Thương nghiệp tư nhân Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN THỊ SONG HÀ
THƯƠNG NGHIỆP TƯ NHÂN
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ



LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Hà Nội - 2008 1 MUC LUC
PHAN MO ĐAU 3
Chƣơng 1 7
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƢƠNG NGHIỆP 7
TƢ NHÂN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 7

kinh tế quốc tế. 48
Kết luận chƣơng 2 56
Chƣơng 3 58

2
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN 58
THƢƠNG NGHIỆP TƢ NHÂN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH 58
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 58
3.1. PHƢƠNG HƢỚNG PHÁT TRIỂN THƢƠNG NGHIỆP TƢ NHÂN Ở
NƢỚC TA TRONG NHỮNG NĂM TỚI 58
3.1.1. Phát triển thƣơng nghiệp tƣ nhân gắn với cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN. 58
3.1.2. Phát triển thƣơng nghiệp tƣ nhân là vấn đề chiến lƣợc, lâu dài trong nền
kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN. 60
3.1.3. Bảo vệ lợi ích hợp pháp của ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động
trong lĩnh vực thƣơng nghiệp tƣ nhân. 62
3.1.4. Phát triển thƣơng nghiệp tƣ nhân gắn với xu thế toàn cầu hoá hội nhập
kinh tế quốc tế. 63
3.2. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN THƢƠNG NGHIỆP TƢ NHÂN
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 66
3.2.1. Tạo môi trƣờng tâm lý xã hội thuận lợi cho thƣơng nghiệp tƣ nhân
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. 66
3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật các chính sách kinh
tế có liên quan đến việc thúc đẩy hoạt động của thƣơng nghiệp tƣ nhân phù
hợp với luật pháp và các thông lệ quốc tế. 68
3.2.3. Phát triển đồng bộ các loại thị trƣờng trên địa bàn cả nƣớc. 69
3.2.4. Phát triển kết cấu hạ tầng cho thƣơng nghiệp tƣ nhân hoạt động có hiệu
quả. 72
3.2.5. Cần coi trọng việc mở rộng các hình thức liên kết của thƣơng nghiệp tƣ
nhân. 75

quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế đất nƣớc.
Tuy nhiên, quá trình phát triển thƣơng nghiệp tƣ nhân đang gặp nhiều thách
thức và khó khăn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế nhƣ: Thiếu vốn, công
nghệ và cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu; chất lƣợng nguồn nhân lực và khả năng
cạnh tranh chƣa cao; Trình độ tổ chức kinh doanh chƣa phù hợp với xu hƣớng kinh
doanh hiện đại. Bên cạnh đó, những vƣớng mắc về cơ chế, chính sách của Nhà
nƣớc cũng làm cho thƣơng nghiệp tƣ nhân chƣa phát huy hết đƣợc những tiềm
năng, thế mạnh của mình cũng nhƣ chƣa đáp ứng đƣợc xu hƣớng phát triển của nền
kinh tế đất nƣớc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, tác giả chọn đề tài:
“Thương nghiệp tư nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam” làm
luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Kinh tế tƣ nhân nói chung và thƣơng nghiệp tƣ nhân nói riêng là một trong
những lĩnh vực phát triển mạnh trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay đang đƣợc

4
nhiều ngƣời quan tâm nghiên cứu. Cho đến nay, đã có một số công trình khoa học
nghiên cứu đến các vấn đề này nhƣ: Hoàng Đức Thân: Thương mại tư nhân ở Hà
Nội: Thực trạng và giải pháp phát triển, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 3/2003;
Trần ánh Tuyết: Giải pháp khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân tham gia phát
triển thương mại, Tạp chí thƣơng mại, số 14/2004; Nguyễn Thị Nhƣ Hà: Các
thành phần kinh tế trong lĩnh vực thương mại ở nước ta. Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội (2004); Nguyễn Văn Tuấn: Chiến lược phát triển thương mại trên địa bàn
Hà Nội đến năm 2010, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2002); Hồ Văn Vĩnh:
Kinh tế tư nhân và quản lý Nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2003): Trần Ngọc Bùi: Phát triển kinh tế tư nhân
định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2002); Lê Trịnh
Minh Châu: Bàn về sự phát triển các trung tâm thương mại ở Việt Nam, Tạp chí
Thƣơng mại, số 3, tr. 3 (2002); Đinh Văn Thành: Thương nghiệp tư nhân - Thực
trạng và giải pháp phát triển, Tạp chí Thƣơng mại, số 10, tr.2 (2002): Nguyễn

trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu sự hình thành, phát triển của thƣơng
nghiệp tƣ nhân ở Việt Nam từ thời kỳ đổi mới 1986 đến nay. (Chủ yếu ở thị trƣờng
bán lẻ - thị trƣờng trong nƣớc).
5. Phương pháp nghiên cứu.
Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn là phƣơng pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử. Các phƣơng pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp,
phƣơng pháp so sánh đƣợc sử dụng chủ yếu trong quá trình nghiên cứu.
6. Dự kiến đóng góp mới của luận văn.
Luận văn đã phân tích đƣợc thực trạng của thƣơng nghiệp tƣ nhân ở Việt Nam
bằng tƣ duy hệ thống, vì vậy những khía cạnh về thƣơng nghiệp tƣ nhân đƣợc xem
xét một cách toàn diện, ở nhiều góc độ. Qua phân tích, luận văn cũng đề xuất một

6
số quan điểm và giải pháp thiết thực để phát triển thƣơng nghiệp tƣ nhân nƣớc ta
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, luận văn có thể làm tài liệu tham
khảo cho sinh viên các trƣờng đại học, các công trình nghiên cứu có liên quan đến
vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn.
Bản luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
các phụ lục minh họa phần nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3
chƣơng:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thương nghiệp tư nhân trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Chương 2: Thực trạng thương nghiệp tư nhân ở Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển thương nghiệp tư
nhân Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
hoành và đƣờng tung của đƣờng cong kinh tế”. Vì giữa sản xuất và trao đổi
(thƣơng mại) có quan hệ hữu cơ trong quá trình tái sản xuất xã hội. Sự tác động qua
lại giữa sản xuất và trao đổi không dừng lại ở quy mô, mà còn tác động đến trình
độ phát triển của nhau cả về mặt quan hệ sản xuất và lực lƣợng sản xuất.
Trong một nền kinh tế, lƣu thông (trao đổi) là một yếu tố, một giai đoạn quá
độ của sản xuất; lƣu thông chỉ đơn thuần là sự thực hiện sản phẩm đã đƣợc sản
xuất ra với tƣ cách là hàng hóa và sự thay thế các yếu tố sản xuất để tiếp tục sản
xuất với tƣ cách là hàng hóa. Nhƣng trong quá trình đó lƣu thông lại trực tiếp làm
xuất hiện một hình thái mới, đó là hoạt động thƣơng nghiệp. Xét bề ngoài tƣởng

