LUẬN án TIẾN sĩ cơ sở KHOA học và THỰC TIỄN của CÔNG CUỘC đổi mới KINH tế ở VIỆT NAM - Pdf 39

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam, được chính thức khởi động từ Đại
hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đến nay đã trải qua gần 10
năm, đã đạt được những thành tựu ban đầu rất quan trọng, đóng góp
quyết định vào việc đưa nền kinh tế cơ bản ra khỏi khủng hoảng, hoàn
thành vượt mức và toàn diện kế hoạch năm 1991- 1995, đạt được mức
tăng trưởng cao và lâu dài nhất từ trước đến nay.
Công cuộc đổi mới về thực chất là một cuộc cải cách mang tính chất
chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mang nặng tính
quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Công cuộc đổi mới bao hàm những thay đổi rất
cơ bản, sâu sắc, với một khối lượng công việc rất đồ sộ, phức tạp, mới
mẻ và liên quan đến hầu hết các mặt của hoạt động kinh tế, xã hội.
Cho đến nay, việc nghiên cứu một cách có hệ thống về công cuộc
đổi mới ở nước ta vẫn còn là vấn đề đang đặt ra để đáp ứng cho nhu
cầu xây dựng các chính sách vĩ mô cho công cuộc đổi mới trong thời
gian đến. Vì những lý do nêu trên, việc phân tích công cuộc đổi mới ở
Việt Nam dưới giác độ phương pháp luận nhằm rút ra những bài học
thành công và không thành công của giai đoạn đã qua và đề xuất những
kiến nghị cho giai đoạn tới là một việc rất cần thiết.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề về phương pháp luận, cơ sở khoa học và
thực tiễn của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Thông qua phân tích so
sánh, đối chiếu với công cuộc cải cách ở các nước khác, rút ra những
1


mặt hợp lý và chưa hợp lý về phương pháp luận trong công cuộc đổi
mới ở Việt Nam cho đến nay, làm sáng tỏ mối quan hệ giữa tính phổ

- Đánh giá một cách tổng thể hiện trạng đổi mới kinh tế ở nước ta,
làm rõ các kết quả đã đạt và các mặt tồn tại trong tiến trình đổi mới hiện
nay.
- Đề xuất các nội dung cơ bản trong xây dựng lộ trình đổi mới và
phương pháp phân tích sử dụng trong xây dựng lộ trình đổi mới.
- Nêu các kiến nghị liên quan đến tiến trình đổi mới kinh tế ở nước
ta thời gian tới.
6. Nội dung luận án
a) Tên luận án: "Cơ sở khoa học và thực tiễn của công cuộc đổi
mới kinh tế ở Việt Nam"
b) Kết cấu luận án: Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận
án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học và thực tiễn của công cuộc đổi mới
kinh tế ở Việt Nam.
Chương 2: Quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam từ sau Đại hội VI
đến nay
Chương III: Triển vọng đổi mới kinh tế ở Việt Nam trong thời gian
tới và một số kiến nghị
Tài liệu tham khảo

3


Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
CỦA QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM

I. MỘT SỐ NÉT TỔNG QUÁT VỀ CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ
Các mô hình kinh tế được xây dựng trên cơ sở các lý thuyết kinh tế.
Các lý thuyết kinh tế thường không phải là các quy luật chính xác như

