiên một cách hợp lý nhằm đem lại
hiệu quả cao nhất. Thông qua nghệ thuật, triết lý cái thiện nhất định sẽ chiến
thắng cái ác đã được khẳng định rất rõ. Với chức năng giáo dục của mình, nó
luôn hướng con người tới cái thiện, góp phần tạo ra sự lành mạnh trong tâm
hồn mọi người. Đặc biệt, nghệ thuật còn là một loại hình biểu hiện rõ nét nhất
về tính thẩm mỹ của con người. Nghệ thuật chính là mảnh đất để con người
có điều kiện thể hiện và nuôi trồng những ước mơ cao đẹp, tâm hồn nhạy cảm
và khả năng sáng tạo của mình trước tự nhiên.
- Các tín ngưỡng và lễ hội dân gian
Dưới ảnh hưởng của tín ngưỡng đa thần, con người có quan niệm rằng
mọi vật trong tự nhiên từ nguồn nước, cây cỏ, rừng núi đến đất đai,... đều có
linh hồn, được các vị thần cai quản. Vì vậy, con người phải sống hòa hợp với
tự nhiên, có quan hệ chặt chẽ với tự nhiên, không được làm hại tới tự nhiên.
Mặc dù tín ngưỡng dân gian có những tiêu cực, nhưng bên cạnh đó, nó cũng
có yếu tố tích cực trong việc hình thành các giá trị văn hóa sinh thái, bởi vì,
nó chính là cơ sở để tạo ra tình yêu của con người đối với tự nhiên, nó góp
phần ngăn chặn những hiện tượng khai thác tự nhiên bừa bãi, bóc lột tự nhiên
một cách tàn nhẫn của con người.
Tín ngưỡng luôn đi liền với lễ hội dân gian. Trong cuộc sống thường
ngày của con người đã tồn tại rất nhiều lễ hội khác nhau với nội dung phản



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status