Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ LAN ANH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
AN TOÀN GIAO THÔNG TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VÃN THẠC sĩ KHOA HQC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - NĂM 2016
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
AN TOÀN GIAO THÔNG TAI CÁC TRƯỜNG TIỂU HOC
• •
QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VÃN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60 14 01.14
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS.BÙI MINH HIỀN
HÀ NỘI-NĂM 2016
LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thiện luận văn này, tác giả đã nhận được sự
động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình từ thầy cô, đồng nghiệp và bạn
Nguyễn Thị Lan Anh
1.
ATGT
An toàn giao thông
CB
Cán bộ
3.
CBQL
Cán bộ quản lý
4.
CSYC
Cơ sở vật chất
5.
GD
Giáo dục
HT
Hiệu trưởng
14.
HĐGDATGT
Hoạt động giáo dục an toàn giao thông
15.
PHT
Phó hiệu trưởng
16.
TNGT
Tai nạn giao thông
2.
6.
7.
8.
9.
10.
TNGT gây nên những tác động tâm lý cả trước mắt cũng như về lâu dài đối với mọi người, nó
để lại nhũng di chứng về tâm lý hết sức nặng nề cho người bị tai nạn, người thân của họ và
nếu như trong một địa phương, một quốc gia xảy ra TNGT quá nhiều sẽ gây nên hiện tượng
bất an cho cư dân ở đó.
Tại nước ta, theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2012 có 36.376 vụ tai nạn giao
thông, năm 2013 có 29.385 vụ tai nạn, năm 2014 có 25.322 vụ tai nạn và gần 9000 người
chết. Năm 2015, tính đến hết tháng 8, ừên địa bàn cả nước đã xảy ra 14.622 vụ tai nạn giao
thông, bao gồm 6702 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 7920 vụ va chạm giao
thông, làm 5821 người chết, 3823 người bị thương và 9411 người bị thương nhẹ. Riêng về trẻ
em lứa tuổi tiểu học, theo thống kê của Bộ Y Tế, mỗi năm có khoảng 1900 em tử vong vì tai
nạn giao thông, chiếm 24-26% tổng số trẻ em tử vong do tai nạn thương tích. Trong đó, tai
nạn tại nội thành các thành phố chiếm 68% trên cả nước. Theo ông Jeffery Kobza, Quyền
Trưởng Đại Diện của WHO tại Việt Nam cho biết: “Thương tích và tử vong do tai nạn giao
thông đường bộ là một vấn đềy tế ngày càng đáng quan tâm. Tai nạn giao thông đường bộ là
8
nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trẻ em từ 10 đến 19 tuổi ở Việt Nam, lẩy đi khoảng 2,000
mạng sống mỗi năm ”
Trước tình hình thực tế tai nạn giao thông ngày càng gia tăng, Chính phủ đã ban hành
nghị quyết số 32/2007/NQ-CP về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao
thông và ùn tắc giao thông đề ra nhiều việc làm thiết thực nhằm hạn chế tối đa hoặc có thể
giảm đi những đau thương và mất mát thiệt hại về người cũng như tài sản làm ảnh hưởng đến
sự phát triển chung của đất nước. Tuy nhiên, việc thực hiện ATGT hiện nay vẫn còn gặp
nhiều khó khăn và thách thức như: tiến độ xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng giao thông
còn rất chậm so với tốc độ gia tăng số lượng phương tiện giao thông cá nhân; việc quản lý
phương tiện giao thông cá nhân chưa thật hiệu quả; Sự kiểm soát về gia tăng phương tiện giao
thông cá nhân vẫn còn nhiều gian nan vì nhu cầu sử dụng ngày càng cao trong khi hạ tầng
giao thông chưa đồng bộ; đặc biệt, việc thực hiện các quy định, quy chế giao thông của người
dân vẫn chưa thật sự tự giác, nghiêm túc, việc tuyên truyền, giáo dục ý thức giao thông rất
