SKKN : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra, đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT. - Pdf 39

SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.

A.MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài.
Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại đại hội Đảng
lần XI đã khẳng định rằng chúng ta cần phải "Đổi mới căn bản, toàn diện nền
giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; đổi mới chương
trình, nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục,
phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo….” điều đó
khẳng định việc đổi mới giáo dục là nhiệm vụ vừa cấp thiết vừa lâu dài đối
với đất nước ta nói chung, ngành GD – ĐT nói riêng. Để đổi mới giáo dục,
đổi mới PPDH thì việc đổi mới kiểm tra – đánh giá (KT- ĐG) là một yêu cầu
cần thiết, quan trọng và đó cũng là nhiệm vụ của mỗi giáo viên. Đánh giá
được tầm quan trọng của việc đổi mới KT - ĐG của các cấp học nói chung,
của cấp THPT nói riêng bộ GD và ĐT đã tổ chức nhiều hội thảo, chuyên đề
về đổi mới kiểm tra, đánh giá đồng thời đã phát hành nhiều tài liệu, các công
văn hướng dẫn thực hiện. Là một giáo viên trẻ, với trách nhiệm và tâm huyết
của mình tôi đã sớm ý thức được ý nghĩa của việc đổi mới phương pháp dạy
học cùng với việc tiếp thu các kiến thức từ các chuyên đề do sở GD và ĐT
Thanh Hóa tổ chức, nghiên cứu các tài liệu liên quan để áp dụng vào thực tiễn
dạy học, đó chính là lí do thứ nhất để tôi chọn đề tài nghiên cứu này.
Qua kinh nghiệm dạy học tôi nhận thấy rằng việc kiểm tra, đánh giá học
sinh còn nhiều bất cập như: Ở một số lớp, một số bộ môn việc kiểm tra ở lớp
chưa thực sự nghiêm túc tình trạng học sinh không tự giác, thiếu trung thực
khi làm bài kiểm tra vẫn diễn ra. Việc biên soạn đề kiểm tra chưa được đầu tư
thỏa đáng và có chiều sâu ở một số giáo viên…Những bất cập này sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến kết quả đánh giá năng lực học tập của học sinh. Đánh giá
thiếu khách quan, không chính xác năng lực học tập của học sinh sẽ ảnh
hưởng nghiêm trọng đến hành vi, thái độ học tập của học sinh, ảnh hưởng đến
niềm tin của học sinh trong học tập và quan trọng hơn ảnh hưởng đến việc

II.Mục đích nghiên cứu:
Thông qua quá trình dạy học để tìm ra phương pháp phù hợp trong kiểm
tra đánh giá học sinh từ đó nâng cao kết quả dạy và học môn Toán THPT.

III.Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh THPT ( cụ thể đối tượng học sinh lớp 11A5, 11A6, 12 C6
trường THPT Hà Tông Huân – Yên Định)

IV.Giới hạn của đề tài:
Đề tài tập chung vào các phương pháp, biện pháp cụ thể về đổi mới kiểm
tra đánh giá áp dụng trong dạy học môn Toán THPT nói riêng, trong dạy học
nói chung.

V.Nhiệm vụ của đề tài:
Đề tài sẽ trả lời cho các câu hỏi khoa học:
1.
Hình thức đổi mới KT ĐG nào phù hợp trong dạy học nói chung,
dạy học môn Toán THPT nói riêng?
2.
Kiểm tra như thế nào giúp giáo viên đánh giá đúng năng lực học
môn Toán của học sinh?
3.
Kết quả thực nghiệm của đề tài như thế nào?

VI.Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài, trong quá trình nghiên
cứu người viết đã sử dụng, kết hợp nhiều phương pháp đó là:
+Nghiên cứu các loại tài liệu sư phạm, tâm lí có liên quan đến đề tài.
+Phương pháp quan sát (công việc dạy và học của giáo viên và HS).
+Phương pháp điều tra (nghiên cứu chương trình, đối tượng học sinh,…).

