Tư tưởng giáo dục của khổng tử và ảnh hưởng của nó đối với đổi mới giáo dục ở việt nam hiện nay - Pdf 39

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
- - - -80 CŨI oa-

TRẰN ĐỨC DUY

Tư TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỔI MỚI
GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học

Người hướng dẫn khoa học:
ThS. NGUYỄN THỊ GIANG

HÀ NỘI, 2016


LỜI CẢM
Trong quá trình thực hiện khóa luận tôi đã nhận
được ƠN
sự giúp đỡ của các thày cô trong khoa Giáo dục Chính trị trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình và quan tâm của cô giáo ThS. Nguyễn Thị Giang. Tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thày cô và cô giáo hướng dẫn trực tiếp đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cứu khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và
các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên


đào tạo đã có những chuyển biến nhưng nhìn chung còn thấp so với yêu cầu, chương
trình, phương pháp dạy và học còn lạc hậu, nặng nề chưa thật phù hợp , khả năng chủ
động sáng tạo của học sinh, sinh viên ít được bồi dưỡng, năng lực thực hành của học
sinh, sinh viên còn yếu. Cơ cấu và trình độ của lực lượng lao động còn bất họp lý, tỷ
lệ lao động qua đào tạo còn thấp làm cho khả năng tiếp thu kĩ thuật công nghệ mới
gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, việc giáo dục đạo đức, chính trị trong các trường
học chưa được quan tâm đúng mức. Trong một bộ phận học sinh, sinh viên có tình
trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão
lập than, lập nghiệp vì tương lai bản thân và đất nước. Đó là một khó khăn không nhỏ
trong việc hình thành đội ngũ những người lao động có bản lĩnh chính trị vững vàng,
có trình độ văn hóa và chuyên môn kĩ thuật tốt đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp


hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì thế qua các kì Đại hội, Đại hội XI của Đảng vẫn khẳng
định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đây
là vấn đề có tính chất chiến lược, có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của đất
nước, trở thành mối quan tâm hàng đầu của Đảng, toàn dân ta. Trong sự nghiệp xây
dựng và phát triển đất nước, cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế, phát huy nguồn lực của con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa
quan họng, là yếu tố cơ bản của sự phát hiển nhanh và bền vững. Giáo dục cần đào tạo
đội ngũ nhân lực có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi mới của xã hội và thị
trường lao động, đặc biệt là năng lực hành động, tính năng động, sáng tạo, tính tự lực
và trách nhiệm cũng như năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề
phức họp.
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã và đang có những chủ trương,
chính sách nhằm phát triển con người, đổi mới giáo dục và đào tạo. Những chủ
trương, chính sách đó xây dựng trên cơ sở không chỉ là sự tiếp thu có chọn lọc những
cái mới mà còn kế thừa, phát huy các giá trị tinh hoa trong lịch sử văn minh nhân loại,
ừong đó có Nho giáo.
Kế thừa và nhìn nhận thực tiễn cho thấy, việc dạy và học ở nước ta hiện nay

những công lao của Khổng Tử với nền giáo dục Trung Hoa và ảnh hưởng của Khổng
Tử đến hậu thế.
Tác giả Đỗ Anh Thơ trong cuốn “Khổng Tử cùng học trò đổi thoại về giáo
dục”, (2006), Nxb Hà Nội cũng đã giới thiệu về nền giáo dục cổ đại
Trung Quốc thông qua những câu danh ngôn bất hủ, cổ văn của Khổng Tử qua các
chủ đề giáo dục, tu dưỡng đạo đức, hiếu thảo gia đình...
Cũng liên quan đến đề tài, Sào Nam trong “Khổng học đăng”, (1998), Nxb. Văn
hóa thông tin, Hà Nội. Với một quan điểm hết sức tiến bộ, Sào Nam đã đúc kết được
tinh hoa của Khổng học thể hiện qua Tứ Thư: Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung, Mạnh
Tử - bốn cuốn sách pháp bảo của Khổng môn, đồng thời nêu rõ những bước thăng


