SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 12 ÔN TẬP NHỮNG TÁC PHẨM
TỰ SỰ"
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đối với học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 12 thi cử luôn là một áp lực gây căng
thẳng tâm lí. Thời gian ôn tập không nhiều, kiến thức của các môn thi thì quá lớn. Vậy
làm thế nào để cho việc ôn tập 6 môn thi tốt nghiệp và thi Đại học đạt kết quả tốt ? Thiết
nghĩ đây là một bài toán không đơn giản cho học sinh và cũng là cho mỗi người thầy
trong quá trình hướng dẫn học sinh yêu quý của mình ôn thi đạt hiệu quả.
Trong thực tế các môn thi tốt nghiệp THPT, môn Ngữ văn bao giờ cũng là một trong
những môn cố định có tính bắt buộc đối với các kì thi. Môn học này chiếm một
lượng kiến thức tương đối lớn đòi hỏi học sinh cần phải có kế hoạch ôn tập chu đáo
thì mới có thể đạt được điểm cao. Để làm được điều này bên cạnh việc nắm vững các
kĩ năng làm bài đòi hỏi mỗi học sinh cần phải có phương pháp ôn tập hữu hiệu thì
mới có thể đạt được kết qủa tốt. Tuy nhiên, vấn đề học môn Văn hiện nay không
phải học sinh nào cũng làm được điều đó.
Để tránh gây áp lực căng thẳng vể tâm lí và tạo được hứng thú cho học sinh trong quá
trình ôn thi, vấn đề đặt ra cho mỗi người thầy là cần phải có một phương pháp thiết thực
để hướng dẫn các em ôn tập đạt được hiệu quả cao nhất.
Trong quá trình ôn tập môn Ngữ văn và hướng dẫn cho các em thi cử thiết nghĩ sẽ có
rất nhiều phương pháp được áp dụng và tất nhiên mỗi phương pháp đều có những ưu
điểm nhược điểm nhất định. Song tôi thấy hiệu quả vẫn là phương pháp hướng dẫn ôn tập
cho học sinh theo cấu trúc đề thi. Trong những năm gần đây cấu trúc đề thi gồm có hai
phần: phần dành chung cho tất cả các thí sinh và phần danh riêng cho từng ban để cho
của chủ thể trong quan hệ đối với khách thể. Nhưng không phải cá nhân nào cũng đều là
chủ thể của nhận thức. Con người trở thành chủ thể nhận thức khi tham gia vào hoạt động
xã hội nhằm biến đổi nhận thức khách thể. Trong nhà trường học sinh chính là chủ thể
của hoạt động nhận thức; còn khách thể chính là những tri thức kinh nghiệm. Theo cơ sở
triết học: con người tự làm ra mình bằng chính hoạt động của mình nhưng cái quan trong
là làm ra cái đó như thế nào vào bằng cách nào? Từ cơ sở ấy chúng ta có thể nói một cách
đơn giản các em học sinh lớp 12 không chỉ phải chỉ đơn giản là ôn cái gì mà điều quan
trọng là ôn như thế nào?
2. Cơ sơ thực tiễn
3
Tác phẩm tự sự thường chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong các bài học của học sinh lớp
12 ôn thi tốt nghiệp THPT. Cách làm bài nghị luận về một tác phẩm tự sự không đơn
giản so với các câu hỏi khác trong cấu trúc một đề thi. Thực tế cho thấy khi nghị luận về
một tác phẩm tự sự, phần nhiều học sinh khó đạt điểm cao so với các dạng câu hỏi nghị
luận khác. Chính vì vậy việc học các tác phẩm tự sự đối với các em rất ngại, thường hay
đối phó hoặc phụ thuộc vào tài liệu, văn mẫu khi làm bài mà không có sự độc lập, tư duy
sáng tạo.
Qua kết quả thức tế mà tôi thống kê, hầu hết các em học sinh lớp 12 chưa thực sự có
kinh nghiệm và kĩ năng về cách làm bài nghị luận về một tác phẩm tự sự do đó kết quả
thi môn Ngữ văn thường thấp. Vấn đề đặt ra cần phải có một cách hướng dẫn cụ thể
mang tính khoa học để giúp các em tháo gỡ những khó khăn trong quá trình làm bài.