Đặc điểm tâm lý của học sinh lứa tuổi THPT đó là ý thích muốn chứng tỏ
mình trước bạn bè, thầy cô và người khác, muốn khám phá, tìm tòi những cái
mới, muốn thể hiện khả năng chinh phục những khó khăn. Tuy nhiên học sinh
lứa tuổi này cũng rất dễ thiếu kiên nhẫn, bi quan sau những thất bại. Vì lẽ đó
trong việc kiểm tra học sinh giáo viên cần đưa ra những yêu cầu, thử thách để
học sinh tìm hiểu, khám phá. Tuy nhiên nếu yêu cầu đưa ra quá cao mà năng
lực của học sinh không đáp ứng để giải quyết được yêu cầu hoặc việc đánh
giá của giáo viên thiếu chính xác, thiếu khách quan sẽ rất dễ làm cho học sinh
chán nản, thiếu tự tin từ đó giảm sút niềm tin trong học tập, trong cuộc sống…
Những nhận định trên chứng tỏ rằng để đổi mới PPDH, đổi mới KT– ĐG
không thể không tìm hiểu, nắm bắt tâm lý lứa tuổi của học sinh.

2.Cơ sở giáo dục học:
Trong từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý định nghĩa kiểm tra là xem
xét thực chất, thực tế. Theo Bửu Kế, kiểm tra là tra xét, xem xét, kiểm tra là
soát xét lại công việc, kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận
xét. Còn theo Trần Bá Hoành, kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, những
thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá.
Như vậy, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểm tra
với nghĩa là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việc
thực tế để đánh giá và nhận xét.
Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống là quá trình thu thập và
xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục. Căn
cứ vào mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành
động trong giáo dục tiếp theo. Cũng có thể nói rằng đánh giá là quá trình thu
thập phân tích và giải thích thông tin một cách hệ thống nhằm xác định mức
độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục về phía học sinh. Đánh giá có thể thực
hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính.
Do vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh có thể xem là
hai mặt của một vấn đề có quan hệ mật thiết với nhau. Kiểm tra nhằm cung

“Hai không”.

II: Thực trạng của đề tài:
Qua quá trình nghiên cứu để thực hiện đề tài, cùng với thực tiễn quá
trình dạy học của bản thân. Tôi nhận thấy rằng việc đổi mới KT – ĐG trong
dạy học môn Toán THPT gặp những thuận lợi và khó khăn sau:

1. Thuận lợi:
Được trang bị các trang thiết bị dạy học mới thuận lợi cho đổi mới PPDH
nói chung, đổi mới KT – ĐG nói riêng như: Máy chiếu, máy tính có nối
mạng….
Được cung cấp các tài liệu liên quan, được tiếp thu các chuyên đề về đổi
mới KT-ĐG do các nhà giáo dục, các nhà giáo có kinh nghiệm, chuyên môn
cao và tâm huyết hướng dẫn.
Được sự ủng hộ, tạo điều kiện của Ban giám hiệu, của tổ chuyên môn,
đồng nghiệp, học sinh và phụ huynh.
Dễ dàng tiếp cận phương pháp dạy học mới, tài liệu, thông tin, số liệu
hữu ích trong dạy học thông qua kho tài nguyên trên mạng Internet

2. Khó khăn:
Việc thực hiện đối mới KT – ĐG ở các trường nói chung, các bộ môn
trong trường nói riêng chưa đồng bộ, quyết liệt dẫn đến khó khăn cho giáo
viên khi thay đổi hình thức, phương pháp KT – ĐG.
Thói quen đối phó, không tự giác trong các giờ kiểm tra của nhiều học
sinh được hình thành từ trước nên khó thay đổi trong một thời gian ngắn.
----------------------------------------------------------