trầm của Khổng học qua các triều đại Trung Quốc trước Cách mạng Tân Hợi. Tác giả
đã chứng minh rằng bản than tư tưởng Khổng học chính thống là một hệ thống triết
học mang tính nhân bản rất sâu sắc, phát huy được những phẩm chất cao cả của con
người và nhằm phục vụ cho cuộc sống tốt đẹp của một xã hội bình đẳng.
Có thể nói, các công trình ừên về cơ bản đã đề cập khá đầy đủ những nội dung
trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử. Tuy nhiên, những công trình đó chưa tập trung
đi sâu nghiên cứu tư tưởng giáo dục của Khổng Tử mà chỉ xem xét nó một bộ phận
cấu thành của hệ thống triết học của Khổng Tử.
Các bài viết in trên tạp chí chuyên nghành: về phương pháp dạy học của ông.
Quan niệm giáo dục của Khổng Tử của Nguyễn Đăng Tiến đăng trên tạp chí Dạy
và học ngày nay, số 7, năm 2012. Tuy nhiên tác giả chỉ đề cập đến một số tư tưởng
giáo dục của Khổng Tử mà chưa đi sâu vào phân tích sự ảnh hưởng của tư tưởng đó
đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay.
Bàn về phương pháp dạy và học hiện nay theo tư tưởng của Khổng Tử của Ngô
Quang Thái đăng trên tạp chí Dạy và học ngày nay, số 3, năm 2012.
Vài nét về tư tưởng giáo dục của “Vạn thể sư biểu” của TS. Bùi Hồng Vạn đăng
trên tạp chí Dạy và học ngày nay, số 11, năm 2013
Nhưng ừong phạm vi hẹp của một bài báo cáo không cho phép những công trình

Khóa luận tập trung làm rõ những nội dung chủ yếu ừong tư tưởng giáo dục của
Khổng Tử, ừên cơ sở đó phân tích, chỉ ra những mặt tích cực và tiêu cực của tư tưởng
đó đối với việc đổi mới giáo dục của Việt Nam hiện nay.

-

Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tư tưởng giáo dục của Khổng Tử và ảnh
hưởng của nó đến sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay.

-

Phạm vỉ nghiên cứu
Trong điều kiện và khả năng cho phép, khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu một
số nội dung cơ bản ừong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử và khẳng định giá trị của
những tư tưởng đó đối với việc đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay.


4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, khóa luận
này sử dụng các phương pháp chủ yếu như: Phương pháp logic và lịch sử, phương
pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, quy nạp và diễn dịch, phương pháp chứng minh..
.

5. Kết cấu khóa luân
Ngoài phàn mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa
luận gồm 2 chương, 6 tiết.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung
Chương 2: Ảnh hưởng tư tưởng giáo dục của Khổng Tử đối với đổi mới giáo
dục hiện nay ở Việt Nam

ữạng ừong chiến ừận mà có quyền lực đã ỷ vào đó để chiếm ruộng đất công thành tư,
một số khác là nhà buôn giàu có đã giành tiền để mua ruộng đất, một số khác nữa là
những người nghèo khổ đã tập họp nhau lại để tiến hành khai khẩn mộng hoang và ừở
thành chủ sở hữu lớn về mộng đất. .. Tình hình ừên, một mặt, đã làm cho chế độ “tỉnh
điền” dần tan rã, chế độ tư hữu từng bước được hình thảnh và được nhà nước thừa
nhận, mặt khác, đã hình thành trong xã hội một giai cấp mới - giai cấp địa chủ. Giai
cấp này vừa giàu có về kinh tế, vừa đòi hỏi về quyền lực chính trị. Họ tham gia vào