Chương II
Nội dung hướng dẫn ôn tập những tác phẩm tự sự.
Tự sự là phương thức tái hiện đời sống qua các sự kiện, biến cố và hành vi con người
trong toàn bộ tính khách quan của nó. Ở đây, tư tưởng và tình cảm của nhà văn thâm
nhập sâu sắc vào sự kiện và hành động của con người, nhà văn kể lại, tả lại những gì xảy
ra bên ngoài mình, khiến cho người đọc có cảm giác rằng hiện thực được phản ánh trong
thành phần ấy cũng biến hóa sinh động như cuộc sống muôn màu và tùy theo ý đồ nghệ
thuật của nhà văn.
- Từ khái niệm xác định như trên, muốn tóm tắt được cốt truyện một tác phẩm tự sự,
người giáo viên cần hướng dẫn các em phải đọc kĩ tác phẩm sau đó trả lời được những
câu hỏi sau:
+ Hoàn cảnh xã hội, thời kì lịch sử mà tác phẩm phản ánh, tái hiện?
+ Chủ đề của tác phẩm?
+ Nhân vật chính của tác phẩm và các bước phát triển của tính cách, của số phận nhân vật
ấy? Các chi tiết, sự kiện quan trọng trong tác phẩm tác động tới cuộc đời nhân vật?
Trên cơ sở đọc kĩ tác phẩm, nắm vững kiến thức cơ bản theo yêu cầu trên mới có thể
đi đến xây dựng văn bản tóm tắt.
Ví dụ : Tóm tắt truyện Rừng Xànu (Nguyễn Trung Thành)
Mở đầu truyện là cảnh rừng xà nu bạt ngàn trong “tầm đại bác ”của giặc, đang ưỡn tấm
ngực lớn ra che chở cho làng Xô Man. Sau 3 năm đi lực lượng, Tnú được cấp trên cho
phép về thăm làng một đêm. Bé Heng nay đã trở thành một giao liên chững chạc, nhanh
nhẹn. Dít nay đã trở thành bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội vững vàng. Đêm hôm
đó, cụ Mết đã kể cho cả dân làng nghe về cuộc đời Tnú. Hồi đó Mĩ Diệm khủng bố gắt
gao, Tnú cùng Mai tham gia nuôi giấu anh Quyết- cán bộ cách mạng- từ nhỏ. Giặc bắt
Tnú sau 3 năm anh lại vượt ngục Kon Tum trở về. Lúc này anh Quyết đã hi sinh, Tnú lấy
Mai. Anh tiếp tục cùng dân làng mài giáo mác chuẩn bị chiến đấu. Giặc nghe tin, chúng
về làng càn quét, khủng bố. Kẻ thù bắt vợ con anh, tra tấn tàn bạo ngay trước mắt anh.
Căm hờn cháy bỏng, Tnú đã nhảy xổ ra giữa bọn lính nhưng cũng không cứu được mẹ
5
con Mai. Giặc bắt anh, quấn giẻ tẩm dầu xà nu đốt mười đầu ngón tay anh. Cụ Mết cùng
thanh niên trong làng đã nổi dậy giết sạch bọn lính cứu Tnú. Sau đó anh gia nhập lực
lượng quân giải phóng. Câu chuyện kết thúc bằng cảnh cụ Mết và Dít tiễn Tnú trở lại
đơn vị, trước mắt họ là những cánh rừng xà nu nối tiếp đến tận chân trời.
Để xây dựng văn bản tóm tắt tác phẩm, điểm đáng nói nữa là rèn luyện về lời văn. Độ
- Như chúng ta biết, tác phẩm văn học là con đẻ tinh thần của người nghệ sĩ. Việc sáng
tác đã khó nhiều khi việc đặt tên lại càng khó hơn. Tên tác phẩm không phải là cho nó cái
tên để gọi mà là cả một dụng ý, một ý nghĩa nghệ thuật.