------------------------------------------------

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân

này như sau:
* Các bước tiến hành kiểm tra:
Bước 1: Lên kế hoạch về nội dung kiểm tra, hình thức kiểm tra và
báo cáo chuyên môn nhà trường xin sắp xếp thời gian kiểm tra.
+ Nội dung kiểm tra: Kiểm tra kiến thức trọng tâm môn toán đã học ở
năm học trước của học sinh các lớp 11 A5, 11 A6 và 12 C6.
+ Hình thức kiểm tra: Kết hợp câu hỏi TNKQ và tự luận (4 điểm TNKQ,
6 điểm tự luận).
+ Thời gian: 2 tiết (không thuộc phân phối chương trình)
+ Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng: nhận biết (30 %), thông hiểu (40 %),
vận dụng (30%).
Bước 2: Soạn đề kiểm tra theo yêu cầu về kiến thức, kỹ năng dự tính
kiểm tra.
Bước 3: Thông báo cho học sinh chuẩn bị.
Ở bước này tôi tôi nêu rõ hình thức, nội dung và ý nghĩa của việc kiểm
tra để học sinh hiểu được tác dụng của việc kiểm tra ban đầu đối với việc học
của mình trong năm học. Từ đó học sinh chuẩn bị và có tâm lý tự tin và sẵn
----------------------------------------------------------

------------------------------------------------

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân

-2-


SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
sàng cho việc kiểm tra (kể cả với học sinh có năng lực học tập trung bình và
yếu).

11A6 50 3
12C6 46 4

3.8
6
8.7

SL %

6 11.6
8 16
8 17.4

SL

%

SL %

32 61.5 12 23.1
25 50 14 28
24 52.1 10 21.8

Kém
SL

% SL %

0 0
0 0

+Các lớp đều có tỉ lệ học sinh đạt điểm Yếu, Kém tăng hơn so với điểm
TB môn cả năm, ngược lại tỉ lệ học sinh đạt điểm Khá, Giỏi giảm.
Bước 3: Đánh giá sau khi kiểm tra, thống kê và sử lí số liệu.
+ Việc thực hiện kiểm tra được tổ chức nghiêm túc ở cả ba lớp. Tuy
học sinh tự giác làm bài xong nhiều em vẫn có thái độ xem nhẹ, thậm chí coi
thường ý nghĩa của việc kiểm tra đầu năm.
+ Các lớp 11 (11 A5, 11 A6) nhiều học sinh ít ôn tập, củng cố kiến
thức trong hè. Một số học sinh đạt kết quả kém, không nắm được các kiến
thức cơ bản, trọng tâm trong chương trình toán lớp 10.
+ Lớp 12 C6 số em học sinh đạt kết quả học tập Khá, Giỏi ở năm học
2009 – 2010 tích cực ôn tập, củng cố và mở rộng kiến thức, một số em học
sinh có kết quả TB không hoặc ít đầu tư thời gian ôn tập. Số lượng học sinh
có kết quả Yếu, Kém so với điểm TB môn tăng hơn. Tuy nhiên học sinh lớp
12 C6 vẫn có nhiều cố gắng hơn trong việc ôn tập, củng cố kiến thức so với
học sinh hai lớp 11 A5, 11 A6
Bước 4: Quyết định.
----------------------------------------------------------

------------------------------------------------

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân

-2-


SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
Sau khi kiểm tra, tổng hợp và đánh giá kết quả tôi bước đầu đã tìm hiểu
được việc tự học, tự ôn tập của học sinh trong khoảng thời gian nghỉ hè. Từ
đó tôi đã xây dựng kế hoạch dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh các

với việc kiểm tra miệng của giáo viên, nếu đã được tính điểm sẽ có tâm lý chủ
quan hoặc bi quan dẫn đến thiếu động lực trong việc học bài cũ. Nếu vẫn tiếp
tục theo hình thức trên theo tôi sẽ dẫn đến tình trạng điểm KT miệng chỉ phản
ánh kết quả nhất thời của học sinh đồng thời sẽ làm học sinh nảy sinh tâm lý
đối phó và thiếu tự giác học bài cũ.
+ Điểm kiểm tra thường xuyên (KTTX), kiểm tra định kỳ (KTĐK):
Thường chỉ được tính điểm thông qua các bài kiểm tra. Như vậy nếu một học
sinh rất tích cực xây dựng bài, tích cực học và làm bài tập xong nếu kết quả
bài kiểm tra viết không tốt sẽ ảnh hưởng đến điểm TB môn của học sinh còn
----------------------------------------------------------