giai cấp thống trị xã hội, sánh vai cùng giai cấp chủ nô.
Cùng với việc thay đổi quan hệ sản xuất, phương thức thu thuế cũng được thay
đổi. Tmớc đây, theo chế độ “tỉnh điền ”, mộng đất của công xã được chia đều cho
nông nô, nông nô phải nộp phần sản lượng nông phẩm thu hoạch được cho công xã để
nộp lên triều đình. Khi chế độ tư hữu mộng đất phát triển, số lượng mộng đất của nông
dân sở hữu không bằng nhau, nhà nước đã bãi bỏ hình thức thu thuế cũ mà thi hành
chế độ thuế mới, đánh thuế vào từng mẫu mộng. Nước đầu tiên thi hành chế độ thuế
mới là nước Lỗ vào năm 594 T.CN
Đồ sắt ra đời không chỉ thúc đẩy nền nông nghiệp Trung Quốc phát triển mà còn
thúc đẩy nền thủ công nghiệp phát triển. Đồ sắt được sử dụng phổ biến làm cho sự
phân công lao động trong sản xuất thủ công nghiệp đạt tới trình độ cao hơn, chuyên
nghiệp hơn, thúc đẩy một loạt các ngành nghề thủ công nghiệp phát triển, như nghề
luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề mộc, nghề làm đồ gốm. . . Vào cuối thời Xuân
Thu, nước Ngô dựng lò luyện sắt với hơn 300 thợ. Nước Tấn trưng thu sắt để đúc đỉnh
hình. Trong sách Chu Lễ có viết về sự phát triển của các ngành thủ công nghiệp rằng:
“Thợ mộc chiếm bảy phần, thợ kim khỉ chiếm sáu phần, thợ thuộc da chiếm năm
phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần. . . ” [2, 25].
về mặt kinh tế, sự phát triển đa dạng của nhiều ngành nghề thủ công đã có ý
nghĩa tích cực trong việc giải phóng sức lao động, góp phần phá vỡ nền kinh tế thuần
nông, nâng cao đời sống của nhân dân Trung Quốc thời cổ đại, nhưng về mặt chính trị,
mặc dù số thợ thủ công nghiệp đông nhưng do trình độ còn thấp nên họ chưa có ảnh

được duy trì như trước. Thiên tử nhà Chu hầu như không còn quyền uy gì đối với các
nước chư hầu. Các lãnh chúa nhỏ và vừa xưa nay vẫn dựa vào quyền uy của Thiên tử
thì giờ đây đã trở nên thất vọng, không còn muốn phụ thuộc vào Thiên tử nữa. Nhiều
nước chư hầu mượn tiếng khôi phục lại địa vị tông chủ của nhà Chu đã đưa ra khẩu
hiệu “tôn vương bài di”, nhưng thực chất là mưu đồ lợi ích cá nhân, mở rộng thế lực
và đất đai, thôn tính nước nhỏ, tranh giành địa vị bá chủ thiên hạ đã đua nhau xuất
binh đánh nhau suốt mấy trăm năm. Thời Xuân Thu có khoảng 242 năm nhưng xảy ra
tới 483 cuộc chiến tranh lơn nhỏ. Đầu thời Tây Chu có hàng ngàn nước, đến cuối thời
Xuân Thu chỉ còn hơn một ừăm nước. Trong đó có những nước hùng mạnh nhất thời


bấy giờ thay nhau làm bá chủ thiên hạ như nước Tề, Tấn, Sở, Tống, Ngô, Việt, Tần.
Để tập trung tất cả tài lực và vật lực cho các cuộc chiến tranh, các quốc gia này đều thi
hành chính sách “bá đạo ” dựa ừên sức mạnh và ra sức bóc lột nhân dân và các nước
khác, điều này hoàn toàn khác với các chính sách nhân nghĩa “vương đạo ” của thánh
nhân xưa. Chính sách “bá đạo ” đã làm cho đời sống nhân dân hết sức khổ cực.
Người dân phải tham gia quân đội thực hiện các cuộc chinh phạt của các tập đoàn quý
tộc, đồng thời phải chịu sưu cao thuế nặng, phu phen, lao dịch nặng nề. Thiên tai
thường xuyên xảy ra, nạn cướp bóc lại hoành hành khắp nơi. Đồng ruộng bỏ hoang,
cuộc sống nhân dân trăm bề khốn khổ.
Cùng với các cuộc thôn tính lẫn nhau của các quốc gia thì ngay bên trong mỗi
quốc gia cũng nổ ra không ít các cuộc tranh giành quyền lực và đất đai giữa quý tộc
với nhau. Điển hình là nước Tấn, năm 403 (T.CN) có ba dòng họ lớn là Hàn, Ngụy,
Triệu đã nổi lên bỏ vua Tấn, dựng lên ba nước là Hàn, Ngụy, Triệu.
Hậu quả của những cuộc tranh giành, thôn tính, chinh phạt lẫn nhau của tàng lớp
quý tộc đã dẫn tới sự diệt vong của hàng loạt các nước chư hầu nhỏ, đạo đức xã hội bị
suy đồi, các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, mâu thuẫn giai cấp ừong xã hội trở nên
sâu sắc, kể cả mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và nhân dân cũng như giữa giai cấp
thống trị với nhau, làm cho xã hội ngày càng them rối loạn. Lễ nghĩa nhà Chu bị phá
hoại, đặc biệt những nghi lễ chặt chẽ, tôn nghiêm trước đây đã từng góp phàn bảo vệ