lập hệ thống pháp lý để duy trì quyền tự do thương mại và tài sản tư
nhân. Mối quan hệ tâm chính của các nhà kinh tế học cổ điển không
phải là vấn đề phân bổ nguồn lực hay lý thuyết về cơ chế giá, mà là sự
hình thành thặng dư và tăng trưởng kinh tế.
Karl Marx (1818- 1873). Theo cách phân loại của nhiều tác giả hiện
nay [40] thì K.Marx thuộc vào nhóm các nhà kinh tế cổ điển. Vào giữa
thế kỷ 19, kinh tế thị trường không còn phát triển êm đềm như giai đoạn
đầu. Các học thuyết kinh tế trước đó không đủ giải thích các vấn đề kinh
tế xã hội nảy sinh. Marx đã xây dựng một học thuyết mới đánh dấu bằng
bộ "Tư bản" (1857-1858). Marx đã phát triển tiếp tục lý thuyết giá trị của
Ricardo và xem xét lại các lý thuyết kinh tế trước đó. Marx được thừa
nhận như một nhà kinh tế học cổ điển lỗi lạc, có ảnh hưởng sâu sắc tới
sự phát triển của kinh tế học, người có công lao to lớn trong việc phát
triển phép biện chứng vào kinh tế và xây dựng học thuyết về chủ nghĩa
cộng sản khoa học. ứng dụng học thuyết Marx về sau này liên quan đến
xây dựng mô hình kinh tế kế hoạch tập trung sẽ nói ở phần sau. Một
điều đáng nói ở đây khi so sánh với kinh tế học hiện đại, do các hạn chế

5


của lịch sử thời đó, các đánh giá về sản xuất xã hội hình thành giá trị
của Marx đã đánh giá thiên về các hoạt động sản xuất ra sản phẩm vật
chất mà đánh giá chưa đầy đủ giá trị của các hoạt động phi sản xuất vật
chất. Điều đó liên quan đến toàn bộ quan điểm và cách phân tích kinh tế
sau này của các nước kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
Năm 1870 được coi là thời điểm kết thúc của kinh tế học cổ điển và
cũng là thời điểm khởi đầu của kinh tế học tân cổ điển. Mặc dù có sự
khác biệt quan trọng giữa kinh tế học cổ điển và kinh tế học tân cổ điển,
nhưng khái niệm "cổ điển" vẫn chưa được hiểu và sử dụng một cách

và thoả đáng các khía cạnh khác nhau của thực tế kinh tế dẫn đến cuộc
Đại suy thoái kinh tế năm 30. Sự ra đời học thuyết Keynes đánh dấu một
giai đoạn mới của sự phát triển các học thuyết kinh tế để giải thích và
tìm các giải pháp để giải quyết các khó khăn của các nền kinh tế thị
trường trong giai đoạn phát triển mới. JohnMaynard Keynes (1883-1946)
với tác phẩm "Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ" đã đặt
nền móng cho lý thuyết kinh tế vĩ mô hiện đại. Thuật ngữ "tổng quát"
hàm ý việc Keynes cho rằng lý thuyết cổ điển chỉ là một trường hợp
riêng của "lý thuyết tổng quát", vì giả thiết về toàn dụng lao động của lý
thuyết cổ điển là trường hợp riêng và Keynes khảo sát cho cả trường
hợp có thất nghiệp.
Keynes đã đưa phương pháp phân tích vĩ mô vào trong phân tích
kinh tế, dựa trên các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và mối quan hệ giữa chúng.
Chẳng hạn, thất nghiệp không chỉ xác định dựa trên thị trường lao động
mà còn liên quan đến sản xuất và thu nhập. Cách phân tích như vậy

7


ngày nay trở thành quen thuộc trong kinh tế vĩ vô chính là công lao của
Keynes người đã đưa lý thuyết kinh tế vĩ mô vào trong kinh tế học.
Mô hình nền kinh tế xây dựng theo học thuyết Keynes so với mô
hình trước Keynes có sự thay đổi cơ bản, đó là xuất hiện thêm vai trò
Nhà nước trong điều tiết sự vận hành nền kinh tế. Theo Keynes, sản
xuất phát triển nhưng tiêu dùng là có giới hạn và do đó kìm hãm sản
xuất. Chu trình Keynes là: thúc đẩy tăng cầu (chi tiêu cho đầu tư, chi
tiêu cho tiêu dùng cuối cùng…) sẽ dẫn đến tăng cung, tăng cung sẽ tăng
thu nhập và tăng thu nhập sẽ thúc đẩy tăng cầu chu trình sau. Nhà nước
sử dụng ngân sách để thúc đẩy tăng cầu như hỗ trợ đầu tư, đặt hàng thu
mua, trợ cấp tài chính, trợ cấp tín dụng. Ngân sách đảm bảo điều kiện