------------------------------------------------

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân

-2-


SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
việc tích cực học tập, xây dựng bài trong cả một thời gian sẽ không được tính
theo điểm.
+ Việc thực hiện nghiêm túc quy chế thi trong các giờ thi, kỳ thi ở nhiều
giáo viên vẫn chưa tốt. Tình trạng học sinh sử dụng tài liệu, trao đổi bài vẫn
diễn ra ở một số lớp, một số bộ môn. Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến
kết quả kiểm tra, kết quả thi của học sinh.
Từ việc đánh giá một số hạn chế, nhược điểm tồn tại ở một số đồng
nghiệp và cả bản thân tôi ở những năm học trước tôi nhận thấy cần thiết phải
đổi mới hình thức kiểm tra để đánh giá kết quả học tập của học sinh thực sự
khách quan, chính xác. Cụ thể tôi đã thực hiện khi dạy học các lớp 11 A5, 11

Kém

SL % SL % SL % SL
SL % SL % SL % SL %
11A5 1 12 23.1 16 30.8 12 23.1 12 23.1 2 18 17.3 25 24.1 35 33.7 26

%
25

(52)
11A6

1 13

9

18

2 20 20 26 26 32

32

(50)
12C6

1 15 32.6 16 34.8 8 17.4 6

13

2 26 28.2 28 30.4 24 26.1 14

SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
+ Phần trăm điểm KT miệng Khá, Giỏi ở học kỳ 2 thấp hơn ngược lại %
điểm TB, Yếu – Kém cao hơn học kỳ 1. Tuy nhiên điểm số học kỳ 2 phản ánh
trung thực và toàn diện hơn bởi học sinh quan tâm nhiều hơn đến việc học bài
cũ, đến việc ôn tập kiến thức trọng tâm đã được học trong cả học kỳ.
+ Những học sinh đạt được 1 điểm KT miệng cao vẫn tích cực học bài
cũ, ít tâm lý chủ quan. Học sinh đạt 1 điểm KT miệng thấp tích cực hơn trong
việc học bài cũ.
+ Hình thức kiểm tra này giúp đánh giá việc học bài cũ của học sinh
được thực hiện trong suốt học kỳ, việc đánh giá kết quả khách quan và chính
xác hơn.
2.2. Biện pháp đổi mới kiểm tra thường xuyên.
Trong tập thể học sinh thường có sự phân hóa, có nhiều em kiến thức,
năng lực tiếp thu tốt ngược lại có nhiều em còn kém. Những học sinh có năng
lực khá, giỏi thường xung phong chữa các bài tập, tích cực xây dựng bài
ngược lại học sinh có năng lực trung bình, yếu, kém thường tự ti, rụt rè ngại
phát biểu xây dựng bài trước tập thể. Chính vì thế để tạo thêm động lực,
khuyến khích học sinh chủ động, tích cực học tập tôi tăng cường việc kiểm tra
thường xuyên khi gọi ngẫu nhiên các em lên bảng chữa bài tập. Kết quả của
quá trình thực hiện này sẽ được tổng hợp và quy điểm ( tính bình quân số
điểm các lần kiểm tra) để tính vào điểm kiểm tra thường xuyên.
Sau khi thực hiện hình thức đổi mới này tôi đã tổng hợp số liệu và đánh
giá tính hiệu quả như sau:
+ Học sinh có động lực, tích cực hơn trong việc làm bài tập ở nhà.
+ Đối với học sinh có lực học trung bình ít biểu hiện tâm lý thụ động, tự
ti khi được gọi lên bảng chữa bài tập.
+ Điểm kiểm tra thường xuyên phản ánh trung thực hơn kết quả học tập
của học sinh trong cả học kỳ.
Giải pháp này theo tôi nếu thực hiện tốt và hiệu quả sẽ hạn chế được tình