được hưởng vô số đặc quyền đảm đương những nhiệm vụ của các Thiên Tử, chư hầu,
khanh đại phu. Nhưng đến thời Xuân Thu, tình hình có khác. Thành thị đã có một cơ
sở kinh tế tương đối độc lập, từng bước tách ra khỏi chế độ thành thị thị tộc, thành
những đơn vị khu vực của tầng lớp địa chủ mới lên. Đó là hiện tượng trong Kinh Thi
nói: “Hai đô thi sánh nhau trong nước ”. Sự phát triển của sức sản xuất, kinh tế phát
triển đã tác động mạnh mẽ đến hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai tàng của xã
hội. Nếu như vào đầu thời Chu, “đất đai ở khắp dưới gầm trời này không đâu không
phải là đất của nhà vua, người dân nào cũng là bề tôi của vua ” (Kinh Thi - Chu
Tụng) thì nay cái quyền sở hữu tối cao về ruộng đất và dân ấy đã bị một lớp người
mới lên chiếm làm tư hữu. Họ là những người bình dân có công trong chiến trận mà
trở nên có quyền lực, ỷ vào quyền đó đã bao chiếm ruộng đất công và biến thành


ruộng hữu, một số người khác là nhà buôn giàu có đã dành tiền mua ruộng đất và mua
chức tước, bước vào thang bậc của xã hội, một số người khác do bản thân hoặc tập
họp được những người nghèo khổ tiến hành phát hoang, khai phá ruộng đất mới và trở
thành người chủ sở hữu lớn về ruộng đất, . . . Tất cả họ họp lại thành giai cấp địa chủ,
vừa giàu có về kinh tế, vừa đòi hỏi quyền lực về chính trị. Họ tham gia vào giai cấp
thống trị xã hội, sánh vai cùng giai cấp chủ nô.
Đến cuối thời Xuân Thu - Chiến Quốc, do chiến ừanh khốc liệt mà giai cấp quý
tộc do được nuôi dưỡng trong điều kiện khá thuận lợi đã mất đi tính tiến bộ, tính tranh
đấu. Giai cấp này ngày càng mục nát, hủ bại, nhân tài ngày càng ít. Chính vì vậy mà
đến thời Chiến Quốc, vua các nước thường bắt giết các quý tộc. Chế độ tông pháp nhà
Tây Chu đi đến chỗ suy kiệt.
Những hiện tượng trên cho thấy những tôn ti trật tự được hình thành từ thời Tây
Chu theo thang bậc từ ừên xuống dưới, đối với đương thời chỉ còn là danh nghĩa, hình
thức. Trong thực tế ít người có ý thức tuân thủ địa vị và danh phận đã quy định.
Những thang bậc trong xã hội đang đứng trước những thử thách của sự biến lịch sử.
Chính trong thời đại lịch sử đầy biến động của thời kì Xuân Thu - Chiến Quốc
đã đặt ra cho các nhà tư tưởng những dấu hỏi lớn về mặt triết học, chính trị, luân lý

