Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và tối ưu hoá quá trình sản xuất axit photphoric (PA) trong công nghiệp sản xuất phân bón DAP
MỞ ĐẦU
Axit photphoric là một trong những axit vô cơ cơ bản của công nghiệp hóa chất.
Nó được dùng để sản xuất các loại phân bón như: Supe Photphat kép, Amophot,
Nitrophot, DAP và đồng thời nó còn được dùng để sản xuất các muối photphat kiềm,
sử dụng trong công nghiệp dược, chăn nuôi, làm mềm nước, làm chất tẩy rửa. Mặt
khác nó cũng được dùng trong công nghiệp luyện kim, bảo vệ cho kim loại không bị
ăn mòn. Axit photphoric được sản xuất bằng hai phương pháp:
- Nhiệt luyện
- Trích ly.
Theo phương pháp trích ly, quặng phosphat được phân hủy bằng axit punfuric,
axit Nitơric và axit Clohydric. Phân hủy quặng phosphat bằng axit sunfuric là phương
pháp thông dụng nhất được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam có Công
ty Supe Photphat và Hóa chất Lâm Thao cũng đang sử dụng phương pháp này để sản
xuất phân bón supe lân. Ở Công ty TNHH MTV DAP - VINACHEM Hải Phòng cũng
áp dụng phương pháp phân hủy quặng bằng axit sunfuric. Phương pháp phân hủy
quặng phosphat bằng axit Nitơric và axit Clohydric chưa được ứng dụng rộng rãi mà
chỉ mới được nghiên cứu và sử dụng ở một số nước.
Hiện nay ở nước ta nhu cầu về axit photphoric dùng trong các ngành công
nghiệp dược, chăn nuôi, chất tẩy rửa, chống ăn mòn và bảo vệ kim loại là rất lớn. Đặc
biệt trong ngành sản xuất phân bón như Supe Photphat kép, phân bón phức hợp DAP,
MAP cần một lượng lớn axit photphoric. Hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu một
lượng lớn axit photphoric phục vụ cho sản xuất. Nguồn nguyên liệu sản xuất axit
photphoric là quặng phosphat chúng ta có nhiều ở Lào Cai, nguyên liệu còn lại là axit
sunfuric đây là axit vô cơ quan trọng nhất được nhiều Công ty trong nước sản xuất.
Từ những lý do trên cho thấy, có thể tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có là
quặng phosphat khai thác ở Lào Cai và axit sunfuric để sản xuất ra axit photphoric
phục vụ nhu cầu cho các ngành công nghiệp trong nước và xuất khẩu.
1
loại: DAP 18 – 46 – 0 và DAP 16 – 48 – 0. Thành phần của DAP 18 -46 – 0 gồm có
18% N, 46% P2O5 và DAP 16 -48 – 0 có 16% N, 48% P2O5. Độ tan trong nước tại
10oC là 575g/l, và 588 g/l tại 20oC và tại 100oC là 1067 g/l. Nó cũng tan được trong
Ethanol, Acetone, Ammoniac lỏng. Hệ số khúc xạ nD = 1,52. DAP dễ hút ẩm và chảy
nước. Đây là muối axit, trong phân tử còn 1 nguyên tử H linh động, do vậy nó vừa có
tính axit, vừa có tính bazơ. Độ pH trung bình từ 7,5 đến 8. Diamoniphosphat chứa
đồng thời cả hai nguyên tố dinh dưỡng là Nito và Phospho, hòa tan ở trong nước, tác
dụng với mọi loại cây trồng và mọi loại đất. DAP được điều chế từ ammoniac và axit
photphoric theo các phản ứng:
NH3 + H3PO4
NH4H2PO4 + H2O + Q
NH3 + NH4H2PO4
(NH4)2HPO4 + H2O + Q
1.1.2. Ứng dụng của Diammonium Phosphate