sẽ khó đảm bảo được các yêu cầu giáo dục đặt ra.
Đánh giá được điều đó cùng với việc được tiếp thu các chuyên đề về đổi
mới kiểm tra, đánh giá của Sở GD và ĐT tôi đã thực hiện công tác chuẩn bị
và biên soạn các đề kiểm tra theo các bước sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu giáo dục của đề kiểm tra bằng cách thiết lập
ma trận.
Trước khi tiếp thu chuyên đề về “ biên soạn đề kiểm tra, xây dựng câu hỏi
và bài tập” do sở GD và ĐT tổ chức ở bước này tôi chưa nắm được cách thiết
lập ma trận về mục tiêu giáo dục, mức độ nhận thức đồng thời cũng chưa hiểu
hết ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề này. Trước đây ở bước này tôi
thường thực hiện bằng cách liệt kê mục tiêu kiểm tra chính, có đánh giá mức
độ kiến thức cần được kiểm tra song không được mã hóa bằng số liệu cụ thể.
Ngay sau khi chuyên đề được tổ chuyên môn triển khai và áp dụng thực hiện
tôi ngày càng nhận thấy được ý nghĩa của việc thiết lập này. Cụ thể trong học
kỳ 2 – năm học 2010 – 2011 tôi đã thực hiện vấn đề này theo hướng dẫn của
tổ chuyên môn và qua tham khảo, nghiên cứu tài liệu .
Minh chứng 3: Ma trận mục tiêu giáo dục và mức độ nhận thức theo
chuẩn kiến thức, kĩ năng lớp 12, môn Toán, chủ đề ứng dụng đạo hàm.
Chủ đề hoặc mạch kiến thức,

Mức cơ bản, Trọng số (Mức độ Tổng

kỹ năng

trọng

1. Sự liên quan giữa tính đơn

của KT KN
15

75
5
160

điểm của hai đồ thị. Sự tiếp xúc
giữa hai đường cong

100%

300

Minh chứng 4: Ma trận mục tiêu giáo dục và mức độ nhận thức theo
chuẩn kiến thức, kĩ năng lớp 12, môn Toán – chương trình cơ bản, chủ đề
phương pháp tọa độ trong không gian.
Chủ đề hoặc mạch kiến thức, Mức cơ bản,
Trọng số
Tổng
----------------------------------------------------------

------------------------------------------------

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân

-2-


SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
kỹ năng
trọng tâm của (Mức độ nhận điểm

11(Hàm số lượng giác và phương trình lượng giác) tôi tiến hành kiểm tra theo
hình thức tự luận với lớp 11A5, tự luận kết hợp với TNKQ với lớp 11 A6.
Yêu cầu về kiến thức, kỹ năng: nhận biết (30 %), thông hiểu (40 %), vận dụng
(30%). Sau khi chấm, tổng hợp kết quả tôi lập bảng so sánh với kết quả kết
quả lần kiểm tra trước (cụ thể kiểm tra đầu năm).
Minh chứng 5: Bảng tổng hợp kết quả kiểm tra 1 tiết – Chương I –
Đại số 11 – Chương trình cơ bản.
Lớp Sĩ Kết quả bài kiểm tra chương I – Kết quả kiểm tra đầu năm 2010
số ĐS và GT 11 – Cơ bản.

- 2011

Giỏi

Khá

TB

Yếu,

Giỏi

Khá

SL %

SL %

SL %




SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
+ Độ chênh lệch so với kết quả kiểm tra ban đầu ở lớp 11 A5 nhiều hơn
so với lớp 11 A6.
Mặc dù kết quả kiểm tra ở lớp 11 A5 tốt hơn lớp 11 A6 (số học sinh đạt
điểm từ TB trở lên cao hơn) xong qua so sánh và đánh giá trên tôi vẫn nhận
được kết quả thực nghiệm đó là: Hình thức kiểm tra kết hợp giữa tự luận và
TNKQ bao quát được nội dung câu hỏi cần kiểm tra hơn, phân loại khá chính
xác học sinh, hạn chế việc trao đổi bài của học sinh trong thời gian kiểm tra,
thu được kết quả chính xác và trung thực hơn.
Bước 3: Thiết lập ma trận đề kiểm tra.
Đây là một khâu rất quan trọng và cần thiết trong biên soạn đề kiểm tra.
Việc thiết lập ma trận đề kiểm tra đã được các cấp quản lí giáo dục, các thầy
cô giáo đánh giá là một trong những hình thức đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi
mới giáo dục cần thiết và hữu ích. Ma trận đề kiểm tra có thể xem như một
tấm bản đồ quý của các nhà địa lý học. Nếu không thiết lập ma trận hoặc
không coi trọng vấn đề này giáo viên rất dễ biên soạn một đề kiểm tra bị lạc
chủ đề (giống như người đi đường bị lạc lối khi không có bản đồ vậy), không
có ma trận đề sẽ được biên soạn một cách chủ quan, định tính và rất khó để
phân loại học sinh, rất khó để bao quát chương trình, rất khó để thể hiện được
mức độ trọng tâm kiến thức.
Đánh giá được vai trò và ý nghĩa đó tôi đã rất nghiêm túc và thực hiện
đúng quy trình thiết lập ma trận cho đề kiểm tra. Năm học 2010 – 2011 tôi đã
thực hiện việc thiết lập ma trận từ các đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết, kiểm tra học
kỳ và cả các hệ thống câu hỏi ôn tập theo chương, học kỳ, cả năm học.
Việc thiết kế ma trận được tiến hành theo các bước:
+ Liệt kê tên chủ đề chính cần kiểm tra.
+ Quyết định tổng số điểm bài kiểm tra ( 10 điểm), tỉ lệ % tổng số điểm