Thực tế trong những năm gần đây, Hà Nội và quận Hai Bà Trưng đã có nhiều biện
pháp nhằm hạn chế tình trạng tai nạn giao thông như: đẩy mạnh công tác tuyên huyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật về trật tự, an toàn giao thông; quản lý lòng đường, vỉa hè, bán hàng
rong, bảo đảm mỹ quan đô thị, mở rộng đường, hạn chế xe mô tô, tăng cường tuyên truyền và
bắt buộc mọi người thực hiện đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông, tổ chức đi làm lệch
ca, tăng cường di chuyển bằng phương tiện xe buýt, cầu vượt; tuyên huyền thực hiện “văn hóa
giao thông”, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh cho các tàng lớp nhân dân... Tuy
nhiên, tai nạn giao thông vẫn là một vấn đề gây nhức nhối cho toàn xã hội. Tình hạng phóng
nhanh, vượt ẩu vẫn tăng, lạng lách vẫn nhiều, các điểm ùn tắc giao thông vẫn chưa giảm, thực
hiện đội mũ bảo hiểm cũng chỉ nhằm đối phó với cảnh sát giao thông... Bên cạnh đó, các hoạt
động bảo đảm ATGT thường chỉ tập trung vào các đợt cao điểm; nội dung tuyên truyền phổ
biến giáo dục pháp luật về ATGT chưa sát với thực tế, hình thức còn thiếu sáng tạo...
ATGT cũng đã được đưa vào hoạt động giáo dục, song song và trở thành môn học của
chung ở các trường Tiểu học quận Hai Bà Trưng. Nhà trường cũng theo chỉ thị các cấp và
thực hiện việc tuyên truyền GDATGT trong nội bộ cũng như tới các lực lượng giáo dục khác.
Các hoạt động ngoại khóa cũng được quan tâm kết hợp với giáo dục ATGT để góp phần giáo
dục ý thức cho các em học sinh. Tuy nhiên, việc GDATGT và quản lý hoạt động GD ATGT
trong nhà trường còn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức, các hoạt động triển khai c cn
1
0
mang tính hh nh thức, chưa thể hiện tính liên tục, dài hơi và quyết liệt; việc phối kết họp với các
lực lượng giáo dục còn thiếu đồng bộ,... Chính vì vậy, hiệu quả đạt được trong công tác GD
ATGT trong các nhả trường chưa cao.
Từ những vấn đề thực tiễn trên cho thấy, Giáo dục an toàn giao thông và quản lý hoạt
động GD ATGT trong nhà trường tiểu học là một công việc hết sức quan trọng, hết sức thiết
thực và lâu dài, nhằm giáo dục thế hệ trẻ trở thành những người có ý thức chấp hành nghiêm
túc Luật giao thông ngay từ lúc tuổi ấu thơ. Bản thân là một giáo viên và là cán bộ quản lý
nhà trường tiểu học, tác giả nhận thấy cần phải chuyên tâm tích cực nghiên cứu để tìm ra
học quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
4.3. Phạm vi nghiên cứu:
- Khách thể điều tra: Cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, CMHS tại các trường Tiểu
học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
- Giới hạn: Giáo dục an toàn giao thông đường bộ
- Địa bàn nghiên cứu: 5 trường Tiểu học thuộc Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu thực trạng: năm 2016
- Chủ thể biện pháp quản lý: Hiệu trưởng trường Tiểu học.
5. Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường Tiểu học
quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội hiện nay chưa thực sự đồng bộ và hiệu quả. Nghiên cứu
mức độ và nguyên nhân của thực trạng này sẽ đưa ra được những biện pháp quản lý hữu hiệu
góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục an toàn giao thông cho học sinh trong các trường Tiểu
học, từ đó bước đầu giáo dục cho học sinh có ý thức tự giác thực hiện tốt Luật giao thông
đường bộ và ứng xử văn hóa khi tham gia giao thông.