Diammonium Phosphate là một trong những phân bón được sử dụng phổ biến
trong nông nghiệp hiện nay. DAP thuộc nhóm phân bón hóa học. Nhóm phân bón hóa
học hay nhóm phân vô vơ gồm có các loại:
-
Phân đạm (Nitrogen Fertilizer): Phân Ure CO(NH2)2, phân Ammonium Nitrate
NH4NO3, phân Ammonium Sulfate (NH4)2SO4, phân Ammonium Chloride
3
Luận văn cao học - Phạm Thị Nhiên – Khóa 2013B
Ở nước ta DAP là một trong những loại phân đạm được sử dụng phổ biến nhất,
cùng với phân Ure, phân Ammonium Sulfate. Phân DAP không có tạp chất làm chai
cứng đất như phân Super Phosphate. Do độ pH của DAP từ 7,5 đến 8 nên DAP là loại
phân dễ sử dụng, sử dụng trên nhiều loại đất khác nhau. Thành phần Phosphor trong
phân DAP giúp cây trồng hấp thu Nitơ tốt hơn, tăng hiệu quả của phân DAP. Phân
DAP chứa 2 ion NH4+, khi phân giải ra sẽ làm tăng độ pH cho đất, tạo điều kiện thuận
lợi cho vi khuẩn chuyển hóa Nitrate trong đất phát triển, làm tăng độ màu của đất, giúp
4
Luận văn cao học - Phạm Thị Nhiên – Khóa 2013B
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và tối ưu hoá quá trình sản xuất axit photphoric (PA) trong công nghiệp sản xuất phân bón DAP
cây trồng phát triển. Phân DAP đặc biệt rất phù hợp và ưa chuộng tại khu vực Đồng
bằng sông Cửu Long.
Trong công nghiệp, DAP được sử dụng làm chất chống cháy. Nó làm hạ thấp
nhiệt độ cháy của vật liệu, giảm tối đa sự mất mát của vật liệu. Nó được ứng dụng
trong thương mại với các sản phẩm chống cháy. DAP còn ứng dụng trong công nghiệp
sản xuất rượu bia. Nó làm tăng dưỡng chất cho men quá trình lên men rượu, bia. Nó
còn được sử dụng trong việc loại bỏ nicotin trong thuốc lá, và là chất điều chỉnh độ
axit hoặc kiềm trong xử lý, chế biến gỗ. Ngoài ra DAP còn được sử dụng trong công
nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi. Khối lượng DAP trên thế giới sử dụng trong lĩnh
vực nông nghiệp chiếm 97%, trong công nghiệp chiếm 3%.
1.1.3. Cơ sở hóa lý quá trình sản xuất
Diamoniphosphat là một loại muối của axit Orthophotphoric (H3PO4). Nguyên
liệu để sản xuất các Amoniphosphat là Amoniac và axit Photphoric. Axit Photphoric
được trung hòa theo phản ứng:
Khi bị phân hủy ở 700C, áp suất hơi trên bề mặt (NH4)2HPO4 là 5 mmHg, ở
1250C là 30 mmHg, thành phần hơi chủ yếu là NH3. Điều này cần được đặc biệt lưu ý
trong công nghệ sản xuất và bảo quản Diamoniphosphat. Triamoniphosphat bị phân
hủy ngay ở 30 ÷ 400C. Diamoniphosphat hòa tan trong nước tốt hơn
Monoamoniphosphat. Ở 200C, 100 gam nước hòa tan được 40,3 gam
Monoamoniphosphat, hoặc 71,0 gam Diamoniphosphat. Điều này giải thích vì sao khi
dùng làm phân bón, Diamoniphosphat có tác dụng với cây trồng nhanh hơn
Monoamoniphosphat. Dung dịch nước 0,1M của NH4H2PO4 có độ pH là 4,4; còn của
(NH4)2HPO4 là 8,0. Monoamoniphosphat và Diamoniphosphat ít hút ẩm. Trong công
nghiệp chỉ sản xuất Monoamoniphosphat và Diamoniphosphat, không sản xuất
Triamoniphosphat vì nó dễ bị phân hủy.