8
nhƣ lƣu thông tách biệt với sản xuất, nhƣng thực chất lƣu thông nói chung, hoạt
động thƣơng nghiệp nói riêng chỉ là một trong các khâu của quá trình tái sản xuất.
Ở mỗi trình độ khác nhau, hoạt động thƣơng nghiệp trong các nền kinh tế
cũng khác nhau. Khi nền sản xuất ở trình độ thấp, nhỏ lẻ, phân tán thì hoạt động
trao đổi còn hạn chế ở phạm vi hẹp, hoạt động thƣơng nghiệp cũng còn ở tình
trạng manh mún với quy mô nhỏ. Khi trình độ xã hội hóa sản xuất cao thì đòi hỏi
thƣơng nghiệp cũng phải đƣợc xã hội hóa với trình độ tƣơng ứng. Sản xuất hàng
hóa càng phát triển cao thì quá trình trao đổi càng mở rộng và ngƣợc lại sự mở
rộng và phát triển quá trình trao đổi sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của sản
xuất.
Cũng nhƣ các nền kinh tế khác, thời kỳ đầu của nền kinh tế hàng hoá ở nƣớc
ta sản phẩm thặng dƣ chƣa nhiều nên hoạt động thƣơng nghiệp chủ yếu là do tƣ
nhân thu gom những sản phẩm thừa của những ngƣời sản xuất nhỏ nhƣ nông dân
và thợ thủ công. Do vậy hiệu quả của hoạt động thƣơng nghiệp còn rất thấp.
Nhƣng sự tồn tại của hoạt động thƣơng nghiệp đã làm cho sản xuất tách biệt tƣơng
đối với trao đổi, làm cho sản xuất ngày càng có tính chất trao đổi, nên nó có tác
dụng thúc đẩy quá trình tan rã những quan hệ sản xuất tự cung tự cấp. Khi sản xuất
hàng hoá phát triển thì hình thức thƣơng nghiệp do tƣ nhân thực hiện vẫn còn tồn
tại nhƣng nó khác về cơ cấu, quy mô, mô hình tổ chức và phƣơng thức kinh

Thời kỳ trƣớc đổi mới (1986), ở nƣớc ta có gần 5000 doanh nghiệp thƣơng
nghiệp quốc doanh, đƣợc phân bố khắp các địa bàn và kinh doanh mọi ngành
hàng; lực lƣợng lao động rất lớn, khoảng 442,2 nghìn ngƣời. Cơ sở vật chất kỹ
thuật cũng nhƣ vốn của những doanh nghiệp này hoàn toàn đƣợc Nhà nƣớc bao
cấp. Tuy nhiên, cơ chế tập trung bao cấp đó đã làm cho các doanh nghiệp thƣơng
nghiệp quốc doanh rơi vào tình trạng ỉ lại, làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả. Để sắp
xếp và đổi mới lại hoạt động của doanh nghiệp thƣơng nghiệp quốc doanh, ngày

10
7/3/1994 Thủ tƣớng Chính phủ ra Quyết định 90/TTg, sau đó đến tháng 5/1995 cả
nƣớc chỉ còn 1351 doanh nghiệp thƣơng nghiệp quốc doanh. Số này so với 4700
doanh nghiệp năm 1991 đã giảm trên 3000 doanh nghiệp.
Trƣớc thời kỳ đổi mới doanh nghiệp thƣơng nghiệp quốc doanh chiếm ƣu thế
và giữ vai trò chi phối (nắm trọn bán buôn, chi phối 80% tổng mức bán lẻ xã hội),
nhƣng bên cạnh đó vẫn tồn tại các hình thức thƣơng nghiệp tƣ nhân, chỉ có điều
khi đó thƣơng nghiệp tƣ nhân là đối tƣợng cần “cải tạo” hoặc bị phủ nhận. Vai trò
của thƣơng nghiệp tƣ nhân chỉ đƣợc nhìn nhận đúng khi Đảng ta có chủ trƣơng
phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó khuyến khích kinh tế tƣ
nhân phát triển.
Những chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đối với kinh tế tƣ nhân
nói chung và thƣơng nghiệp tƣ nhân nói riêng nhƣ sau:
Sau khi nƣớc nhà giành đƣợc độc lập, ngày 13/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh
tuyên bố “Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy
nền hoàn toàn độc lập của nƣớc nhà, thì giới Công – thƣơng phải hoạt động để xây
dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vƣợng. Chính phủ nhân dân
và tôi sẽ tận tâm giúp giới Công – Thƣơng trong cuộc kiến thiết này” [27; 49]
Ngày 17/3/1949, Liên Bộ kinh tế - Nội vụ có văn bản số 27/NV-KT “Nguyên
tắc căn bản là tự do kinh doanh. Trong hoàn cảnh hiện tại nguyên tắc ấy càng cần
đƣợc tôn trọng và những hoạt động kinh doanh tƣ nhân đang giữ một vai trò quan
trọng trong điều hoà, phân phối giữa các vùng” [21; 3]