Ví dụ: Ý nghĩa nhan đề truyện ngắn “Vợ Nhặt” của nhà văn Kim Lân.
- Gợi sắc thái đối lập
- Tình cảnh ngang trái, một tình huống đặc biệt
- Còn có thể gợi về cái tên của nhân vật trong tác phẩm
Lấy một ví dụ khác. Khi đọc truyện “ Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Trung
Thành thì cần đặt ra cẩu hỏi: tại sao tác giả lại đặt cho tác phẩm cái tên như vậy? Ý nghĩa
của nó?
- Gợi lên cho người đọc hình ảnh những đứa con sinh ra trong một gia đình có truyền
thống cách mạng đang nối tiếp và phát huy con đường lí tưởng của cha ông.
- Thể hiện cái nhìn hiện thực có chiều sâu mang tính độc đáo của Nguyễn Thi: Ông đã
chọn lăng kính gia đình để nhìn ra cả cuộc chiến đấu lớn của nhân dân MN. Cách nhìn
này là một sự phát hiện, khám phá mới mẻ: sự tiếp nối giữ hiện tại và quá khứ, sự hoà
quyện giữa tình cảm gia đình và tình cảm cách mạng tạo nên sức mạnh thiêng liêng của
con người Việt nam, dân tộc Việt nam.
- Nhà văn muốn ta nghĩ đến không chỉ một gia đình, mà cả một tổ quốc đang hào hùng
chiến đấu được sinh ra từ sức mạnh đau thương.
3. Cần chú ý đền tình huống và chi tiết trong tác phẩm
3.1. Vấn đề tình huống truyện.
- Nếu như tứ thơ giữ một vai trò quan trọng đối với thơ trữ tình, thì với văn xuôi tự sự,
tình huống truyện có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của tác phẩm. Nếu tạo
được một tình huống truyện xem như đã tạo được một tiền đề khá vững chắc cho sự
thành công của tác phẩm. Do đó các cây bút tài năng thường ý thức đến điều này.
Ví dụ: Truyện“Vợ Nhặt”, Kim Lân đã xây dựng tình huống truyện độc đáo. Có thể nói
tình huống truyện của “Vợ Nhặt” được xây dựng trên cơ sở về một cuộc hôn nhân lạ
lùng giữa Tràng và cô “vợ nhặt”.
mình qua cái nạn đói khủng khiếp này. Việc Tràng lấy vợ trong hoàn cảnh này đồng
nghĩa rước thêm về nhà một miệng ăn, lo thêm một nỗi lo, đưa mình đến với cái chết
nhanh hơn.
- Như vậy khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu các tác phẩm văn xuôi ngoài việc tóm tắt để
ghi nhớ tác phẩm người giáo viên phải hướng dẫn các em chú ý tình huống truyện. Bởi vì
trong văn xuôi tự sự tình huống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thể hiện tính
cách và số phận nhân vật, chủ đề tác phẩm.
Ví dụ: “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyên Minh Châu:
+ Để tạo nên hình tượng người đàn bà hàng chài nhà văn đã tạo ra tình huống truyện độc
đáo và từ tình huống độc đáo này mà nhân vật dần hé lộ số phận.
+ Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một người lính vừa bước ra từ
cuộc chiến tranh nhiều đau thương mất mát. Phùng được dịp trở về chiến trường xưa để
8
chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát
hiện ra một bức tranh cảnh biển có một không hai: “Trước mặt tôi là một bức tranh mực
tầu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù
trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người
lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng
mặt vào bờ”. Cảnh đẹp đến nỗi Phùng có cảm giác bối rối, trái tim như bị bóp thắt vào.
+ Nhưng đằng sau chiếc thuyền đẹp như trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng:
người chồng vũ phu, thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn
bà nhẫn nhục chịu đựng. Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờ sửng sốt. Nghịch
cảnh ấy khiến lòng anh tan vỡ.