1.1.4. Tiêu chuẩn sản phẩm
Monoamoniphosphat (MAP) và Diamoniphosphat (DAP) được dùng rộng rãi
làm phân bón vì chúng chứa hai chất dinh dưỡng đa lượng rất cần thiết cho cây trồng
là đạm và lân. Hai chất này lại ở dạng dễ tan trong nước nên cây trồng hấp thụ nhanh.
Theo lý thuyết, hàm lượng P2O5 và Nitơ trong hai loại phân này như sau:
Bảng 1.1. Tiêu chuẩn sản phẩm theo lý thuyết
Loại phân
P2O5 (%)
N (%)
Tổng cộng (%)
MAP
61,7
N (%)
Tổng cộng (%)
MAP
50
9
59
DAP
46
18
64
Nếu sử dụng làm phân bón, thì DAP thích hợp hơn MAP vì:
-
DAP có tỉ lệ lân và đạm hợp lý hơn.
-
DAP dễ tan trong nước hơn MAP nên được cây trồng hấp thụ nhanh hơn.
-
H3PO4 + 2NH3 = (NH4)2HPO4 + Q
Phản ứng tỏa nhiều nhiệt. Do đó, quá trình sản xuất DAP được tiến hành làm
hai bậc. Nếu cho tất cả amoniac vào một bậc, nhiệt độ sẽ tăng lên rất cao, bùn nhận
được sẽ đặc sệt, làm mất đi một phần amoniac và độ linh động của bùn rất kém, gây
khó khăn cho việc khuấy trộn và bơm bùn. Vì vậy, sau phản ứng ở bậc 1, bùn được
làm nguội rồi mới phản ứng ở bậc 2. Ở bậc 2, axit photphoric được amoniac trung hòa
hoàn toàn cho tới khi độ pH đạt xấp xỉ 8. Để tránh mất amoniac, ở cả hai bậc, phản
7
Luận văn cao học - Phạm Thị Nhiên – Khóa 2013B
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và tối ưu hoá quá trình sản xuất axit photphoric (PA) trong công nghiệp sản xuất phân bón DAP
ứng được tiến hành ở nhiệt độ dưới 800C. Sau đó dung dịch Diamoniphosphat được
đưa đi kết tinh, sấy và sàng. Sấy ở nhiệt độ không quá 600C, để tránh mất amoniac và
tránh chuyển thành Monoamoniphosphat.
1.1.6. Nguồn nguyên liệu chính để sản xuất phân bón DAP ở Việt nam
a) Quặng apatit Lào Cai
Quặng apatit Lào Cai là một loại quặng phosphat có nguồn gốc trầm tích biển,
thành hệ tiền Cambri chịu các tác dụng biến chất và phong hoá. Các khoáng vật
phosphat trong đá trầm tích không nằm ở dạng vô định như ta tưởng trước đây mà nằm
ở dạng ẩn tinh, phần lớn chúng biến đổi giữa floroapatit Ca5(PO4)6F2 và cacbonat –
floroapatit Ca5([PO4],[CO3])3F. Hầu hết các phosphat trầm tích dưới dạng cacbonat –
floroapatit gọi là francolit. Dưới tác dụng của biến chất các đá phi quặng biến thành đá
phiến, dolomit và quaczit, còn đá chứa phosphat chuyển thành quặng Apatit –
Dolomit. Quặng apatit Lào Cai là loại quặng thuộc thành hệ metan phosphorit (Apatit
– Dolomit), là thành hệ chủ yếu được sử dụng cho ngành công nghiệp sản xuất phân
bón chứa lân ở nước ta.