----------------------------------------------------------

TNKQ

TL

1
0,25

số

Vận dụng
3
0,25

1

1
3

------------------------------------------------

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân

-2-


SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
số.

0,5

1
0,25

1

5
1,5

2

2,5
3

tương giao giữa hai
đồ thị. Tiếp tuyến
của đường cong.
Tổng số

1,5
5

2,5

7

5

1,25


0,4

phẳng
Phương

0,4

đường thẳng
Tổng

Thông hiểu
1
1

0,4

TNKQ
1

0,8

1
1

5
1

1
0,4

1

1

số

Vận dụng

5
1

6
4,2

3,2
3,2
16

3,6

10

Bước 4: Biên soạn câu hỏi và bài tập theo ma trận đề.
Sau khi thiết lập ma trận đề kiểm tra tôi tiến hành biên soạn đề kiểm tra,
đây là khâu quan trọng nhất. Tôi tiến hành biên soạn theo ma trận mục tiêu
giáo dục, ma trận đề kiểm tra. Đề kiểm tra được biên soạn theo nguyên tắc:
Mỗi câu hỏi chỉ kiểm tra một đơn vị kiến thức, kĩ năng ( khái niệm, định lý,
công thức, thuật toán, quy tắc….); tổng số câu hỏi và mức độ về nội dung do
ma trận quyết định.
Minh họa 8:

3
;

1
)
Câu 2: Trong không gian Oxyz cho
và b = (1;−2;2) , véc



 

tơ v = −2a + b có tọa độ là:
A. (5; -8; 3)

B. (5; 8; -3)

C. (3; 4; 0)







D. (-3; 4; 0)

Câu 3: Trong không gian Oxyz cho véc tơ v = −5i + 3 j có tọa độ là:
A. (0; -5; 3)


song với nhau :
A. m=1; n = 1
B. m = -4; n= 2
C. m = 1; n = -1

D. m = -1; n = 1

Câu 8: Trong không gian Oxyz cho A (-2; 3; -2) và B (-1; 2; 1) phương
trình nào không phải là phương trình đường thẳng qua hai điểm A, B:
 x = −2 + 2t

A.  y = 3 − 2t
 z = −2 + 6t


 x = −1 − t

B.  y = 2 + t
 z = 1 − 3t


 x = −2 + t

C.  y = 3 + t
 z = −2 + 3t


 x = −1 + t

D.  y = 2 − t

A. Song song

B. Trùng nhau

C. Cắt nhau

D. Chéo nhau

Câu 10: Cho (d):

x −1 y +1 z − 2
=
=
và (P): x + y - z + 2 =0
2
−1
2

Phương trình hình chiếu của (d) lên (P) là:
A.

x −1 y +1 z − 2
=
=
7
2
−5

B.