Hai năm sau, ngày 17/6/1980, Ban Bí thƣ có văn bản đánh giá về kết quả của
công cuộc cải tạo: Năng lực sản xuất của phần lớn các xí nghiệp sau cải tạo chƣa
đƣợc sử dụng tốt, năng suất lao động thấp kém, hiệu quả kinh tế giảm… Tài sản
thu đƣợc qua cải tạo bị hƣ hỏng, mất mát nhiều. Đời sống công nhân gặp nhiều khó

12
khăn. Tình trạng hoài nghi, chán nản và bất mãn khá phổ biến gây nên sự căng
thẳng không cần thiết.
Sau thời gian đó Trung ƣơng Đảng có chủ trƣơng “cởi trói cho sản xuất kinh
doanh và cho phép “bung ra”, và Nghị quyết 40 cho phép nới lỏng xuất khẩu, Nghị
quyết 25/CP ngày 21/1/1981 cho phép doanh nghiệp nhà nƣớc đƣợc liên kết với
các thành phần khác,… Nhƣng chỉ vài năm sau, tháng 12/1982 Trung ƣơng lại ra
Nghị quyết số 01 về “Chỉnh đốn kinh tế ở Thành phố Hồ Chí Minh”, các doanh
nghiệp tƣ nhân miền Nam lại một lần nữa bị giải thể hoặc sáp nhập vào quốc
doanh.
Bƣớc ngoặt trong quá trình phát triển kinh tế tƣ nhân nói chung và thƣơng
nghiệp tƣ nhân nói riêng đƣợc đánh dấu từ tháng 12/1986. Đại hội Đảng lần thứ VI
đã thừa nhận nền kinh tế nƣớc ta là nền kinh tế nhiều thành phần.
Ngày 9/3/1988, Nghị quyết 27/CP đƣợc ban hành chính thức xác nhận quyền
hoạt động của doanh nghiệp tƣ nhân. Tiếp đến, ngày 21/12/1990 Luật doanh
nghiệp và Luật công ty đƣợc công bố. Năm 1992 Hiến pháp quy định: “Công dân
Việt Nam có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”.
Nhƣ vậy quá trình nhận thức và chỉ đạo về việc xác định các thành phần kinh
tế trong nền kinh tế Việt Nam của Đảng và Nhà nƣớc đã có thay đổi nhiều để thích
ứng với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trƣờng, trong đó kinh tế tƣ nhân từ
chỗ không đƣợc thừa nhận, là đối tƣợng cải tạo XHCN, nay đã đƣợc thừa nhận là
một bộ phận cấu thành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Xuất phát từ quan điểm trên, các cơ chế, chính sách của Nhà nƣớc đối với
phát triển kinh tế tƣ nhân trong những năm qua đã có chuyển hƣớng rõ rệt. Khu
vực kinh tế này bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tƣ bản tƣ nhân, hoạt