sunfuric bắt đầu sôi và bị phân huỷ cho đến khi tạo thành hỗn hợp đẳng phí chứa 98,3
% H2SO4 và 1,7 % H2O. Hỗn hợp đẳng phí này sôi ở 336,5oC. Axít sunfuric có thể kết
hợp với nước và SO3 theo tỷ lệ bất kỳ, khi đó tạo thành một số hợp chất có những tính
chất khác nhau. Ở nhà máy sản xuất axit sunfuric thường có ba dạng sản phẩm: Oleum
20% SO3 tự do (từ tháp hấp thụ oleum), axit tiếp xúc 92,5% (từ tháp sấy và axit loãng
(từ tháp rửa sau khi tách selen).
c) Amoniac (NH3)
Amoniac có công thức phân tử là NH3 là chất khí không màu có mùi khai, xốc,
nhẹ hơn không khí. Khối lượng riêng là d = 0,73 kg/m3 (1,013 bar ở 15 °C), d = 681,9
kg/m3 (ở dạng lỏng tại nhiệt độ -33,3 °C) và d = 817 kg/m3 (ở dạng rắn trong suốt tại
nhiệt độ -80 ° C). Độ tan trong nước 47% (0 °C), 31% (25 °C) và 28% (50 °C). Khí
amoniac tan rất nhiều trong nước tạo thành dung dịch amoniac (Dung dịch NH3 đậm
đặc thường có nồng độ 25% khi đó d = 0,91g/cm3). Amoniac đóng góp đáng kể vào
nhu cầu dinh dưỡng của các thực vật trên cạn dưới dạng phân bón. Năm 2006, sản xuất
amoniac trên toàn thế giới ước tính đạt 146,5 triệu tấn. Nó được sử dụng nhiều nhất
trong công nghiệp sản xuất phân bón (chiếm 85% lượng amoniac được sản xuất), trong
đó Ure là loại phân bón sử dụng amoniac nhiều nhất (trên 40%), tiếp theo là phân bón
DAP. Amoniac là trực tiếp hoặc gián tiếp là tiền thân của hầu hết các hợp chất chứa
nitơ. Hầu như tất cả các hợp chất nitơ tổng hợp có nguồn gốc từ amoniac. Một dẫn
xuất quan trọng là axit Nitric.
Tại Việt Nam hiện nay mới chỉ có 2 cơ sở sản xuất amoniac là Công ty TNHH
một thành viên phân Đạm và Hoá chất Hà Bắc và Nhà Máy Đạm Phú Mỹ, amoniac
của 2 cơ sở này chủ yếu là phục vụ cho quá trình tổng hợp Ure. Sắp tới nhà máy đạm
9
Luận văn cao học - Phạm Thị Nhiên – Khóa 2013B
điểm năm 2008 giá DAP tăng cao lên trên 1000 USD/tấn, có lúc tăng lên 1300
USD/tấn, đúng thời điểm giá dầu mỏ tăng cao lên đến 130 – 140 USD/thùng. Sang
năm 2009, giá dầu hạ xuống mức năm 2005 kéo theo giá phân DAP giảm còn 400
10
Luận văn cao học - Phạm Thị Nhiên – Khóa 2013B
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và tối ưu hoá quá trình sản xuất axit photphoric (PA) trong công nghiệp sản xuất phân bón DAP
USD/tấn. Giao dịch năm 2010 đạt 520 USD/tấn và năm 2011 là 670 USD/tấn, và năm
2012 đến nay đạt khoảng 400 - 550 USD/tấn.
Tại Việt Nam, nhu cầu phân bón năm 2013 đạt 10,3 triệu tấn. Dự báo trong năm
2014 nhu cầu phân bón trong nước gần 11 triệu tấn trong đó nhu cầu Ure là 2,2 triệu
tấn, Ammonium Sulfate chiếm 900 nghìn tấn, phân Kali chiếm 960 nghìn tấn, phân
DAP chiếm 900 nghìn tấn, phân NPK chiếm 4 triệu tấn, phân lân chiếm 1,8 triệu tấn.