ABC.
d. Tính thể tích khối chóp OABC.
Câu 2: Trong không gian Oxyz cho hai đường thẳng
(d):

x − 2 y +1 z − 2
=
=
1
−1
2

và (d’):

x +1 y +1 z −1
=
=
2
−1
1

a. Chứng tỏ (d) và (d’) chéo nhau.
b. Viết phương trình mặt phẳng (P) chứa (d) và song song với (d’)./.
(Ghi chú: Phần TNKQ các đáp án in đậm là đáp án đúng)
Bước 5: Xây dựng hướng dẫn chấm ( đáp án) và biểu điểm.
Sau khi biên soạn đề kiểm tra tôi xây dựng đáp án và biểu điểm đảm bảo
các yêu cầu: Nội dung khoa học và chính xác, trình bày cụ thể, chi tiết nhưng
ngắn gọn, phù hợp với ma trận đề kiểm tra. Tổng số điểm bài kiểm tra được
quy tính theo thang điểm 10.
Bước 6: Xem lại việc biên soạn đề kiểm tra, chỉnh sửa, bổ sung đề

xem nhẹ đánh giá ngược lại từ phía học sinh thì giáo viên rất dễ có nhận định
phiến diện, điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc điều chỉnh, đổi mới đề
kiểm tra.
3.2. Thực hiện kiểm tra và đánh giá kết quả:
Biên soạn tốt đề kiểm tra giáo viên mới thực hiện được một phần nhỏ
trong KT – ĐG. Việc thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả là những bước tiếp
theo cần được tiến hành nghiêm túc và cần được đổi mới. Năm học 2010 –
2011 tôi đã tiến hành thực hiện như sau:
* Về thực hiện kiểm tra:
Bước 1: Thông báo trước thời gian kiểm tra, hình thức kiểm tra cho học sinh
để học sinh ôn tập, chuẩn bị.
Bước 2: Tiến hành kiểm tra: Khi học sinh làm bài kiểm tra tôi quán triệt
để học sinh nghiêm túc làm bài theo đúng quy chế ( không sử dụng tài liệu,
không trao đổi bài, nhìn bài……)
Bước 3: Chấm điểm, nhận xét bài làm của học sinh ngay sau khi kiểm tra.
Bước 4: Trả bài kiểm tra: Được thực hiện ngày sau khi chữa bài kiểm tra.
* Về đánh giá kết quả kiểm tra:
Bước 1: Thu thập số liệu ( Bước đo lường).
Sau khi chấm bài tôi lập bảng số liệu thống kê. Thông thường tôi sử dụng
phần mềm Excel có lập sẳn bảng mẫu. Việc sử dụng phần mềm Excel với
bảng mẫu lập sẵn giúp tôi tiết kiệm được thời gian, bởi sau khi chấm bài chỉ
----------------------------------------------------------

------------------------------------------------

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân

-2-



……………
Bước 2: Sử lí số liệu ban đầu.
Thông qua bảng số liệu thông kê tôi đã có thể đánh giá ban đầu về chất lượng
bài làm của tập thể học sinh. So sánh với các cột về % điểm Khá, Giỏi, TB,
Yếu – Kém trong cùng một bảng ở bài kiểm tra trước tôi đã có nhận định về
chất lượng học tập của tập thể học sinh cũng như của từng học sinh.
Bước 3: Đánh giá:
Bước này tôi đưa ra những nhận định phán đoán về thực chất trình độ của một
học sinh, của cả lớp trước vấn đề được kiểm tra. Đồng thời thông qua quá
trình dạy học, thăm dò học sinh để nhận xét, đánh giá mức độ phù hợp của đề
kiểm tra. Từ đó đề ra biện pháp thực hiện.
Để nắm bắt được việc tự KT – ĐG của học sinh, thông thường sau khi
chữa bài kiểm tra tôi phát phiếu thăm dò.
Minh họa 11: Một số mẫu phiếu thăm dò.
Mẫu 1:
Em tự đánh giá kết quả bài thi của mình đạt bao nhiêu
điểm? Trả lời:……….
Theo em yêu cầu về kiến thức đề kiểm tra ở mức nào?
A. Rất khó
B. Khó
C. Bình thường
D. Dễ
Theo em nội dung đề kiểm tra như thế nào?
A. Phù hợp chương trình học
Mẫu 3:
B. Không phù hợp nội dung chương trình học
C. Một số câu không phù hợp.
Theo tôi việc phát các phiếu thăm dò nếu được thực hiện tốt sẽ là một
kênh thông tin quan trọng để giáo viên nắm bắt khả năng tự KT – ĐG của học
sinh, đồng thời có thông tin ngược để đánh giá đề kiểm tra. Việc làm này