Mô hình nền kinh tế của các trường phái sau Keynes khác nhau ở
mức độ và cách thức can thiệp của Nhà nước, nhưng về cơ bản trong
mô hình kinh tế có vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Cách thức can
thiệp khác nhau thể hiện hoặc đề cao vai trò của chính sách tài chính
hoặc đề cao vai trò của chính sách tiền tệ (học thuyết tiền tệ) hoặc cách
thức tiếp cận kết hợp giữa chính sách tài chính và tiền tệ trong mô hình
cân bằng tổng quát. Cho tới thời điểm hiện nay, đã có rất nhiều trường
phái kinh tế học. Nhiều nền kinh tế thị trường hiện nay là kinh tế hỗn
hợp.
1.3. Vai trò của Nhà nước trong kinh tế thị trường
Trong các nền kinh tế thị trường, vai trò quản lý của Nhà nước có xu
hướng tăng dần lên cùng với trình độ xã hội hoá của sản xuất và sự phát
triển của nền kinh tế. Nhà nước đóng vai trò "khiêm tốn" trong thời kỳ
đầu của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh. Bước sang giai đoạn tư bản
9


phát triển, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản Nhà nước. Nhà nước
trực tiếp chi phối những tập đoàn tư bản lớn và thông qua các chính
sách kinh tế, các thể chế tài chính và các tổ chức kinh tế để khống chế
thị trường.
Trước những thử thách của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên
quy mô toàn cầu và dưới áp lực của cuộc chay đua kinh tế giữa hai hệ
thống kinh tế XHCN và TBCN trong các thập niên vừa qua, vai trò và tác
động của Nhà nước đến nền kinh tế nói chung và đến thị trường nói
riêng ngày càng rõ nét và mạnh mẽ, nhất là để thực thi những chính
sách xã hội và gây ảnh hưởng về chính trị trên quy mô quốc gia và quốc
tế để hỗ trợ cho hoạt động kinh tế.
Khi lấy vai trò Nhà nước để phân loại các mô hình kinh tế, người ta
thu được một dải tần khá rộng những kiểu kinh tế thị trường khác nhau,

• Động lực lợi nhuận tạo ra môi trường thuận lợi dẫn đến nguy cơ vi
phạm luật pháp, thương mại hoá các giá trị đạo đức và đời sống tinh
thần.
• Sự cạnh tranh không tổ chức dẫn đến các mất cân đối vĩ mô và
dẫn đến lạm phát, thất nghiệp chu kỳ;
• Cạnh tranh dẫn đến độc quyền và độc quyền hạn chế nghiêm
trọng các ưu điểm của kinh tế thị trường;
• Lợi ích dài hạn, chung của xã hội không được chăm lo;

11


• Tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị tàn phá trong khi các nhu
cầu không khả năng thanh toán tăng lên.
Nhà nước trong kinh tế thị trường đóng vai trò hạn chế các khuyết
tật nêu trên và phát huy các ưu việt của thị trường. Tuy nhiên để làm rõ
vai trò của Nhà nước cần phân loại vai trò Nhà nước theo chức năng
quản lý kinh tế-xã hội và phân loại theo chức năng hẹp hơn trong phạm
vi quản lý kinh tế. Xem R.Wadew [64].
b. Vai trò Nhà nước theo chức năng quản lý xã hội. Với chức
năng quản lý xã hội Nhà nước có các chức năng chủ yếu như sau:
• Bảo đảm an ninh quốc phòng, chủ quyền quốc gia, sự toàn vẹn
lãnh thổ và các điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự phát triển của đất
nước.
• Tạo khung khổ pháp lý cho mọi thành viên xã hội đều được có cơ
hội bình đẳng trong học tập, tìm kiếm việc làm, tạo điều kiện tự do kinh
doanh bình đẳng cho mọi người theo pháp luật;
• Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên:
• Tổ chức việc cung ứng các hàng hoá và dịch vụ công cộng cho xã
hội bao gồm kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xã hội (giáo