Trước năm 1975, phân DAP Philippine được nhập khẩu vào miền nam Việt
Nam, sử dụng cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Sau năm 1975, do Chính phủ
gặp khó khăn về mặt tài chính ngoại tệ nên không nhập khẩu DAP. Năm 1988, để
cung cấp đủ phân bón cho nông nghiệp, tăng năng suất trồng lúa, Chính phủ cho phép
nhập khẩu DAP để đáp ứng nhu cầu trong nước. Từ đó đến nay, lượng phân DAP nhập
khẩu liên tục tăng qua các năm. Thị trường DAP của Việt Nam chiếm 2% - 3% thị
trường toàn thế giới. Phân DAP được nhập khẩu từ Trung Quốc, Thụy Sĩ, Hàn Quốc,
Nga, Hoa Kỳ, Mexico, Philippine. Giá giao dịch phân DAP hiện nay khoảng 10.500đ
đến 12.800đ với phân DAP Trung Quốc, 13.500đ đến 14.000đ với phân DAP Đình Vũ
và DAP của Philippine và Hàn Quốc từ 14.700đ đến 15.000đ.
Hiện tại có 1 nhà máy đang sản xuất phân DAP là DAP – VINACHEM tại Đình
Vũ, quận Hải An, thành phố Hải Phòng với công suất 330 nghìn tấn/năm. Sắp tới DAP
– VINACHEM đang dự kiến mở rộng nhà máy, nâng công suất lên 660 nghìn tấn/năm.
Ngoại quan: Axit photphoric là chất lỏng trong suốt, không màu, có vị chua, có đầy đủ
tính chất của một axit. Ở trạng thái rắn và lỏng, các phân tử liên kết với nhau bằng liên
kết hydro, chính vì vậy dung dịch H3PO4 có tính nhớt. Axit Octhophotphoric tan vô
hạn trong nước, do có sự tạo thành liên kết hydro giữa những phân tử H3PO4 với các
phân tử H2O. Công thức cấu tạo của axit photphoric
12
Luận văn cao học - Phạm Thị Nhiên – Khóa 2013B
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và tối ưu hoá quá trình sản xuất axit photphoric (PA) trong công nghiệp sản xuất phân bón DAP
Hình 1.4 . Công thức cấu tạo của axit photphoric
Hình 1.5 . Công thức cấu tạo, mô hình cấu tạo của axit photphoric
Axit tinh khiết có thể kết tinh dưới dạng các tinh thể rắn, không ngậm nước, có tỷ
trọng 1,84 ÷ 1,88.
13
Luận văn cao học - Phạm Thị Nhiên – Khóa 2013B
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và tối ưu hoá quá trình sản xuất axit photphoric (PA) trong công nghiệp sản xuất phân bón DAP
Hình 1.6. Axit photphoric tinh thể và công thức cấu tạo của phosphate ion
Trong dung dịch nước, H3PO4 là axit ba nấc, có độ mạnh trung bình:
phụ gia E338 đang gây tranh cãi trong việc axit photphoric gây ảnh hưởng đến sức
khỏe người sử dụng. Nó còn sử dụng trong sản xuất than hoạt tính, trong công nghiệp
bán dẫn, trong thủy canh nông nghiệp, pin nhiên liệu axit photphoric, trong sản xuất
rượu từ alken,…
Hình 1.7. Một số ứng dụng của axit photphoric
Axit photphoric được chế tạo và sử dụng ở dạng dung dịch, các dung dịch đậm
đặc có độ nhớt rất lớn. Axit photphoric được sản xuất theo các phương pháp khác nhau
như nhiệt luyện và trích ly vì vậy có những thông số khác nhau.
15
Luận văn cao học - Phạm Thị Nhiên – Khóa 2013B
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và tối ưu hoá quá trình sản xuất axit photphoric (PA) trong công nghiệp sản xuất phân bón DAP
Bảng 1.4. Một số axit photphoric thông dụng trên thị trường.
