BCTT ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP TỔNG HỢP PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG ĐẤT TRỒNG CHÈ Ở VÙNG TÂN CƯƠNG, THÁI NGUYÊN SAU 50 NĂM KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG - Pdf 40

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

BÁO CÁO TÓM TẮT TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP
TỔNG HỢP PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG ĐẤT
TRỒNG CHÈ Ở VÙNG TÂN CƯƠNG, THÁI NGUYÊN
SAU 50 NĂM KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG
Mã số: B2014 - TN03-06

Chủ nhiệm đề tài: TS. Ngô Văn Giới

Thái Nguyên, 8/2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

BÁO CÁO TÓM TẮT TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP
TỔNG HỢP PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG ĐẤT
TRỒNG CHÈ Ở VÙNG TÂN CƯƠNG, THÁI NGUYÊN
SAU 50 NĂM KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG
Mã số: B2014 - TN03-06

Xác nhận của tổ chức chủ trì


Nội dung nghiên cứu cụ thể
được giao

nghệ môi trường

Điều tra khảo sát
Viết chuyên đề

2

ThS.

Trần

Thị Khoa

KHMT&TĐ- Phân tích mẫu đất, nước, chè

Trường ĐHKH/ Khoa

Ngọc Hà

học Môi trường

Điều tra khảo sát
Viết chuyên đề

3

ThS. Vi Thùy Linh

nhưỡng Phân tích mẫu đất, nước và

Nông hóa/ Khoa học chè
Môi trường

6

ThS.
Chiến

Đàm

Thế Trung tâm Nghiên cứu Xây dựng các mô hình
Đất và Phân bón vùng Thiết kế thí nghiệm
Trung du/ Canh tác,
bảo vệ đất

Chữ



2. Đơn vị phối hợp chính
Họ và tên

Tên đơn vị
Nội dung phối hợp nghiên cứu
trong và ngoài nước

Viện Thổ nhưỡng Nông
hóa

1.2. Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài tại Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên ...... 1
1.3. Các biện pháp bảo vệ đất và duy trì hàm lượng chất hữu cơ trong đất trồng chè .... 1
1.4. Các nghiên cứu về vấn đề tủ gốc ảnh hưởng đến chất lượng đất trồng chè ............. 1
1.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của khu vực nghiên cứu ................................ 1
Chương 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ....................................................................................................... 2
2.1. Mục tiêu của đề tài ................................................................................................... 2
2.2. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................................... 2
2.3. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................. 2
2.4. Cách tiếp cận ............................................................................................................ 2
2.5. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................... 2
2.6. Nội dung nghiên cứu ............................................................................................... 2
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN............................................. 2
3.1. Thực trạng phát triển sản xuất chè của vùng chè đặc sản Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên . 2
3.2. Hiện trạng môi trường đất trồng chè tại khu vực nghiên cứu .................................. 2
3.3. Hiện trạng môi trường nước tưới tại khu vực nghiên cứu ....................................... 5
3.4. Thực trạng môi trường nông sản (búp chè tươi) khu vực nghiên cứu...................... 6
3.5. Hiện trạng sâu, bệnh hại chè tại khu vực nghiên cứu ............................................... 6
3.6. Kết quả nghiên cứu thử nghiệm hiệu quả một số loại bẫy sinh học......................... 6
3.7. Ảnh hưởng của vật liệu tủ gốc (tế guột) đến tính chất đất tại khu vực nghiên cứu . 9


3.8. Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ vi sinh đến năng suất, chất lượng
chè khu vực nghiên cứu ........................................................................................ 10
3.9. Quy trình kỹ thuật phục hồi môi trường đất trồng chè ........................................... 11
3.10. Mô hình và hiệu quả của các giải pháp tổng hợp tới chất lượng đất và chè ........ 12
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................................................... 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

thoái hóa, bạc mầu như sử dụng vật liệu che tủ đất, sử dụng phân bón hữu cơ


vi sinh và sử dụng bẫy sinh học để hạn chế hóa chất bảo vệ thực vật. Từ đó
đề tài tiến hành xây dựng quy trình kỹ thuật trong cải tạo đất trồng chè tại
khu vực nghiên cứu và đã áp dụng thử nghiệm cho 3 mô hình bước đầu đã
có những thành công nhất định.
4. Kết quả nghiên cứu:

- Đề tài đã nghiên cứu được tổng quan về khu vực nghiên cứu.
- Thu thập tài liệu số liệu, điều tra nông hộ, khảo sát thực địa lấy mẫu để định
hiện trạng môi trường đất, nước, thực vật (chè) tại khu vực nghiên cứu.

- Đã nghiên cứu, xây dựng quy trình phục hồi độ phì nhiêu đất trồng chè ở
vùng chè đặc sản Tân Cương, Thái Nguyên sau 50 năm khai thác và sử dụng.

- Xây dựng được 03 mô hình áp dụng các giải pháp tổng hợp góp phần phục
hồi độ phì nhiêu đất trồng chè ở vùng chè đặc sản Tân Cương, Thái Nguyên
sau 50 năm khai thác và sử dụng.
5. Sản phẩm:
5.1.