ngƣời dân, đặc biệt đối với các tầng lớp dân cƣ có thu nhập thấp. Hình thức tổ

14
chức kinh doanh này rất phù hợp trong điều kiện trình độ phát triển của kinh tế thị
trƣờng chƣa cao nhƣ ở nƣớc ta hiện nay.
Hai là: Các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân tư bản
Đây là mô hình tổ chức của các hãng buôn lớn, tồn tại dƣới hình thức doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh dựa trên hình thức sở hữu tƣ bản tƣ nhân về vốn, tài
sản và các nguồn lực khác đƣợc thu hút vào kinh doanh, có tính năng động và nhạy
bén cao. Các doanh nghiệp này hoạt động theo Luật doanh nghiệp của Việt Nam.
Theo hình thức tổ chức doanh nghiệp hiện hành thì hiện nay thƣơng nghiệp tƣ
nhân tƣ bản bao gồm:
- Doanh nghiệp tư nhân: Do tƣ nhân tự bỏ vốn thành lập và tự tổ chức kinh
doanh. Các doanh nghiệp này phải hoàn toàn tự chủ về vốn, bảo toàn vốn, tổ chức
kinh doanh và tự tìm kiếm thị trƣờng, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động kinh
doanh (cả về mặt kinh tế, cả về mặt pháp luật). Các doanh nghiệp tƣ nhân lớn trong
lĩnh vực thƣơng nghiệp ở nƣớc ta chƣa nhiều, nhƣng đã có tác động tích cực đáng
kể tới sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong thời gian qua, tốc độ phát triển của
doanh nghiệp tƣ nhân trong lĩnh vực thƣơng nghiệp cao hơn trong lĩnh vực sản
xuất. Hầu hết các ngành hàng hiện nay đều có các doanh nghiệp tƣ nhân kinh
doanh, song ít có doanh nghiệp nào chiếm ƣu thế, có thị phần lớn trên thị trƣờng.
- Công ty cổ phần: là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ đƣợc chia nhỏ thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về nợ
và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào
doanh nghiệp.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là doanh nghiêp trong đó thành viên chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong
phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Đây là hình thức biểu hiện sự
kết hợp về vốn giữa các thành phần kinh tế. Doanh nghiệp loại này có đặc điểm là
chế độ sở hữu vốn, tải sản không thuần nhất. Trong xu thế chung thì doanh nghiệp

16
gian ngắn nhất. Mô hình này đòi hỏi phải có những nhà buôn lớn đáp ứng đầy đủ
các điều kiện kinh doanh trong cơ chế thị trƣờng nhƣ: quy mô vốn đầu tƣ lớn, cơ
sở vật chất kỹ thuật hiện đại, tiện lợi cho việc chế biến bảo quản và vận chuyển
hàng hóa, kênh phân phối rộng, có kinh nghiệm kinh doanh… Do đó, ở khâu này
chủ yếu là các doanh nghiệp TNTN tham gia hoat động.
Hoạt động bán lẻ, là khâu cuối cùng của quá trình hoạt động kinh doanh
thƣơng nghiệp. Hàng hóa sau khi bán đã ra khỏi lĩnh vực lƣu thông và đi vào lĩnh
vực tiêu dùng, giá trị đƣợc thực hiện. Đây là hoạt động kinh doanh thƣơng nghiệp
đáp ứng nhu cầu phong phú, đa dạng, của nhiều đối tƣợng khách hàng khác nhau
và nó là hình thức phổ biến, len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống. Hoạt động ở
khâu bán lẻ cần có một mạng lƣới rộng khắp với nhiều quy mô khác nhau. Trong
điều kiện nền kinh tế còn chƣa phát triển cao, hoạt động này chủ yếu đƣợc thực
hiện bởi thƣơng nghiệp cá thể, tiểu chủ. Đó là loại hình phù hợp với các đòi hỏi
của nhu cầu thị trƣờng khi thu nhập của ngƣời tiêu dùng chƣa cao, vì vậy không
thể nóng vội xóa bỏ loại hình này mà ngƣợc lại phải khuyến khích mở rộng hoạt
động kinh doanh của TNTN phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế (Cụ
thể là do nhu cầu thị trƣờng quyết định), không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan
của con ngƣời. Khi nền kinh tế phát triển, hệ thống bán lẻ này đƣợc tổ chức tập
trung hơn hình thành nên các trung tâm thƣơng mại, hệ thống siêu thị.
Hai là: Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Thực tế đó cũng là các hành
vi mua, bạn trên thị trƣờng bên ngoài quốc gia. Với chủ trƣơng đa phƣơng hóa, đa
dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại thì các đối tác trong quan hệ kinh tế cũng
hết sức đa dạng với tiềm lực kinh tế mạnh, có khả năng cạnh tranh cao, có bề dày
kinh nghiệm. Trong cơ chế cũ, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu do các doanh
nghiệp thƣơng mại nhà nƣớc thực hiện. Khi chuyển sang cơ chế thị trƣờng trong
xu hƣớng hội nhập kinh tế quốc tế thì mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại là một
xu hƣớng tất yếu. Để thúc đẩy kinh tế trong nƣớc phát triển thì việc huy động các