Axit photphoric sản xuất theo phương pháp nhiệt luyện
Loại axit
Tỷ trọng
Nồng độ (%)
Thường
1,335
1,572
Loại axit
Tỷ trọng
Nồng độ (%)
Thô, loãng
Thô sau khi cô
Thương phẩm
Đặc
1,32 ÷ 1,34
1,56 ÷ 1,71
1,7 ÷ 1,78
1,95 ÷ 2,05
38 ÷ 44
69 ÷ 76
72 ÷ 77
94 ÷ 98
Nồng độ
(mol/l)
5,1 ÷ 6,1
11,3 ÷ 13,3
12,5 ÷ 14,0
18,0 ÷ 20,0
Hàm lƣợng
(% P2O5)
dụng trong
lĩnh vực khác
Tổng nhu
cầu sử
dụng
Đông Á
20,536
18,001
12,543
1,818
14,649
Bắc Mỹ
9,681
8,730
4,696
0,850
5,657
0,260
1,200
Tây Á
3,774
2,793
0,954
0,34
1,320
Mỹ Latinh
2,805
2,128
5,434
0,782
6,341
Nam Á
0,743
Tây Âu
0,565
0,482
1,658
0,487
2,188
Toàn thế giới
(Năm 2013)
54,561
45,532
36,060
5,180
42,067
Toàn thế giới
Tổng công suất
51,502
53,338
56,222
58,188
59,356
61,323
Tổng sản lượng
42,569
44,312
45,857
47,392
48,776
49,835
Nhu cầu trong sản
xuất phân bón
35,274
36,374
37,410
38,060
38,714
39,520
Nhu cầu thực tế trong
lĩnh vực khác
Lượng dư thừa
5,291
5,515
5,321
5,428
5,537
3,781
1,755
Bảng 1.7. Các công ty sản xuất axit photphoric lớn nhất
Số
Tên công ty
Tên viết tắt
Quốc gia
TT
Công suất
thiết kế
1
Office Chérifien des Phosphates
OCP
Morocco
4,68
2
Tập đoàn Mosaic
Mosaic
Nga
1,86
6
Groupe Chimique Tunisien
GCT
Tunisi
1.40
7
Guizhou Kailin Group Co.,Ltd
Trung Quốc
1,335
8
Vale Fertilizantes SA
Brazil
1,31
Hiện tại ở Việt Nam chỉ có Công ty THHH MTV DAP – VINACHEM sản xuất
axit photphoric đi từ quặng apatit khai thác tại mỏ apatit Lào Cai để phục vụ cho sản
xuất DAP. Công suất thiết kế 161.700 tấn/năm, nồng độ P2O5 đạt 50% – 52%. Một dự
án khác đang được triển khai là Dự án đầu tư xây dựng công trình. Nhà máy sản xuất
phân bón Diammonium Phosphate số 2 tại Lào Cai với công suất thiết kế 167.000
tấn/năm và nồng độ P2O5 trong axit Photphoric cũng đạt 50% - 52%.
Trên thị trường thế giới, axit photphoric có giá bán dao động trong khoảng
1000USD – 1500USD/tấn cho axit photphoric kỹ thuật dùng trong công nghiệp hóa
chất, thực phẩm,… đòi hỏi độ tinh khiết cao và với axit photphoric sử dụng trong sản
xuất phân bón dạng lỏng hoặc ứng dụng trong công nghiệp không đòi hỏi độ tinh khiết
cao giá dao động trong khoảng từ 700 – 1000 USD/tấn, với công nghiệp sản xuất phân
bón dạng hạt thì giá dao động từ 500 – 700 USD/tấn. axit photphoric được đóng trong
các can nhựa hoặc bồn chứa.