+Trong suốt câu chuyện, nguời đàn bà làng chài không có tên, chỉ được gọi là “người đàn
bà”, là “mụ”, là “ chị”- những cách gọi phiếm định. Đó là người đàn bà vô danh. Đây là
một dụng ý nghệ thuật của tác giả. Không phải nhà văn "nghèo" ngôn ngữ đến độ không
thể đặt cho chị một cái tên mà là vì chị cũng giống như hàng trăm người đàn bà ở vùng
biển nhỏ bé này. Dù vô danh, nhưng người đọc sẽ không quên được chị bởi những nét
-Hiện thực về nỗi đau khổ, đói kém của nhân dân
-Hiện thực về tư tưởng của quần chúng : Đói kém sẽ dẫn tới liều lĩnh ; nhưng đói kém
cùng quẫn cũng sẽ dẫn họ đến với cách mạng.
+ Giá trị nhân đạo : Trong bất kì hoàn cảnh nào, người dân lao động không hoàn toàn
tuyệt vọng họ vẫn luôn hướng về sự sống và ánh sáng ; hạnh phúc và tương lai.
-Ngoài việc xác định và phân tích ý nghĩa của tình huống truyện người giáo viên
cần cho học sinh so sánh tình huống truyện trong mỗi tác phẩm của từng nhà văn.
Ví dụ: “Vợ Nhặt” (Kim Lân) và “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu) cả
hai đều xây dựng được tình huống truyện độc đáo, nhưng tình huống trong mỗi câu
chuyện lại có sự khác nhau.Tình huống trong “Vợ Nhặt” là tình huống về một cuộc hôn
nhân lạ lùng giữa Tràng và cô vợ nhặt.Còn tình huống trong chiếc thuyền ngoài xa là tình
huống mang tính phát hiện về “cảnh đắt trời cho” với hiện thực nghiệt ngã cuộc sống của
nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng .
3.2. Chi tiết trong tác phẩm văn xuôi tự sự.
Một tác phẩm văn xuôi hay lắm khi hay ở chi tiết, hình ảnh cho nên khi ôn tập các
tác phẩm văn xuôi người giáo viên phải hướng dẫn học sinh chú ý đến chi tiết đặc sắc
trong tác phẩm và đi tìm ý nghĩa của các chi tiết đó.
Ví dụ: Đọc “Thuốc” của Lỗ Tấn mà không chú ý đến nội dung và ý nghĩa về những
người trong quán trà của lão Hoa đã bàn luận về thuốc thì quả là một sự thiếu sót. Hay
đọc “Số phận con người” của Sô-lô-khốp
cần phải chú ý chi tiết: khi Xô-cô-lôp đưa đứa con trai mới nhận về nhà, bà chủ nhà “
Nhìn nó ăn ngấu nghiến mà nước mắt ròng ròng…”.Có thể nói đây là một chi tiết nhỏ
nhưng lại có ý nghĩa lớn.Vì tiếng khóc của bà chủ nhà là tiếng khóc:
+ Khóc thương, thông cảm cho hoàn cảnh tội nghiệp của bé Vania.
+ Khóc thương cho cảnh ngộ của Xôcôlốp.
+ Cảm phục, ngưỡng mộ trước lòng tốt của Xôcôlôp,một người vượt lên nỗi đau của
chính mình để yêu thương, cưu mang một người bất hạnh khác.
+ Tiếng khóc tủi thân cho hoàn cảnh của chính mình (không có con cái)
+ Và tiếng khóc ấy còn là tiếng khóc của chính tác giả thương xót cho những “số phận
con người” sau chiến tranh.
phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự. Lúng túng này do nhiều nguyên nhân. Có phần
do cách đọc và nắm tác phẩm để dẫn chứng khi làm bài. Có phần do chưa thuần thục
phương pháp, kĩ năng, chưa biết tìm ra các vấn đề phân tích. Lại có phần bởi chưa thực
hiểu mục đích, ý nghĩa của việc mình đang làm. Việc gì cũng thế, khi chưa thật hiểu mục
đích công việc thì khó có thể làm tốt, làm một cách có ý thức cao được.