Một vài nét về Khổng Tử
Khổng Tử (551 - 479 T.CN) là một nhà tư tưởng, nhà giáo dục vĩ đại trong lịch

sử, là người sáng lập phái Nho gia. Ông có công rất lớn trong việc chỉnh lí, nghiên cứu
và truyền bá văn hóa cổ Trung Quốc. Tư tưởng và học thuyết của ông đã cống hiến
cho nền văn hóa Trung Quốc nói riêng và nền văn minh nhân loại nói chung những giá
trị bất hủ.
Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người ấp Trâu nước Lỗ cuối thời Xuân
Thu ( làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông ngày nay). Cha là Thúc
Lương Ngột, làm quan võ ở nước Lỗ, từng đảm nhiệm chức đại phu Trâu ấp. Mẹ là
Nhan Thị. Xuất thân trong một gia đình nghèo khó, quý tộc đã sa sút, lại mồ côi cha từ
bé, lúc mới lên ba tuổi, mười bảy tuổi mất mẹ, nên phải làm nhiều nghề, đảm đang,
tháo vát.
Khổng Tử từ nhỏ đã thông minh, hiếu học. Trong các trò chơi tuổi thơ, Khổng


Tử thường bày các ừò tế lễ, bắt chước nghi lễ cứng tế của người lớn. Đến năm mười
một tuổi từng học Chu lễ với Lỗ Thái Sư. Đến năm hai mươi tuổi đã nắm vững nhiều
tri thức văn hóa, được ca ngợi là “bác học hiểu lễ” (học rộng chuộng lễ nghi). Khổng
Tử đã từng làm tướng lễ (giúp việc cúng tế lễ nghi) và theo nghề “Nho
Năm 517 T.CN, Khổng Tử 35 tuổi, nước Lỗ xảy ra nội loạn, ông rời Lỗ đến Tề
làm gia thần cho quý tộc Cao Chiên Tử. Được họ Cao tiến cử. Vài năm sau, ừong
hàng đại phu nuớc Tề có kẻ muốn hại Khổng Tử, ông bèn rời nước Tề trở về Lỗ.
Đương thời, nước Lox đứng trước sự rối loạn về chính trị, giai cấp quý tộc tranh
quyền đoạt vị. Khổng Tử không muốn làm quan chỉ chuyên tâm vào chỉnh lý thư tịch
văn hóa như Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch. . . Đồng thời mở trường dạy học, thu nhận học
trò, nỗ lực trấn hưng sự nghiệp giáo dục.
Khổng Tử là người sáng lập Nho gia. Ông kế thừa tiền nhân, phát huy quan điểm
của đạo nhân, lấy quan niệm đạo đức làm trung tâm ừong học thuyết xây dựng triết
học đạo nhân, cũng tức là triết học nhân văn mang tính nhân bản chủ nghĩa. Hoài bão

Tử đã Bình dân hóa giáo dục.
Là người đàu tiên mở trường tư và mở với quy mô lớn, có chỗ nội trú và phòng
đọc sách cho học ừò, Khổng Tử luôn mở rộng cửa trường đón nhận mọi người với
quan điểm cực kì tiến bộ:
“Hữu giáo vô loại ” - quyền được giáo dục là quyền của mọi người không phân
biệt đẳng cấp, thành phần xã hội [18, 38].
Với chúng ta hiện nay, điều này quá bình thường, nhưng thời Khổng Tử thì đó
quả là một quan điểm cách mạng tận nền móng. Ngay ở Âu Mỹ mà mãi đến 1850 mới
mở cửa giáo dục cho toàn dân [9, 30].
Như vậy, theo quan điểm của Khổng Tử, văn hóa vốn nằm “trên chop cao” của
xã hội mà chỉ có tầng lớp quý tộc thời bấy giờ mới được hưởng, đã chuyển xuống cho
mọi tầng lớp xã hội, bằng con đường giáo dục.
Và bằng con đường giáo dục theo quan điểm bình dân hóa ấy, trình độ dân trí
được nâng lên.
Trên thực tế đã có những học trò nghèo khó đến xin học. Khổng Tử đều nhận
dạy. Ông không phân biệt người giàu kẻ nghèo, ai xin học, muốn dâng vật gì làm lễ
nhập môn, dù chỉ là chục chiếc nem, ông cũng vui nhận [18,7].