Trên thị trường nước ta hiện nay tồn tại sản phẩm axit photphoric 85% được
đóng trong các can nhựa 35 kg, tổng khối lượng 36,5kg, xuất xứ từ Trung Quốc, Hàn
Quốc. Giá dao động trong khoảng 23.000 – 30.000 đồng/can.
19
Luận văn cao học - Phạm Thị Nhiên – Khóa 2013B
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và tối ưu hoá quá trình sản xuất axit photphoric (PA) trong công nghiệp sản xuất phân bón DAP
CHƢƠNG 2
CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG
ĐẾN CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT AXIT PHOTPHORIC
2.1. Các phƣơng pháp sản xuất axit photphoric
2.1.1. Nguyên liệu để sản xuất
Mỏ apatit Lào Cai có nguồn gốc trầm tích, quặng nguyên khai tương đối dễ bị
phân hủy, nếu quặng tuyển thì có phần trơ hơn. Apatit thường tồn tại dưới dạng tinh
thể lục giác. Nó là tập hợp các tinh thể có kết cấu bền chắc mịn. Quặng apatit có màu
hơi xanh, vàng nhạt hay vàng lục. Màu sắc này do sự thay đổi thành phần hóa học của
CaO có trong quặng. Quặng có cấu tạo bởi các thớ dọc với tỉ trọng trung bình 3,18 ÷
3,21g/cm2, nhiệt độ nóng chảy từ 14000C ÷ 15700C.
Bảng 2.1. Thành phần hóa học các loại quặng apatit
Loại
quặng
Thành phần (%)
P2O5
CaO
MgO
CO2
SiO2
MnO
I
28 ÷ 36
33 ÷ 47
0,4 ÷ 0,7
44 ÷ 48
IV
10 ÷ 13
27 ÷ 29
6.8 ÷ 9,2
13 ÷ 17
28
0,3 ÷ 0,5
Thực tế các Công ty đang sử dụng quặng apatit tuyển của nhà máy tuyển quặng Tằng
Lỏng có thành phần tương đối ổn định
Thành phần apatit tuyển Lào Cai
P2O5: 32 ÷ 33%
MgO: 0,48 ÷ 1,1%
CaO: 42 ÷ 44%
SiO2: 12 ÷ 14%
21
quặng apatit. Quặng phosphat ở Lào Cai nước ta vừa có cấu trúc của apatit, vừa có cấu
trúc của phosphorit, trong đó phosphorit chiếm từ 10 ÷ 13%, còn lại là apatit. Quặng
mềm có cấu tạo xốp, dễ nghiền nhưng trữ lượng thấp khoảng 10 ÷ 13% nên dùng
trong sản xuất axit photphoric sẽ không hiệu quả bằng đi từ quặng apatit.
b) Quặng photphorit
Hình 2.3. Quặng photphorit dạng thô và dạng tinh
Công thức chung: Ca3(PO4)2.n(Ca, Mg)CO3.mH2O. Hàm lượng P2O5 thường có
từ 16 ÷ 35%. Quặng photphorit là khoáng trầm tích, được hình thành do quá trình kết
tủa Canxiphosphat Ca3(PO4)2 từ nước biển. Trong thiên nhiên quặng phosphorit
thường gặp ở hai loại chủ yếu:
22
Luận văn cao học - Phạm Thị Nhiên – Khóa 2013B
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và tối ưu hoá quá trình sản xuất axit photphoric (PA) trong công nghiệp sản xuất phân bón DAP
Photphorit hình lớp: Là những phiến quặng mịn, màu tro đậm hoặc màu đen có
lẫn silicat, các loại có hóa trị III chiếm khoảng 2 ÷ 3%, P2O5 từ 26 ÷ 30%. Loại
quặng này tốt thuận lợi cho quá trình điều chế Supephotphat.