hạ tầng kỹ thuật, hiện đại hoá mạng lưới giao thông, kho bãi, bến cảng,
các dịch vụ thông tin, tiếp thị và nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật mới.
Gần đây, cùng với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và quá trình quốc tế
hoá của nền kinh tế, vai trò Nhà nước tăng lên không những trong hoạch
định các chính sách kinh tế mà còn trong bảo đảm giáo dục, đào tạo, y
tế, văn hoá, tức là đầu tư vào con người. Xem M.Gillis và cộng sự [14].

13


3. Huy động vốn cho nền kinh tế phát triển: Mâu thuẫn lớn trong
giai đoạn đầu phát triển của các nước đang phát triển là mâu thuẫn giữa
nhu cầu đầu tư xây dựng lớn với số vốn trong nước ít ỏi. Nhà nước thực
hiện chính sách tiết kiệm, huy động vốn từ nguồn trong nước và ngoài
nước đóng một vai trò quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh
tế.
4. Duy trì ổn định và tăng trưởng kinh tế: Ngoài ba chức năng mang
tính đặc thù kể trên đối với các nước đang phát triển ra, Chính phủ có
chức năng phổ biến trong mô hình kinh tế thị trường là duy trì ổn định và
tăng trưởng của nền kinh tế, thông qua các chính sách điều tiết vĩ vô.
Nếu kết hợp được các mặt mạnh của kinh tế thị trường với các chức
năng đúng và cần thiết của Nhà nước, nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh,
xã hội sẽ ổn định và đời sống của nhân dân sẽ được cải thiện. Đó là mô
hình của các "con rồng" Châu Á. xem [68]. Đó chính là mục tiêu công
cuộc đổi mới cần đạt tới.
Mặc dù Nhà nước có vai trò khắc phục các nhược điểm của thị
trường, nhưng bản thân bộ máy Nhà nước cũng có nhiều khuyết tật. Có
thể kể ra một số điểm chính sau đây:
• Bộ máy tăng lên không ngừng và xã hội phải chi phí lớn cho nó
hoạt động;

kế hoạch tập trung tan rã ở Liên Xô và các nước Đông Âu.
2.3. Vai trò Nhà nước trong kinh tế kế hoạch tập trung: Nếu như
vai trò trong kinh tế thị trường là giới hạn trong một số chức năng và
16


phạm vi nhất định thì trong kinh tế kế hoạch tập trung vai trò Nhà nước
là không giới hạn và tuyệt đối. Đối với mô hình kế hoạch hoá tập trung
cao độ như ở Liên Xô trước và sau chiến tranh thế giới lần thứ II, thì
Nhà nước thay thế hầu như các chức năng của thị trường như hình
thành giá cả, phân phối tài nguyên và phân phối tiêu dùng. Trong thời kỳ
các năm 70 đến cuối các năm 80 Nhà nước có giảm bớt mức độ tập
trung trong kế hoạch. Tuy nhiên vai trò Nhà nước vẫn quyết định tất cả
các hoạt động kinh tế. Cũng chính vì thế nên các chức năng quản lý kinh
tế vĩ mô và quản lý kinh doanh sản xuất của bộ máy Nhà nước đã không
còn phân biệt mà hoà nhập vào nhau. Điều đó đã dẫn đến tình trạng
quan liêu và độc quyền của mô hình kinh tế kế hoạch tập trung.
Mô hình trên đã được vận dụng lâu nhất và cao độ ở Liên xô. Ở các
nước Đông Âu, mô hình đó được cải biên, mức độ hoạt động của kinh tế
tư nhân và thị trường có được mở rộng hơn. Ở Việt Nam mức độ kế
hoạch hóa tập trung thấp hơn, kinh tế gia đình, kinh tế tư nhân vẫn hoạt
động ở quy mô hạn chế. Xem Komai[42], Lê Đăng Doanh[44].
3. Các chỉ dẫn của Mác Lênin được vận dụng trong công cuộc
đổi mới
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã nhận thức được những chỉ dẫn
quan trọng từ các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin. Các Mác
trong "Hệ tư tưởng Đức" đã chỉ rõ "Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản
không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý
tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản
là sự vận động hiện thực, nó xoá bỏ trạng thái hiện nay"[18]. Như vậy,