6. Phương pháp nghiền cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài, các văn bản quản lý giáo
dục có liên quan đến trường Tiểu học, các văn bản hướng dẫn giáo dục ATGT, Nghị định của
Chính phủ, Luật giao thông đường bộ,...
- Tìm hiểu các tài liệu giáo dục an toàn giao thông và các giải pháp giáo dục an toàn
giao thông của các nước phát triển có hình thái giao thông gần giống nước ta.
- Nghiên cứu tài liệu bao gồm nghiên cứu lý thuyết liên quan đến vấn đề quản lý
giáo dục an toàn giao thông, cụ thể như: Khái niệm, vai trò, các thành phần và các bước giáo
dục an toàn giao thông; Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề giáo dục giao thông.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Chương 3 : Biện pháp quản lý giáo dục an toàn giao thông tại các trường Tiểu
học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
NỘI DUNG
Chương 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC AN TOÀN GIAO THÔNG TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1.
Ở nước ngoài
Giáo dục có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách học sinh. Các hoạt
động giáo dục diễn ra trong nhà trường có ý nghĩa và vai trò lớn lao trong việc định hình tư tưởng,
xây dựng lý tưởng, đạo đức, văn hóa, lối sống, pháp luật cơ bản cho trẻ. Chính vì vậy, việc giáo dục
an toàn giao thông ngay từ khi trẻ còn ngồi trên ghế nhà trường là việc làm vô cùng cần thiết, mang
lại hiệu quả cao.
Tại Hội nghị cấp cao toàn cầu về ATGT đường bộ lần thứ 2, 130 quốc gia thành viên Liên
Hiệp Quốc vừa thông qua Tuyên bố Brazil về An toàn giao thông (ATGT) đường bộ trên thế giới.
Tuyên bố Brazil đặc biệt nhấn mạnh đến việc giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân khi tham
gia GT như việc tuân thủ quy định pháp luật của nước sở tại, giáo dục ý thức bảo vệ cá nhân khi
tham gia giao thông.
Nhật Bản: Đe có ngày hôm nay thì Nhật Bản cũng đã từng có tình trạng giao thông rất lộn
xộn. Và một trong những giải pháp được Nhật Bản rất chú trọng đó là công tác giáo dục an toàn giao
thông. Chính quyền Nhật Bản xác định đây là nhiệm vụ của toàn xã hội, đòi hỏi người dân phải
em trong vị trí là những người đi xe đạp. Giáo dục giao thông đường bộ tại Đức là phần chính thức
trong giáo dục trường học, bao gồm trong chương trình giảng dạy của năm thứ ba và năm thứ tư.
Công ty Shell cung cấp xe đạp, mũ bảo hiểm, các biển báo giao thông cho trẻ em tại những trường
giao thông, phối hợp cùng với cảnh sát và các nhà chức trách giáo dục, cùng thúc đẩy chương trình
giáo dục giao thông.
1.1.2.
Ở Việt Nam
Việt Nam là một nước đang phát triển. Xét ừên phương diện ATGT cả nước trong 10 năm
trở lại đây, tai nạn giao thông nói chung và đường bộ nói riêng có tỉ lệ hàng năm giảm dần, nhưng
con số giảm còn rất nhỏ so với số người chết và bị thương. Vừa qua, theo ban ATGT quốc gia, Hội
nghị tổng kết 5 năm công tác bảo đảm TTATGT giai đoạn 2011-2015 và định hướng giai đoạn
2016-2020 tại Hà Nội ngày 8/12/2015 cho thấy, công tác đảm bảo trật tự ATGT đã trở thành phong
trào thi đua của các địa phương, giữa các địa phương, như một hiệu ứng dây chuyền của cả xã hội để
kéo giảm TNGT. Kết luận hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch ủy ban
An toàn giao thông Quốc gia đánh giá, năm 2015 dù giảm cả 3 tiêu chí về tai nạn giao thông nhưng
còn nhiều bất cập, phức tạp, nhiều vụ tai nạn giao thông chết người, số người chết vẫn còn lớn.