Photphorit dạng hạt: Loại này chứa nhiều tạp chất, căn cứ vào tạp chất được
chia ra:
-
Photphorit Đất sét: Hàm lượng P2O5 từ 25 ÷ 29%, SiO2 từ 10 ÷ 12%
-
Dolomit: [(Ca, Mg)CO3]; đất sét, đá vôi, muối kết tinh.
Canxiphosphat trong quặng photphoric thường ở dạng floapatit rất nhỏ. Hiện
nay trên thế giới đang khai thác 3 kiểu mỏ quặng phosphat: Mỏ quặng phosphat trầm
tích, mỏ quặng phosphat macma, mỏ quặng Phosphat Glauconit. Trong hai loại quặng
trên thì quặng apatit có hàm lượng P2O5 lớn hơn, tạp chất ít hơn so với quặng
phosphorit, cho nên dùng apatit để sản xuất thì khâu xử lý nguyên liệu thuận lợi hơn,
giá thành rẻ hơn khi dùng quặng photphorit. Quặng apatit có chữ lượng lớn hơn rất
nhiều so với quặng photphorit (photphorit chiếm từ 10÷13% lượng quặng phosphat).
Do vậy quặng apatit là nguồn nguồn liệu phong phú, thuận lợi cho sản xuất axit
photphoric. Ở Việt Nam chủ yếu dùng quặng apatit để sản xuất axit photphoric và sản
xuất các loại phân bón vô cơ.
c) Axit sunfuric
23
Luận văn cao học - Phạm Thị Nhiên – Khóa 2013B
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và tối ưu hoá quá trình sản xuất axit photphoric (PA) trong công nghiệp sản xuất phân bón DAP
Axit sufuric là một trong những axit vô cơ mạnh nhất, nó tác dụng hầu hết với
các kim loại và các oxit của chúng, tham gia vào các phản ứng phân hủy, trao đổi, kết
hợp mãnh liệt với nước. Nó có tính oxi hóa mạnh trong các dung dịch đặc, yếu trong
dung dịch loãng và có nhiều tính chất quan trọng khác.
Hình 2.4. Axit sunfuric dạng lỏng và ứng dụng của axit sunfuric
Axit sunfuric là một chất lỏng không màu, sánh, hút ẩm, M = 98,08 g mol-1
trọng lượng riêng ở 200C là 1,834g/cm3, kết tinh ở 10,370C, có nhiệt độ sôi 296,20C,
phân hủy ở 3380C. Hòa tan trong nước tỏa nhiệt mạnh, ăn mòn mạnh, độ nhớt 26,7cP
tại 200C. Hằng số phân li pKa1 = - 3, pKa2 = 1,99. Ở áp suất thường (760 mmHg) đến
296,20C axit sunfuric bắt đầu sôi và bị phân hủy cho tới khi tạo thành hỗn hợp đẳng phí
chứa 98,3% H2SO4 và 1,7% H2O. Axit sunfuric có hỗn hợp đẳng phí ở nồng độ 98,3%
khi đó nhiệt độ sôi là 336,50C (Hỗn hợp đẳng phí là hỗn hợp có nồng độ pha hơi bằng
nồng độ pha lỏng). Khi tăng nồng độ axit sunfuric, khối lượng riêng của dung dịch
tăng đạt cực đại tại 98,3% sau đó giảm, nhiệt dung của dung dịch giảm, nhiệt độ sôi
của dung dịch tăng đạt cực đại ở 336,50C ở nồng độ 98,3% sau đó nhiệt độ sôi giảm.
Axit sunfuric là một axit vô cơ mạnh ở nhiệt độ sôi nó có thể đẩy được axit khác ra
khỏi muối của nó. Nó là một chất oxi hóa mạnh (tính oxi hóa phụ thuộc vào nồng độ
khác nhau). Axit sunfuric có thể kết hợp với nước theo bất kỳ tỷ lệ nào, khi đó tạo
25
Luận văn cao học - Phạm Thị Nhiên – Khóa 2013B