- Trong tác phẩm tự sự, nhà văn “nói” qua nhân vật. Nhân vật chính là nơi mang chở
nội dung phản ánh, tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, là nơi kí thác quan niệm về con người,
về nhân sinh của nhà văn. Bởi thế, phân tích nhân vật trở thành con đường quan trọng
nhất để đi đến giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo của tác phẩm, để nhận ra lí tưởng thẩm
11
mĩ của nhà văn. Một nhân vật văn học lớn bao giờ cũng thể hiện một số phận, một quan
niệm nhân sinh độc đáo và thường điển hình cho một tầng lớp xã hội, một giai cấp, thậm
chí một thời đại nào đó.
- Không phải không còn những học sinh chưa hiểu thật đầy đủ rằng nhân vật trong
tác phẩm văn học là “con đẻ”, là sản phẩm sáng tạo của một nhà văn nhất định. Nó là kết
quả của một quá trình khám phá, chiêm nghiệm. Nó là sản phẩm từ sự tổng hợp, nhào
nặn. Cũng do thế, nhân vật mang dấu ấn của cá nhân sáng tạo ra nó. Không ít học sinh
còn đối chiếu máy móc nhân vật với hiện thực lịch sử, với sự thực cuộc đời để đánh giá
đúng, sai, hay, dở mà quên đi một sự thực khác: nhân vật có thể mang màu sắc “siêu
thực”, có thể đi lối riêng theo cách dẫn dắt, theo ý đồ và bút pháp nghệ thuật của nhà văn.
Phân tích nhân vật còn để nhận ra tài năng, đặc điểm bút pháp của nhà văn, để thêm thú
vị khi thưởng thức một giá trị thẩm mĩ.
- Việc phân tích một nhân vật cần được soi tỏ dưới các ánh sáng trên. Khi phân tích
một nhân vật phải vươn lên khái quát được các giá trị trên. Nhắc lại mấy điều này, là để
người giáo viên khi hướng dẫn học sinh ôn tập cần lưu ý:
+Thứ nhất, biến bài phân tích nhân vật thành một bài miêu tả, ca ngợi một con người nào
đó ngoài đời (nhất là khi phân tích loại nhân vật chính diện có các phẩm chất, vẻ đẹp cao
quí). Quá trình phân tích một nhân vật văn học cần gắn với sự cảm thụ, đánh giá bút pháp
nhà văn có tài thường chỉ qua một số nét khắc họa chấm phá có thể giúp người đọc hình
dung ra diện mạo, tư thế cùng bản chất của một nhân vật nào đó. Một nhân vật thành
công bao giờ cũng là “con người này” khác với con người kia, con người nọ…
-Khi cảm nhận, phân tích ngoại hình nhân vật cần thấy rằng phần lớn trường hợp, đặc
điểm tính cách, chiều sâu nội tâm được thống nhất với vẻ bề ngoài. Song cũng có những
trường hợp cái bên trong và vẻ bên ngoài của nhân vật “trật khớp”, thậm chí trái ngược
nhau.
-Trong phân tích nhân vật, cần qua các chi tiết ngoại hình mà “đọc” đúng nội tâm, bản
chất của đối tượng.
4.3. Ngôn ngữ
-Qua lời ăn tiếng nói, qua cách dùng từ, giọng điệu của một người, chúng ta có thể nhận
ra nghề nghiệp, trình độ văn hóa, nhận ra tính cách của con người ấy.
-Ngôn ngữ của nhân vật văn học thành công thường được cá thể hóa cao độ, nghĩa là
mang đậm dấu ấn của một cá nhân. Nhà văn có tài là người biết sống với nhiều nhân vật,
nắm bắt được nhiều kiểu ngôn ngữ.
4.4. Nội tâm
-Khi phân tích nhân vật cần quan tâm đến thế giới bên trong với những cảm giác, cảm
xúc, tình cảm, suy nghĩ… Thế giới bên trong này thường tương tác với thế giới bên ngoài
(môi trường thiên nhiên, sự biến chuyển của đời sống xã hội, quan hệ và hành vi của các
nhân vật khác xung quanh) đồng thời cũng có qui luật vận động riêng của nó. Một nghệ sĩ
tài năng thường cũng là một bậc thầy trong việc nắm bắt và diễn tả tâm lí con người.
