ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
----------------------
NGUYỄN THỊ SONG HÀ
THƢƠNG NGHIỆP TƢ NHÂN
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số:
60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Nguyễn Thị Nhƣ Hà
Hà Nội – 2008
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần do
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI khởi xướng đã tạo cho kinh tế tư nhân bắt đầu
có điều kiện để phát triển rộng khắp trong cả nước. Cùng với các thành phần kinh
tế khác, kinh tế tư nhân đã góp phần giải phóng sức sản xuất của xã hội, sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực để phát triển sản xuất, lưu thông, từng bước ổn định và
phát triển kinh tế - xã hội.
Trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa, thương nghiệp tư nhân đã được khôi
Minh Châu: Bàn về sự phát triển các trung tâm thương mại ở Việt Nam, Tạp chí
Thương mại, số 3, tr. 3 (2002); Đinh Văn Thành: Thương nghiệp tư nhân - Thực
trạng và giải pháp phát triển, Tạp chí Thương mại, số 10, tr.2 (2002): Nguyễn
Đình Hương, Vũ Đình Bách (đồng chủ biên): Quan hệ thương mại Việt Nam ASEAN và chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội (1999). Ngoài ra còn mốt số bài viết của các tác giả: Phạm Ngọc Kiểm (trường
Đại học Kinh tế quốc dân); Nguyễn Công Nhự; Lê Xuân Bá… cũng đề cập đến
vấn đề này.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học này đã làm rõ được một số
vấn đề lý luận và thực tiễn của kinh tế tư nhân, thương nghiệp tư nhân dưới các
góc độ là một thành phần kinh tế hoạt động trong lĩnh vực thương mại của nền
kinh tế thị trường, những giải pháp để phát triển thương nghiệp tư nhân trong nền
kinh tế chuyển đổi. Song cho đến nay, chưa có một đề tài nghiên cứu nào trình bày
một cách có hệ thống về thương nghiệp tư nhân ở Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO dưới góc độ của
khoa học kinh tế chính trị.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu:
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thương nghiệp tư
nhân ở nước ta, từ đó đề xuất những giải pháp để phát triển thương nghiệp tư nhân
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về thương nghiệp tư nhân trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế.
- Phân tích thực trạng phát triển thương nghiệp tư nhân nước ta trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó đưa ra những đánh giá về thực trạng phát triển
thương nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay.
- Luận giải các quan điểm cần quán triệt, đề xuất những giải pháp phát triển
thương nghiệp tư nhân nước ta trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƢƠNG NGHIỆP
TƢ NHÂN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1. 1. Khái niệm và các loại hình thƣơng nghiệp tƣ nhân
1.1.1. Khái niệm thƣơng nghiệp tƣ nhân và sự phát triển thƣơng nghiệp
tƣ nhân ở nƣớc ta.
1.1.1.1. Khái niệm thương nghiệp tư nhân.
Có thể nói, sự hình thành và phát triển các thành phần kinh tế trong lĩnh vực
thương mại do đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế hàng hoá, nhất là kinh tế thị trường giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá.
Ph.Ăngghen đã khẳng định hai “chức năng” sản xuất và trao đổi là “đường
hoành và đường tung của đường cong kinh tế”. Vì giữa sản xuất và trao đổi
(thương mại) có quan hệ hữu cơ trong quá trình tái sản xuất xã hội. Sự tác động qua
lại giữa sản xuất và trao đổi không dừng lại ở quy mô, mà còn tác động đến trình
độ phát triển của nhau cả về mặt quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.
Trong một nền kinh tế, lưu thông (trao đổi) là một yếu tố, một giai đoạn quá
độ của sản xuất; lưu thông chỉ đơn thuần là sự thực hiện sản phẩm đã được sản
xuất ra với tư cách là hàng hóa và sự thay thế các yếu tố sản xuất để tiếp tục sản
xuất với tư cách là hàng hóa. Nhưng trong quá trình đó lưu thông lại trực tiếp làm
xuất hiện một hình thái mới, đó là hoạt động thương nghiệp. Xét bề ngoài tưởng
như lưu thông tách biệt với sản xuất, nhưng thực chất lưu thông nói chung, hoạt
động thương nghiệp nói riêng chỉ là một trong các khâu của quá trình tái sản xuất.
Ở mỗi trình độ khác nhau, hoạt động thương nghiệp trong các nền kinh tế
cũng khác nhau. Khi nền sản xuất ở trình độ thấp, nhỏ lẻ, phân tán thì hoạt động
trao đổi còn hạn chế ở phạm vi hẹp, hoạt động thương nghiệp cũng còn ở tình trạng
manh mún với quy mô nhỏ. Khi trình độ xã hội hóa sản xuất cao thì đòi hỏi thương
Thương mại ngày nay được hiểu là ngành kinh tế có chức năng tổ chức quá
trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ; thực hiện chức năng tiếp tục sản xuất trong khâu
lưu thông, gắn sản xuất với thị trường. Hiện nay, tư nhân đầu tư vào nhiều lĩnh vực
của khu vực kinh tế trong đó có thương mại. Hoạt động của kinh tế tư nhân trong
lĩnh vực thương mại được thực hiện dưới hình thức thương mại tư nhân, cho nên
có thể hiểu thương nghiệp tư nhân là hình thức vận động của nền kinh tế tư nhân
trong lĩnh vực thương nghiệp dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân về vốn và các điều
kiện kinh doanh.