17

hàng hóa, nó là điều kiện tiền đề cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế.
Thƣơng nghiệp là lĩnh vực hoạt động chuyên nghiệp trong lƣu thông hàng hóa, lƣu
thông trì trệ sẽ gây cản trở duy trì và mở rộng sản xuất, ảnh hƣởng đến phát triển
kinh tế - xã hội.
Thƣơng nghiệp tƣ nhân với tính năng động, nhạy bén trên thị trƣờng một mặt
cung ứng tƣ liệu sản xuất cho các chủ thể sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho
tái sản xuất. Mặt khác, thƣơng nghiệp tƣ nhân còn giúp cho nhà sản xuất tiêu thụ
sản phẩm, hàng hóa đƣợc thực hiện giá trị nhanh chóng sẽ rút ngắn thời gian lƣu
thông, làm tăng tốc độ tái sản xuất.
Thƣơng nghiệp tƣ nhân có vai trò là điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa
phát triển, thông qua hoạt động thƣơng mại trên thị trƣờng, các chủ thể kinh doanh
mua, bán các hàng hóa, dịch vụ. Điều đó bảo đảm cho quá trình tái sản xuất đƣợc
tiến hành bình thƣờng, lƣu thông hàng hóa, dịch vụ thông suốt. Vì vậy, không có
hoạt động thƣơng mại phát triển thì sản xuất hàng hóa không thể phát triển đƣợc.
Thông qua việc mua, bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trƣờng, thƣơng nghiệp
tƣ nhân có vai trò quan trọng trong việc mở rộng khả năng tiêu thụ hàng hoá cho
sản xuất, qua đó nâng cao lợi nhuận của nhà sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Thƣơng nghiệp tƣ nhân thông qua việc ký các hợp đồng mua – bán hàng hoá
với các cơ sở sản xuất để giúp sản xuất những mặt hàng thích ứng với nhu cầu thị
trƣờng, làm tăng tốc độ chu chuyển vốn của sản xuất.
- Thương nghiệp tư nhân có vai trò trong việc đáp ứng và hướng dẫn tiêu
dùng xã hội.
Thƣơng nghiệp (trong đó có thƣơng nghiệp tƣ nhân) với vai trò là cầu nối
giữa sản xuất và tiêu dùng; tức là vừa là địa chỉ để tiêu thụ hàng hoá cho sản xuất,
vừa là địa chỉ cung ứng hàng hoá cho tiêu dùng.

19
Trong những năm qua, hoạt động của thƣơng nghiệp tƣ nhân đã đáp ứng
những nhu cầu tiêu dùng cá nhân ngày càng cao hơn cả về mặt lƣợng, về mặt chất.
Đã len lỏi vào mọi ngóc ngách của thị trƣờng để thực hiện mọi nhu cầu sản xuất và

Thông qua việc xuất nhập khẩu hàng hoá, thƣơng nghiệp tƣ nhân đã góp phần
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, đẩy lùi sự xâm nhập của hàng ngoại, bảo vệ và
thúc đẩy sản xuất trong nƣớc.
- Thương nghiệp tư nhân có đóng góp quan trọng vào ngân sách nhà nước.
Cùng với kinh tế tƣ nhân, những năm qua thƣơng nghiệp tƣ nhân đã góp phần
đóng góp 40% GDP, với tốc độ tăng trƣởng hàng năm là 6,5%/năm. Hiện nay
thƣơng nghiệp tƣ nhân đang phát triển mạnh nên khả năng đóng góp của thƣơng
nghiệp tƣ nhân sẽ ngày càng lớn, góp phần thúc đẩy tăng trƣởng phát triển kinh tế -
xã hội.
1.2.2. Các yếu tố tác động đến thƣơng nghiệp tƣ nhân ở nƣớc ta trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong những yếu tố tác động đến sự phát triển của thƣơng nghiệp tƣ nhân
nƣớc ta có thể chia làm hai nhóm:
Thứ nhất, các yếu tố quốc tế.
Những yếu tố quốc tế tác động đến hoạt động thƣơng mại nƣớc ta nói chung
có thể kể đến đó là tốc độ tăng trƣởng kinh tế - thƣơng mại của nền kinh tế toàn
cầu, nhất là những nƣớc có quan hệ thƣơng mại với Việt Nam. Bảng 1.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới
Đơn vị tính: %