[18]. Đào Xuân Sâm cho rằng các quan điểm của Lênin là triệt để cách

18


mạng như: "Người cộng sản và Nhà nước vô sản phải làm nhà buôn,
chấp nhận trao đổi hàng hoá tự do, đặt xí nghiệp Nhà nước trên cơ sở
buôn bán và tư bản chủ nghĩa…"[22].
Các tư tưởng đó của Lênin đã là những cơ sở phương pháp luận
và tư tưởng chỉ đạo quan trọng để Đảng ta đề xuất những quan điểm đổi
mới phù hợp với thực tế của nước ta như khuyến khích lợi ích vật chất
cá nhân, xoá bỏ ngăn sông cấm chợ, đặt doanh nghiệp Nhà nước trên
nền tảng hạch toán kinh tế, vận dụng hình thức tư bản Nhà nước…
4. So sánh hai mô hình kinh tế và quá trình chuyển đổi
4.1. Quan điểm Komai[42]
Về cơ chế quản lý: Theo Komai, có thể phân lại các cơ chế quản lý
hay điều phối các nền kinh tế ra các loại sau:
1. Điều phối hành chính trực tiếp (IA)
2. Điều phối hành chính gián tiếp (IB)
2. Điều phối thị trường khống chế vĩ mô (IIA).
3. Điều phối thị trường khống chế vĩ mô ((IIB).
Điều phối hành chính trực tiếp IA và điều phối hành chính gián tiếp
IB đều dựa vào quan hệ lệ thuộc cấp trên, cấp dưới, sử dụng các mệnh
lệnh hành chính, thông qua dòng thông tin ngành dọc và biện pháp hành
chính để khống chế và vận hành nền kinh tế. Sự khác nhau của thể thế
IA và IB là sự khác nhau về biện pháp điều tiết ngành dọc. Trong thể chế
IA, bộ máy hành chính giao cho các doanh nghiệp các chỉ tiêu pháp lệnh
cụ thể về sản xuất. Trong thể chế IB, bộ máy hành chính không thông
qua việc ra lệnh sản xuất trực tiếp như thể chế IA mà thông qua quyền


20


Theo cách phân chia trên thì kinh tế Liên Xô và các nước XHCN
đông Âu trước những năm 60 là thể chế IA. Trong cải cách vào năm
1968 ở Hunggari đã xoá bỏ các biện pháp hành chính trực tiếp nhưng
vẫn sử dụng các biện pháp gián tiếp nên có dạng IB. Thể chế IIA trên
thực tế ngày nay không còn tồn tại. Nó chỉ tồn tại ở thời kỳ đầu của mô
hình kinh tế kiểu Adam Smith. Như vậy Komai thì mô hình IB và IIA đều
không phải là mô hình lý tưởng. Do đó mô hình mục tiêu để cải cách
hướng đến là mô hình IIB.
4.2. Phân loại mô hình theo L.Johanen[40]: Trên thực tế, trước
Komai, L.Johansen cũng đã phân loại các mô hình kinh tế tương tự theo
đặc trưng về các dòng thông tin. Theo L.Johansen, mô hình kinh tế kế
hoạch tập trung cao độ thể hiện ở cấu trúc các dòng thông tin dọc. Mô
hình kinh tế thị trường thuần tuý thể hiện ở cấu trúc các dòng thông tin
ngang, đó là thông tin về thị trường. Mô hình tồn tại trong thực tế là mô
hình kết hợp theo các mức độ khác nhau hai loại trên. Tuỳ thuộc vào ưu
thế của các thông tin dọc hay ngang mà mô hình thiên về điều tiết vĩ mô
qua cơ chế kế hoạch hay qua cơ chế thị trường.