Khổng Tử cũng không để ý đến quá khứ của người học. Một thanh niên ở làng
Hồ Hương xin đến học, ông nhận; các môn sinh cũ có vẻ ái ngại, vì làng ấy nổi tiếng
là “khó dạy Khổng Tử bảo với môn sinh: “Người ta lẩy lòng trong sạch mà đến với
mình thì mình vì tẩm lỏng đó mà thu nhận người ta. Còn việc cũ của người ta ra sao,
đừng nghĩ tới”. [18, 27].
Trước Khổng Tử, trong mỗi xóm hai mươi lăm nhà có một trường học, gọi là
“thục”; mỗi thị trấn gồm 500 nhà có một trường học cao hơn gọi là “tường”; trong
mỗi châu gồm 2500 nhà có một trường cao hơn nữa gọi là “tự”; tại kinh đô mỗi nước
có một trường cao hơn cả gọi là “học”. Đó là những trường công lập; thầy giáo cũng
do triều đình bổ nhiệm, học sinh đa số là những con em tàng lớp quý tộc. Trong lịch
sử, trước thế kỉ (VI TCN) không thấy có một trường nào thu nhận học sinh từ mọi

Giáo dục không thể tách rời chính trị.
về giáo dục, Khổng Tử chủ trương học để nên người có văn, có chất để làm
quan, để mang tài ra giúp nước, xây dụng một xã hội có tôn ti trật tự. Nghĩa là mục
đích cuối cùng của sự học là để tham gia chính trị. Do vậy mà Khổng Tử luôn chú
trọng đến sự học để cứu đời, cốt đào tạo những con người có đức hạnh, có đàu óc sáng
suốt, có liêm sỉ để làm chính trị, cải tạo xã hội. Đồng thời, Khổng Tử phê phán lối học
thoát ly cuộc sống, học không vì đời là cái học vô ích “Học hết ba trăm bài Kỉnh Thỉ,
được vua giao cho việc trị dãn mà không được việc, sai sứ đi bổn phương mà không
biết ứng đối, thì tuy học nhiều mà có ích gì đâu ? ”. Trái lại phải biết hành đạo giúp
đời!
Khổng Tử chú ừọng đến sự học để cứu đời, cốt đào tạo những con người có đức
hạnh, có đầu óc sáng suốt, có liêm sỉ để làm chính trị, cải tạo xã hội. Đạo đức hóa
giáo dục: Làm cho giáo dục thống nhất với đạo đức.
Khổng Tử muốn xây dụng một xã hội có tôn ti ừật tự và cái tôn ti đó phải dựng
trên một nền tảng đạo đức, trước hết là người trên phải làm gương cho kẻ dưới: “quân


quân; thần thần; phụ phụ; tử tử; phu phu; thê thê ”.
Ngay chữ “quân tử” ừong quan niệm của Khổng Tử cũng đã mang một nội
dung mới, khác hẳn nghĩa thông dụng thời bấy giờ. Quân tử, theo Khổng
Tử là người có tài, có đức, chứ không phải chỉ là người có địa vị cao như người ta
thường nghĩ.
Ở một góc độ nào đó, có thể nói Khổng Tử muốn thực hiện một thứ b ình đẳng
dựa trên chân giá trị của con người. Cái quyết định địa vị của mỗi người ch ính là giá
trị thực của con người đó.
Khổng Tử tin rằng người dân một nước mà biết hiểu dễ - quan hệ xã hội đầu đời
giữa người với người - thì nước đó sẽ có trật tự, trị an. Cho nên ông rất chú ừọng đến
chữ “hiếu Khổng Tử quan niệm chữ hiếu có nhiều nội dung mà tùy theo trình độ của
mỗi người, ông giảng giải một cách khác nhau.
“Nhà sư phạm chân chỉnh, không chấp nhận một xã hội không có kỉ cương”