2005
2006
Dự kiến 2007
Dự kiến 2008

21
Thế giới
4,9

Dự báo của IMF – tháng Tƣ năm 2007.
Nguồn: Bộ Kế hoạch - Đầu tư, tháng 7/2007.

Bảng 1.2: Xuất, nhập khẩu thế giới năm 2006.

Xuất
Nhập

Tỷ USD
Tăng so
với 2005
Tỷ USD
Tăng so
với 2005
Thế giới
11.762
15
12.080
14
Mỹ
1.037
14
1.920
11
Nhật
4.527
12
4.743
14
EU

chống bán phá giá có nguy cơ ngày càng gia tăng là những thách thức đối với xuất
khẩu của các nƣớc. Ngoài ra, với việc phải mở cửa thị trƣờng và cắt giảm thuế
quan trong nhiều lĩnh vực và đối với nhiều loại hàng hoá đang ảnh hƣởng trực tiếp
tới hoạt động thƣơng mại của chúng ta. Mấy năm gần đây nhập khẩu cũng có nguy
cơ tăng mạnh nếu không có các giải pháp kiềm chế hiệu quả do hàng hoá và dịch
vụ của các nƣớc thành viên WTO sẽ tràn vào Việt Nam với chủng loại đa dạng, giá
cả cạnh tranh nhờ việc cắt giảm thuế nhập khẩu và mở cửa thị trƣờng theo cam kết
của WTO.
Ngoài ra, giá các hàng hoá nhƣ: gỗ nguyên liệu, cao su, các loại nông sản…
vẫn tăng làm cho thị trƣờng thế giới có nhiều biến động. Giá dầu thô tăng đã làm
giảm tốc độ phát triển của nền kinh tế toàn cầu. Tỷ giá hối đoái trên thị trƣờng thế
giới biến động liên tục làm cho tính ổn định của nền kinh tế thế giới sẽ khó bền
vững.
Tuy xu thế toàn cầu hoá đƣợc ủng hộ và đẩy mạnh nhƣng trào lƣu bảo hộ mậu
dịch vẫn diễn ra mạnh mẽ, ngay cả trong bối cảnh kinh tế thƣơng mại thế giới có
dấu hiệu phục hồi. Tính hai mặt trong chính sách thƣơng mại của các nền kinh tế
phát triển ngày càng bộc lộ rõ, một mặt các nƣớc này hô hào cho tự do hoá thƣơng
mại, mặt khác họ lại gia tăng bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nƣớc bằng các biện
pháp trợ cấp, hạn ngạch và rào cản thƣơng mại và phi thƣơng mại ở mức độ ngày

23
càng tinh vi. Đây là thách thức đối với xuất khẩu của các nƣớc đang phát triển nói
chung và Việt Nam nói riêng.
Sự tăng trƣởng mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc và khả năng cạnh tranh
hàng hoá, doanh nghiệp Trung Quốc đƣợc củng cố đáng kể từ sau khi gia nhập
WTO khiến hàng hoá Việt Nam không những khó khăn hơn trong việc thâm nhập
thị trƣờng từ Trung Quốc mà còn phải chịu sức ép đối với hàng hoá Trung Quốc
trên thị trƣờng thế giới. Tuy nhiên từ năm 2005 Trung Quốc đã kết thúc thời kỳ
quá độ sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng trở thành thành viên của tổ chức
này, đây là cơ hội cho Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có tiềm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status