Trung tâm

Đơn
Sơvị đồ
kinh tế

Đơn vị

kinh tế

(IB)

(IIB)

4.3. Chuyển đổi là một quá trình diễn ra trong một thời gian dài:
Phân tích diễn biến chuyển đổi mô hình ở các nước Đông âu vừa
qua, Komai[40] nêu các ý kiến như sau:
Việc thay đổi Chính phủ (như diễn ra ở Tiệp khắc), chưa phải là sự
thay đổi của hệ thống. Quá trình cải cách là một quá trình lịch sử lâu dài.
Quá trình đó phụ thuộc rất nhiều vào điểm xuất phát của quá trình cải
cách, tức là di sản mà hệ thống cũ để lại. Di sản đó bao gồm tổng thể
thực trạng giàu có, tình trạng tài nguyên thiên nhiên, tình trạng nhà
xưởng, máy móc, trình độ trang thiết bị kỹ thuật, trình độ phát triển của
hệ thống thương mại, vận tải, trình độ giáo dục, y tế và bảo hiểm xã hội.
Trình độ bv môi trường cũng là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển
của kinh tế- xã hội. Nền kinh tế của nhiều nước bước vào thời kỳ chuyển
đổi đều ở trong tình trạng khủng khoảng, trì trệ hoặc suy thoái nghiêm
trọng, trình độ trạng bị kỹ thuật bị lạc hậu, kết cấu hạ tầng không được
bảo dưỡng, một bộ phận môi trường bị ô nhiễm hoặc bị tàn phá. Vì vậy,
nhiều nước phải trải qua một giai đoạn ổn định, khôi phục đồng thời với
quá trình cải cách và phát triển.

22


Một số nước phải đối phó với các căng thẳng về kinh tế vĩ mô: lạm
phát, thiếu hụt hàng hoá, dư thừa tiền mặt, mất cân đối ngoại thương và
nợ nước ngoài. Các biện pháp tình thế có thể giảm bớt những mất cân
đối nghiêm trọng nhất; song để giải quyết một cách cơ bản, phải xây
dựng những chính sách và thể chế mới, đồng thời phải cơ cấu lại nền

Bản thân nền kinh tế là một hệ thống phức tạp nên nó cũng tuân thủ
các quy luật cơ bản của lý thuyết hệ thống. Có thể nêu một số quan
điểm hệ thống liên quan đến nhận thức về cải cách kinh tế như sau đây,
xem Nguyễn Văn Quý [21]:
1.1. Quá trình chuyển trạng thái của hệ thống, từ trạng thái xuất
phát đến trạng thái mong muốn là quá trình phức tạp nhất của điều khiển
các hệ thống
a.
Trạng thái
mong muốn
Trạng thái ban đầu
Thời gian chuyển tt
b.
Trạng thái
mong muốn

Trạng thái

24


ban đầu

Thời gian chuyển tt

Hình 1: Quá trình chuyển đổi trạng thái của hệ thống
Các mục tiêu rút ngắn thời gian chuyển trạng thái và mục tiêu duy trì
ổn định (dao động không lớn) là hai mục tiêu mâu thuẫn nhau. Trên hình
3a và 3b là đồ thị về quá trình chuyển trạng thái trong lý thuyết hệ thống
thường gặp. Hình 3b là trường hợp thời gian chuyển trạng thái ngắn hơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status