lòng, nghĩa là “quên mình” vì người, là TRUNG THÀNH vậy.
Suy ở ừong lòng mình mà đo lường đến lòng người thời biết được lòng người
cũng như lòng mình mà đối đãi bằng một cách bình đẳng, bác ái. Ấy là nghĩa chữ Thứ
mà chính là cái “dụng” của chữ Nhân vậy. Nói cách khác, theo lời Khống Tử “Thứ” là
“việc mà mình không thích, chớ áp đặt cho người”.
Như vậy, mục tiêu giáo dục của Khổng Tử là đào tạo cho con người vừa DŨNG,
vừa TRÍ, vừa NHÂN - người quân tử.
“Bồi dưỡng những chỉ sĩ thương người có biết tháo cao thượng và những quân
tử Nho gia có tri thức uyên bác, đó là mục đích giáo dục mà Khổng Tử rất nhấn
mạnh” [24, 232].
Ông kể rằng kẻ sĩ phải có chí truy tìm chân lý, không xấu hổ vì phải ăn đói mặc
rách, ngay cả tính mạng thậm chí cũng có thể coi nhẹ, “sáng nghe được đạo, chiều
chết cũng vui” [18, 8].
Thứ hai: Học để làm quan: Chiều sâu trong mục đích giáo dục của Khổng Tử
không phải chỉ là “biết”, chỉ là Tri thức, mà còn phải là “làm”, phải “hành đạo”.
Người quân tử phải học để thấu đạo (trí đạo). Thấu đạo rồi mới hành đạo, giúp đời,
cứu người. Tri chân, hành thiện: biết cho thấu triệt, sống cho tuyệt vời. Khổng Tử phê
phán lối học mà không hành: “Người xưa thận trọng lời nói, sợ sẽ xẩu hổ nếu nói mà


không làm được” [4, 22].
Tức là tư tưởng chính trị hóa giáo dục mà ta đề cập ở phàn trên
Trở lại với khái niệm Trung ở trên ta có thể nói thêm, đối với Khổng Tử “trung”
là đạo đức thực hành, vừa hướng nội, vừa hướng ngoại. Hướng nội chỉ sự trung thành,
trung thực, trung trinh; hướng ngoại chỉ sự hết lòng, hết sức, hết mình, vì người, vô tư.
Như vậy để đạt chữ trung, kẻ sĩ không thể không thực hành. Chính hành động mới bộc
lộ lòng trung.
Còn chữ “Thứ’ ?. Chữ “Thứ” cũng được Khổng Tử định ranh giới rõ ràng.
Trong luận ngữ, thiên Vệ Linh Công, có đoạn đối thoại lí thú giữa Khổng Tử và Tử
cống, học trò của ông, như sau: “Tử cổng hỏi: có câu nói nào có thể suốt đời theo

Tóm lại, mục đích giáo dục của Khổng Tử là đào tạo con người tài, đức song
toàn để xả thân đem lại an bình cho thiên hạ. Đó là mẫu người hành động vì đời - mẫu
người quân tử: là người rất tốt như Phan Bội Châu đã phân tích: Vì cớ sao một người
rất tốt gọi là quân tử? Bởi người ấy đạo đức đã cao, tài năng cũng giỏi, nhân cách lại
rất hoàn toàn, nếu đem ra gánh việc xã hội thời đáng là một người chủ, nên có chữ
“quân Quân nghĩa là ông chủ. Neu đem ra gánh việc loài người thời cung cấp được
việc cho loài người cũng như con thờ cha, nên có chữ “tử”. Tử nghĩa là con. Góp xắp
cả hai ý nghĩa như trên ấy mới đặt tên là “quân tử” [3, 28].
Ngày nay, trong tâm thức của nhiều người, quân tử vẫn là mẫu người lý tưởng,
tài đức song toàn và phẩm chất cao thượng. Có thể so sánh “quân tử” với mẫu người
“đại trượng phu ” của Mạnh Tử.

1.2.3

Nội dung giáo dục của Khổng Tử
Nội dung dạy học và giáo dục của Khổng Tử rất phong phú và gắn chặt với tiến

trình TU THẦN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ. Muốn thiên hạ thái bình
thì trước đó quốc gia phải thịnh trị; muốn quốc gia thịnh trị thì trước đó nhà nhà phải
ấm êm; muốn gia đình ấm êm thì trước đó mọi người phải tu thân mình. Phật giáo
cũng đồng một quan điểm như vậy. Đức Đạt Lai Lạt Ma từng nói: “Muốn đem lại hòa



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status