Miêu tả chân thực, tinh tế đời sống nội tâm nhân vật là chỗ thử thách tài nghệ nhà văn và
13
cảm nhận, phân tích được một cách kĩ lưỡng, thuyết phục mặt này cũng thành nơi chứng
tỏ năng lực của người phân tích tác phẩm.
4.5. Cử chỉ, hành động
-Bản chất của con người ta bộc lộ chân xác, đầy đủ nhất qua cử chỉ, hành động. Phân tích
nhân vật, vì thế, cần tập trung khai thác kĩ phương diện này. Đó là sự thật hiển nhiên.
- Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một người lính vừa bước ra từ
cuộc chiến tranh nhiều đau thương mất mát. Phùng được dịp trở về chiến trường xưa để
chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát
hiện một “ cảnh đắt trời cho”. Cảnh đẹp đến nỗi Phùng có cảm giác bối rối, trái tim như
bị bóp thắt vào.
- Nhưng đằng bức tranh tuyệt đỉnh ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: người chồng vũ
phu, thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn bà nhẫn nhục
chịu đựng. Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờ sửng sốt. Nghịch cảnh ấy khiến
lòng anh tan vỡ.
- Trong suốt câu chuyện, nguời đàn bà làng chài không có tên, chỉ được gọi là “người đàn
bà”, là “mụ”, là “ chị”_những cách gọi phiếm định. Đó là người đàn bà vô danh. Đây là
một dụng ý nghệ thuật của tác giả. Không phải nhà văn "nghèo" ngôn ngữ đến độ không
thể đặt cho chị một cái tên mà là vì chị cũng giống như hàng trăm người đàn bà ở vùng
biển nhỏ bé này. Dù vô danh, nhưng người đọc sẽ không quên được chị bởi những nét
đặc biệt về tính cách và nỗi đau thân phận mà chị phải gánh chịu.
a/ Lai lịch:
Trước đây Chị vốn là con của một gia đình khá giả nhưng số phận đã không may mắn với
chị. Chị mắc bệnh đậu mùa. Di chứng để lại đó là cái xấu. Cái xấu xí thô kệch đã đeo
đuổi chị như một định mệnh.
b/ Ngọai hình và hoàn cảnh sống:
- Đó là một “người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà
vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau
một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ, tấm lưng áo bạc
phếch và rách rưới.”
-Cặp mắt của chị hay nhìn xuống thể hiện sự nhẫn nhục, câm lặng, dự báo một thân phận
đầy bất hạnh.
-Vì xấu xí không ai lấy nên chị trót có mang với một anh hàng chài nhà ở giữa phá vẫn
hay đến nhà chị mua bả về đan lưới. Thế rồi thành vợ thành chồng. Chị xuống ở luôn
ngờ. Chị kiên quyết từ chối lời đề nghị của chánh án Đẩu: “quý tòa… phạt tù con cũng
được, đừng bắt con bỏ nó…”
Người đàn bà đau khổ kể lại câu chuyện cuộc đời mình nhằm gián tiếp đưa ra những lí do
khiến mình không thể bỏ chồng.
+ Trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe
mạnh, biết nghề, để chung tay nuôi những đứa con khôn lớn nên người. “Mong các chú
cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người
đàn ông để chèo chống phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con, nhà nào
cũng trên dưới chục đứa.
+ Chị cũng là người vợ luôn biết quý trọng chắt chiu những giây phút hạnh phúc của đời
thường, giản dị mà thật cảm động: “Ở trên chiếc thuyền, cũng có lúc vợ chồng con cái
chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”. Và “vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó
được ăn no.”