1.1.1.2. Sự phát triển của thương nghiệp tư nhân ở nước ta.
Trước đây, hoạt động thương nghiệp ở nước ta chủ yếu do thương nghiệp
quốc doanh và hợp tác xã mua bán nắm giữ tỷ trọng lớn trên thị trường. Bộ phận
thương nghiệp tư nhân chủ yếu hoạt động ở thị trường “ngầm”.
Thời kỳ trước đổi mới (1986), ở nước ta có gần 5000 doanh nghiệp thương
nghiệp quốc doanh, được phân bố khắp các địa bàn và kinh doanh mọi ngành hàng;
lực lượng lao động rất lớn, khoảng 442,2 nghìn người. Cơ sở vật chất kỹ thuật
cũng như vốn của những doanh nghiệp này hoàn toàn được Nhà nước bao cấp. Tuy
nhiên, cơ chế tập trung bao cấp đó đã làm cho các doanh nghiệp thương nghiệp
quốc doanh rơi vào tình trạng ỉ lại, làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả. Để sắp xếp và đổi
mới lại hoạt động của doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh, ngày 7/3/1994 Thủ
tướng Chính phủ ra Quyết định 90/TTg, sau đó đến tháng 5/1995 cả nước chỉ còn
1351 doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh. Số này so với 4700 doanh nghiệp
năm 1991 đã giảm trên 3000 doanh nghiệp.
Trước thời kỳ đổi mới doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh chiếm ưu thế
và giữ vai trò chi phối (nắm trọn bán buôn, chi phối 80% tổng mức bán lẻ xã hội),
nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại các hình thức thương nghiệp tư nhân, chỉ có điều
khi đó thương nghiệp tư nhân là đối tượng cần “cải tạo” hoặc bị phủ nhận. Vai trò
của thương nghiệp tư nhân chỉ được nhìn nhận đúng khi Đảng ta có chủ trương
phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó khuyến khích kinh tế tư
Từ năm 1960 đến năm 1975 ở miền Bắc kinh tế tư nhân không được thừa
nhận. Trên thực tế nó vẫn còn tồn tại buôn bán nhỏ lẻ, chủ yếu bộ phận kinh tế này
hoạt động “ngầm”, hoạt động chui.
Sau ngày miền Nam giải phóng, Nghị quyết số 254/NQ-TW của Đảng thừa
nhận kinh tế miền Nam là kinh tế nhiều thành phần trong đó tư bản tư nhân là
thành phần hợp pháp. Nhưng đến 16/2/1978 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị
định số 15/TTg xem việc “xoá bỏ kinh tế tư nhân là vấn đề nóng bỏng trước mắt
cần tập trung sức càng sớm càng tốt”, phương thức cải tạo được tiến hành tương tự
như đối với tư bản tư nhân miền Bắc những năm 1957 – 1960.
Ngày 23/3/1978, chiến dịch bắt đầu với phương châm: bí mật, bất ngờ cùng
một lúc hầu như tất cả các cơ sở kinh doanh tư nhân ở miền Nam đều được lệnh
kiểm kê tài sản và học tập cải tạo, trong đó có 31681 cơ sở quốc hữu hoá.
Hai năm sau, ngày 17/6/1980, Ban Bí thư có văn bản đánh giá về kết quả của công
cuộc cải tạo: Năng lực sản xuất của phần lớn các xí nghiệp sau cải tạo chưa được
sử dụng tốt, năng suất lao động thấp kém, hiệu quả kinh tế giảm… Tài sản thu
được qua cải tạo bị hư hỏng, mất mát nhiều. Đời sống công nhân gặp nhiều khó
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ
tư khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ
Thương mại - số 11/2002.
23. Lê Đăng Doanh: "Phát huy vai trò trợ giúp của các hiệp hội ngành nghề
với các doanh nghiệp trong công cuộc hội nhập quốc tế hiện nay" - Tạp chí
Thương mại số 16/2002.
24. Đặng Đình Đào, Hoàng Đức Thân (2003), Giáo trình kinh tế thương mại,
Nxb Thống kê Hà Nội.
25. Nguyễn Thị Như Hà (2004), Các thành phần kinh tế trong lĩnh vực thương
mại ở nước ta, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội.
26. TS. Đinh Thị Mỹ Loan, Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Thương
mại, Quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ: Kinh nghiệm từ Hàn Quốc – Tạp chí
Nhà quản lý số 49, tháng 7/2007.
27. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, tập 4, tr.49.
28. Tổng cục Thống kê: Tổng quan Tổng điều tra các cơ sở kinh tế, hành
chính, sự nghiệp năm 2002, Mục: Khối kinh tế cá thể.
29. Tổng cục Thống kê: Niên giám thống kê từ năm 1986 – 2006.
30. Tổng quan Tổng điều tra các cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm
2002.
31. Hà Huy Thành (2002), Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư
nhân – Lý luận và chính sách, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
32. Đinh Văn Thành: "Thương nghiệp tư nhân - Thực trạng và giải pháp phát
triển" - Tạp chí Thương mại số 10/2002.
33. Hà Huy Thành (Chủ biên) (2002): Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và
tư bản tư nhân - Lý luận và chính sách" NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
34. Hồ Văn Vĩnh (2003), Kinh tế tư nhân và quản lý Nhà nước đối với kinh tế
tư nhân ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
35. Vụ hợp tác kinh tế đa phương – Bộ Ngoại giao (2002) “Việt Nam trong xu
thế toàn cầu hóa vấn đề và giải pháp” Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.