“Một đất nước mà để chết tới 9.000 người/nãm vì tai nạn giao thông là vẫn còn rất cao. Chúng ta
phải giảm hơn nữa sổ người chết vì tai nạn giao thông, tiếp tục kéo giảm ùn tắc tại các thành phổ
lớn Thành phố Hồ Chỉ Minh và Hà Nội. Bên cạnh giáo dục chỉnh trị tư tưởng trong từng đoàn thể,
gia đình, người dân thì tăng cường xử phạt, xử lý nghiêm vi phạm rất quan trọng răn đe". Ngoài ra,
Phó Thủ tướng cũng đề nghị các địa phương đều phải tổ chức đánh giá tìm biện pháp căn cơ để toàn
quốc kéo giảm số người chết tai nạn giao thông xuống 5.000 người trong giai đoạn 2016-2020.
Như vậy, vấn đề ATGT hiện nay theo mục tiêu đặt ra là vô cùng cấp thiết. Các chiến lược
giáo dục ATGT cần triển khai hàng loạt để giáo dục ý thức đến người tham gia giao thông, đặc biệt
là trong công tác giáo dục ý thức cho thế hệ trẻ trong các nhà trường.
Nội.
- Công văn số 5820/BGDĐT - CTHSSV ngày 23 tháng 8 năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào
tạo chỉ đạo các Sở Giáo dục và Đào tạo Tăng cường triển khai
công tác giáo dục an toàn giao thông đầu năm học 2013 - 2014.
- Kế hoạch số 19 KH/BGDĐT, ngày 15 tháng 1 năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo gửi các
Sở Giáo dục và Đào tạo Ke hoạch thực hiện công tác giáo dục an toàn giao thông trong trường học
năm 2014.
- Công vãn số 4339/ BGDĐT-CTHSSY ngày 15 tháng 8 năm 2014 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo về việc tăng cường công tác giáo dục ATGT đầu năm học 2014-2015.
- Kế hoạch số 704/KH-BGDDT ngày 12 tháng 8 năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
ban hành về việc triển khai công tác giáo dục pháp luật về an toàn giao thông năm học 2015-2016
trong toàn ngành giáo dục.
- Công văn số: 3124/UBND-XDGT về việc rà soát, chấn chỉnh công tác quản lý, giám sát
đảm bảo trật tự ATGT, an toàn lao động, phòng chống cháy nổ và YSMT khi thi công Dự án tuyến
đường sắt đô thị.
- Công văn số 10219/SGD&DT-HSSV về việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức- lối
sống thông qua việc thực hiện pháp luật đảm bảo việc trật tự ATGT cho học sinh.
- Công văn số 9417/SGD&DT-HSSV về việc tổ chức chuyên đề giáo dục ATGT cho HSSV
năm học 2015-2016
- Công văn số 5060/SGD&ĐT-HSSV về việc hưởng ứng Tuần lễ an toàn giao thông đường
bộ lần thứ 3 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 2015
- Công văn số 5356/SGD&ĐT-GDTH Bộ học liệu giáo dục pháp luật trong trường Tiểu
học.
- Văn bản hướng dẫn đầu các năm học và trong các đợt cao điểm về bảo đảm an toàn giao
thông như thi tuyển sinh, Tết Nguyên đán, ...; Chỉ đạo tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn thực
hiện các tiêu chí Văn hóa giao thông đối với từng cấp học; chỉ đạo đưa công tác giáo dục ATGT
lồng lồng ghép trong triển khai thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực”.
Theo sự phân tích của K.Mác thì "Bất cứ nơi nào cỏ lao động, nơi đó có quản lý" . Trong
tác phẩm: "Những vẩn đề cốt yểu của quản ỉý" tác giả Harold Kontz viết "Quản lý là một hoạt động
thiết yểu, nó đảm bảo phổi hợp những nỗ lực cá nhãn nhằm đạt được các mục đích của nhóm về
thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ử nhất" [22].
Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành
một cách hiệu quả mục tiêu đã định". Paul Hersey và Ken Blanc Hard: “Quản lý là quá trì nh cùng
làm việc và thông qua các cá nhân, các nhỏm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục
đích tổ chức”.
Khái quát hơn các tác giả ở khoa Sư phạm - ĐHQGHN là Nguyễn Quốc Chí,
Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra quan niệm: "Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến
đối tượng quản lỷ nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức".
Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy
động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phổi các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực)
trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của to chức với hiệu
quả cao nhất".
Tóm lại, các định nghĩa trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ, tiếp cận nhưng đều
gặp nhau ở những nội dung cơ bản của khái niệm quản lý: Quản lý là hành động đưa các cá nhân
trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung. Đó là quá trình tác động
có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức
năng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục
tiêu đặt ra. Theo những quan điểm phổ biến hiện nay, quản lí là một quá trình với các chức năng sau.
- Kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức và các
con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Đây là chức năng đầu tiên của
hoạt động quản lí.
Sơ đồ 1.1. Quá trình quản lý
- Tổ chức: Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ
bảo đảm việc hình thành nhãn cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật
chưng của xã hội cũng như những qui luật của quá trình giáo dục, của sựphát triển thể lực và tâm lỷ
trẻ em” [23].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có
mục đích, có kế hoạch, hợp quỵ luật của chủ thể quản lỷ (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành
theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tinh chất của nhà trường xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quả trình dạy học - giáo dục thể hệ trẻ, đưa hệ giáo dục
tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mói về chất”.
Theo tác giả Trần Kiểm, khái niệm quản lý giáo dục đối với cấp vĩ mô là: "QLGD được hiểu
là hệ thống những tác động tự giác, có ỷ thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật
của chủ quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, CMHS và các lực lượng XH
trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường"
[19].
Từ đây ta có thể khái quát QLGD là sự tác động chủ đích, có căn cứ khoa học, họp quy luật
và phù họp các điều kiện khách quan... của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm phát huy sức
mạnh các nguồn giáo dục, từ đó đảm bảo các hoạt động của tổ chức hệ thống giáo dục đạt được các
mục tiêu giáo dục đã đề ra với chất lượng, hiệu quả cao nhất.
Đổi với cấp vỉ mô, trong phạm vi nhà trưởng, hoạt động quản lý bao gồm nhiều loại, như
quản lý các hoạt động giáo dục: hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp), hoạt động
xã hội, hoạt động văn thể, hoạt động ngoại khóa,...; quản lý các đối tượng khác nhau: quản lý giáo
viên, học sinh, quản lý tài chính, quản lý cơ sở vật chất,...; quản lý (thực ra là tác động đến) nhiều
khách thể khác nhau: quản lý thực hiện xã hội hóa giáo dục, điều tiết và điều chỉnh ảnh hưởng từ bên
ngoài nhà trường, tham mưu với Hội Cha mẹ học sinh,...
Như vậy, ở góc độ vi mô, có thể hiểu quản lỷ giáo dục là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống tổ chức giáo dục của nhà trường nhằm điều
khiển các thành tổ trong hệ thống phổi hợp hoạt động
theo đúng chức năng, đúng kế hoạch, đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt được mục đích,
mục tiêu đã xác định với hiệu quả cao nhất.
đời mô hình quản lí dựa vào trường học (School-based management).
Khi nói quản lí dựa vào trường học chính là bàn đến quản lí của các cấp trên trường,
chứ không phải bàn về chuyện quản lí nội bộ hay tự quản ở trường. Nhưng trường học còn
được quản lí bởi bộ máy bên trong trường do hiệu trưởng đứng đầu. Đó là quản lí trường học
tại cấp trường, hay quản lí bên trong trường. Thông thường quản lí trường học chỉ được hiểu
theo nghĩa này, mà khía cạnh thứ nhất hay bị lãng quên. Trên thực tế, quản lí trường học tại
cấp trường vừa có tính chủ động, độc lập tương đối tùy theo cơ chế phân cấp cụ thể, song
chính nó vẫn chịu sự chi phối và tác động quản lí của các cấp trên trường. Cả bộ máy quản lí
cấp trường hoàn toàn do các cấp trên trường bổ nhiệm hoặc bãi miễn.