16
Vẻ đẹp tâm hồn của chị gòn thể hiện ở thiên chức làm mẹ thiêng liêng và tình thương con
vô bờ. “ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn, cho
nên phải gánh lấy cái khổ,…đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể
sống cho mình…”. Chị hiểu như thế nào là nỗi đau của những trẻ thơ sống trong cảnh bố
mẹ ly dị. Chị không muốn nhìn cảnh các con thấy bộ mẹ chia tay. Cũng vì thương con chị
đã yêu cầu lão đàn ông vũ phu mang chị lên bờ mà đánh vì sợ con nhìn thấy. Vì thương
con mà chỉ đưa thằng Phác lên bờ để sống. Đó là triết lí sống thật giản dị mà sâu sắc vô
cùng!
+ Chị cũng hiểu và thông cảm cho chồng: chị thừa nhận chồng chị trước kia là “anh con
trai hiền lành nhưng cục tính”, chẳng qua vì đói nghèo, thất học, túng quẫn lão chồng mới
sinh ra vậy. Đây chính là sự hiểu đời, sự thông cảm và vị tha của chị. Chị không hề oán
trách chồng mà ngược lại chị rất cảm thông cho hành động của chồng. Chồng chị là nạn
nhân của hòan cảnh sống nghiệt ngã, chứ không phải là một người cay nghiệt, độc ác
cấu trúc nghệ thuật, giọng điệu của tác phẩm, với cách cảm thụ thế giới, thái độ của nhà
văn. Khi nghiên cứu một cấu trúc văn bản, người giáo viên cần quan tâm đến điểm nhìn,
chỗ đứng mà tác giả lựa chọn. Chính điểm nhìn, chỗ đứng này chi phối cách miêu tả,
đánh giá sự việc, câu chuyện và thành cơ sở để người đọc chúng ta cân nhắc, lựa chọn
thái độ đối với hiện thực, nhân vật được phản ánh.
Chương III
Kết quả nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện bằng hai phương pháp
1. Kết quả từ quan sát thực tế
Quan sát việc học tập trong các giờ ôn tập và vở bài tập cho về nhà của học sinh kết quả
như sau:
+Trong giờ ôn tập không khí học tập sôi nổi nghiêp túc và có tinh thần tự giác
+Học sinh ôn tập mang tính hệ thống, khoa học, không học tủ
+Bài tập ở các dạng khi cho về nhà các em dầu hoàn thành và đạt yêu cầu
2. Nghiên cứu qua sản phẩm
-Trước khi chưa áp dụng phương pháp này, thi khảo sát chất lượng lần 1 lớp 12 .Kết quả
thực hiện ở hai lớp mà tôi trực tiếp giảng dạy như sau:
Nghị luận nghị luận về tác Lớp 12A
phẩm tự sự
Lớp 12B
Mức điểm đạt
- Giỏi: 0/45
- Giỏi:0/46
-Khá:9/45
-TB:19/46
-Yếu: 3/45
-Yếu:5/46
C. KẾT LUẬN
Hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn tập môn văn theo cấu trúc đề thi là rất quan trọng và
hướng dẫn học sinh làm thế nào để học sinh có kĩ năng làm văn lại còn quan trọng
hơn.Thiết nghĩ rằng mỗi một người thầy, người cô trong quá trình giảng dạy cũng đã tự
đúc rút cho mình những kinh nghiệm nhất định.Tuy nhiên điều mà chúng ta đáng bàn ở
đây là chất lượng bài viết, điểm thi tốt nghiệp của học sinh như thế nào thì mới là điều
chúng ta quan tâm.
Hướng dẫn học sinh học ôn tập như thế nào để khỏi gây áp lực căng thẳng về tâm
lý đạt hiệu quả cao trong thi cử xét cho cùng cũng là việc đổi mới phương pháp dạy và
học.
Với sáng kiến này, tôi chỉ mong góp một ý kiến nhỏ của mình trong quá trình giảng
dạy tích luỹ được để chia sẻ với mọi đồng nghiệp xa gần.Chắc rằng sẽ còn nhiều thiếu
sót, mong các đồng nghiệp đóng góp ý kiến để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn
chỉnh hơn.Xin chân thành cảm ơn.
19