Ngoài các kết quả thực nghiệm của các giải pháp cụ thể được thể hiện qua các
minh chứng trên, đề tài đã đạt được những kết quả chung như sau:

1. Kết quả thực nghiệm qua bảng số liệu thống kê.
Bảng số liệu 1:
Kết quả thực hiện hai nhóm giải pháp (Nhóm giải pháp 1 và 3)
Sĩ Kết quả học tập môn Toán năm
Kết quả học tập môn toán học
Lớp

số học 2009 - 2010
Giỏi
Khá
TB

Yếu,

học kỳ 1 năm học 2010 - 2011
Giỏi
Khá
TB
Yếu,

Kém
SL %

11A5
11A6
12C6



%

3 5.8
3 6
5 10.9

SL

%

8 13.4
10 20
9 19.6

SL

%

SL %

32
28
24

61.5

17.3

56

SL %

11A5
11A6
12C6

52
50
46

SL %

3 5.8 8 13.4
3 6 10 20
5 10.9 9 19.6

SL

%

SL %

32 61.5 9 17.3
28 56 9 18
24 52.2 8 17.3

SL

%


----------------------------------------------------------

------------------------------------------------

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân

-2-

13.5

10
6.5


SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.

3.

----------------------------------------------------------

------------------------------------------------

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân

-2-


SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.

thiện đề tài và ứng dụng đề tài vào công việc dạy học, giáo dục !
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Ngày 20/05/2011
Người viết

Trịnh Trọng Trung

Minh chứng 9: Sau khi kiểm tra ở lớp 11A5 ( theo đề kiểm tra ở minh họa
8) tôi thông kê kết quả và nhận thấy có trên 40% HS đạt điểm dưới TB, qua
chấm bài tôi đánh giá đề kiểm tra trên mặc dù khá sát với yêu cầu mục tiêu
giáo dục, yêu cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng xong có một số câu tự luận mức
độ vận dụng khó so với nhiều học sinh có lực học trung bình. Tôi đã điều
chỉnh phần tự luận như sau:
Phần 1: TNKQ (Giữ nguyên)
Phần 2: ( Câu hỏi tự luận)Điều chỉnh như sau:
Câu 1: Trong không gian Oxyz cho A (-2; 1; -2); B (1; -1; 1) và C (1;-1;0)




a. Tìm tọa độ các véc tơ AB ; AC từ đó chứng tỏ A, B, C không thẳng
hàng.
b. Viết phương trình mặt phẳng (ABC).
----------------------------------------------------------

------------------------------------------------

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân



Mục
I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Đối tượng nghiên cứu
IV.Giới hạn của đề tài
V. Phương pháp nghiên cứu
VI.Nhiệm vụ nghiên cứu
VII. Thời gian nghiên cứu
1. Cơ sở triết học
2. Cơ sở tâm lí học
I. Cơ sở lí luận
3. Cơ sở giáo dục học
II. Thực trạng của đề tài

----------------------------------------------------------

Trang
1
2
2
2
3
3
3
4
4 -5
5
6 -7


I. Kết quả thực nghiệm
20
21
II. Kiến nghị
C.KẾT LUẬN III. Lời kết
21 -22

TÀI LIỆU THAM KHẢO
01.Sách giáo khoa môn toán lớp 10.
02.Sách giáo viên môn lớp 10.
03.Sách hướng dẫn giảng dạy đại số lớp 10.
04.Sách hướng dẫn giảng dạy hình học lớp 10.
05.Phương pháp dạy học môn toán ( tác giả Nguyễn Bá Kim)
06.Tạp chí giáo dục và thời đại.
07.Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm.
08.Giáo trình triết học Mác – Lê Nin.

ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP
TRƯỜNG
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
----------------------------------------------------------

------------------------------------------------

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân



GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân

-2-



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status