Trên bình diện vi mô, quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường có thể xem là đồng
nghĩa với quản lý nhà trường. Quản lí giáo dục thực chất chỉ có giá trị khi đến được trường
học, cho dù nói về cấp quản lí nào. Quá trình giáo dục chỉ diễn ra ở trường, các hoạt động
giáo dục theo chương trình giáo dục chỉ diễn ra ở trường, chứ không phải ở bộ, tỉnh, huyện...
Quản lí giáo dục là quản lí hệ thống các trường học nằm ừong phạm vi quyền hạn của cấp
quản lí nhất định. Đồng thời quản lí trường học chính là quản lí giáo dục diễn ra tại cấp cơ
sở. Cho nên nội dung quản lí giáo dục nói chung và nội dung quản lí trường học đều như
nhau, chỉ khác nhau về qui mô mà thôi, bao gồm:
1. Quản lí tài chính giáo dục.
2. Quản lí cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật (tài sản vật chất).
3. Quản lí nhân sự (cán bộ, công chức, nhân viên, giáo viên, học sinh - tài nguyên con
người).
4. Quản lí chuyên môn (chương trình, hoạt động giảng dạy, hoạt động học tập, phát triển
nguồn nhân lực giảng dạy và quản lí, các hoạt động nghiên cứu và phát triển khác).
5. Quản lí môi trường (tự nhiên và văn hóa).
6. Quản lí các quan hệ giáo dục của ngành giáo dục với các thiết chế xã hội khác (Đoàn,
Đội, Công đoàn, các hội nghề nghiệp, các hội chính trị-xã hội, gia đình học sinh, cộng
đồng dân cư)
Trong mỗi nội dung quản lí này đều luôn có 2 mặt gắn liền với nhau là quản lí hành
Quản lý nhà trường ở Việt Nam là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm
vi trách nhiệm, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo
dục, mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ .
Như vậy quản lý nhả trường là việc người hiệu trưởng xây dựng mục tiêu, kế hoạch,
tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá các kết quả đạt được so với yêu cầu và chuẩn
mực đề ra trong chưorng trình giáo dục và nhiệm vụ năm học về chất lượng, phát triển toàn
diện nhân cách học sinh.
Vì vậy có thể định nghĩa khái niệm quản lí trường học như sau: quản lí trường học là
quản lí giảo dục tại cấp cơ sở trong đỏ chủ thế quản lí là các cấp chinh quyền và chuyên
môn trên trường, các nhà quản lí trong rường do hiệu trưởng đứng đầu, đối tượng quản lí
chính là nhà trường như một tổ chức chuyên môn-nghiệp vụ, nguồn lực quản lí là con người,
cơ sở vật chẩt-lã thuật, tài chính, đầu tư khoa học-công nghệ và thông tin bên trong trường
và được huy động từ bên ngoài trường dựa vào luật, chinh sách, cơ chế và chuẩn hiện có.
1.2.4.
An toàn giao thông
Theo từ điển Tiếng Việt: “An toàn là đảm bảo tốt, không gây thiệt hại dù lớn hay nhỏ
về vật chất và tỉnh mạng của con người” [36]. An toàn giao thông là khái niệm luôn gắn liền
với hoạt động của con người trong lĩnh vực giao thông. Theo tác giả Đỗ Đình Hoà (Học viện
cảnh sát nhân dân) thì: “An toàn giao thông là sự việc đảm bảo không có những việc xảy ra
ngoài ỷ muốn chủ quan của con người. Khi các đối tượng tham gia giao thông, đang hoạt
động trên địa bàn giao thông công cộng tuân thủ các quy tắc an toàn giao thông, không có