Sản phẩm khoa học

Có 03 bài báo đăng trên tạp chí Khoa học đất:
1. Ngô Văn Giới (2015), Đánh giá hiện trạng môi trường đất trồng chè tại vùng
chè đặc sản Tân Cương Thái Nguyên¸Khoa học Đất/Hội Khoa học Đất Việt
Nam, N046 2015, p. 68-73
2. Ngô Văn Giới, Nguyễn Thị Nhâm Tuất, Nguyễn Viết Hiệp, Nguyễn Minh
Hưng (2014), Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ vi sinh đến năng

2. Bùi Thị Hường (2016), Nghiên cứu thử nghiệm một số loại bẫy sinh học trong
phòng trừ sâu, bệnh hại chè tại vùng chè đặc sản Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên.
Khóa luận tốt nghiệp trường Đại học Khoa học Thái Nguyên.
Có 01 đề tài luận văn thạc sĩ đã bảo vệ đạt kết quả tốt:
1. Đào Tiến Huân (2014), Đánh giá hiện trạng môi trường đất trồng chè và đề
xuất các giải pháp quản lý, sử dụng theo hướng bền vững tại vùng chè đặc sản


Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội.
Có 01 NCS tham gia đề tài đã bảo vệ cấp cơ sở đạt kết quả tốt:
1. Vi Thùy Linh (2016), Đánh giá hiệu quả tích lũy carbon của phương thức nông
lâm kết hợp keo – chè tại vùng đệm Khu Bảo tồn Thiên nhiên Thần Sa –
Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Luận án tiến sĩ Trung tâm
nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc Gia Hà Nội.
Sản phẩm ứng dụng:

5.3.

– 01 quy trình kỹ thuật áp dụng các biện pháp tổng hợp phục hồi môi trường đất
trồng chè Tân Cương sau 50 năm khai thác, sử dụng.
– 03 mô hình áp dụng quy trình kỹ thuật áp dụng các biện pháp tổng hợp phục hồi
môi trường đất trồng chè Tân Cương sau 50 năm khai thác, sử dụng.
6. Phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của kết quả
nghiên cứu:

-

Trong quá trình thực hiện, đề tài đã phối hợp cùng với các viện, trung tâm
nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp để chuyển giao kết quả nghiên cứu.


Coordinator: Dr. Ngo Van Gioi
Phone: 0987343119

Email:

Implementing institution: Thainguyen University of Science

Duration: From 1/2014 to 12/2016
2. Objectives:
- Assessing the environmental state of tea cultivation in Tancuong Thainguyen areas.
- Recommend solutions to recovery for tea soil fertility in research areas to increase
productivity and quality of tea plants where after 50 years of exploitation and use.
3. Creativeness and innovativeness:
- The study has assessed state of environmental of specialty tea Tancuong areas
- The project has conducted successful test several solutions to improve for tea soil
where cultivated over 50 years. Such as using mulch materials, micro-organic
fertilizer and use bio traps. Since then project gives process techniques to improve tea
soil and applied to three models.
4. Research results:
- The project has shown overview of the study area.
- Collectting documents, data and household surveys, sampling fieldwork to to
determine the environmental state of the soil, water, plants (tea) in the study area.


- Researched and construction processes of soil fertility restoration in the specialty tea
Tancuong, Thainguyen after 50 years of exploitation and use.
- Constructing 03 models and have applied to recover soil fertility in the specialty tea
Tancuong, Thainguyen area where exploited and used after 50 years.
5. Products:

There are 02 graduation thesises:
1. Dang Thi Thao (2016), Studying effect on time mulching to organic matter content
in tea estates in Tancuong, Thai Nguyen area. Graduation thesis Thainguyen
University of Science.
2. Bui Thi Huong (2016), Studying teste some traps in the biological control of pests
and diseases in the specialty tea Tancuong Thai Nguyen area. Graduation thesis
Thainguyen University of Science.
There is 01 master of thesis:
1. Dao Tien Huan (2014), Assessing environmental state of tea field and proposed
management solutions, used in a sustainable way in the specialty tea Tancuong Thai
Nguyen area, Masters of thesis University of Hanoi Natural Sciences.
There is 01 PhD of thesis:
1. Vi Thuy Linh (2016), Evaluating of the effect of accumulating carbon agroforestry
methods glue - tea in the buffer zone Nature Reserve Thansa - Phuonghoang, Vonhai
district, Thai Nguyen province. PhD of thesis, Research of Natural Resources and
Environment Center, Hanoi National University.


6. Transfer alternatives, application institutions, impacts and benefits of research
results:

- The project has collaborated with institutes and research centers of the Ministry of
Agriculture to transfer research results.
- Project has cooperated with local farmers in the region to participate to implement
the project, according to each function and ability to perform to be jointly
implemented by the relevant content.
- The theme has built 03 local models that efficient training way, technology transfer.
- The theme was applied at 3 communes are: Tancuong, Phucxuan Phuctriu in
Thainguyen City, Thainguyen Province.
- The theme will be making references serves learning and research for students and

1.2. Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài tại Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên
1.3. Các biện pháp bảo vệ đất và duy trì hàm lượng chất hữu cơ trong đất trồng chè
1.4. Các nghiên cứu về vấn đề tủ gốc ảnh hưởng đến chất lượng đất trồng chè
1.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của khu vực nghiên cứu
Chương 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được hiện trạng môi trường đất trồng chè của vùng Tân Cương, Thái Nguyên.
- Đề xuất được giải pháp phục hồi độ phì nhiêu của đất trồng chè vùng nghiên cứu góp phần tăng
năng suất, chất lượng cây chè sau 50 năm khai thác và sử dụng.
2.2. Đối tượng nghiên cứu

1


- Đất trồng chè tại khu vực nghiên cứu, phân bón, cây chè, các kỹ thuật canh tác chè và bảo vệ môi
trường đất trồng chè hiện tại của người dân khu vực nghiên cứu.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại các khu vực đất trồng chè ít nhất trên 50 năm,
nằm trong vùng chỉ dẫn địa lý “Tân Cương”. Các vùng được lựa chọn là các vùng có năng suất và chất
lượng chè hiện tại bị suy giảm. Cụ thể tại 3 xã là: Tân Cương, Phúc Xuân, Phúc Trìu vùng trồng chè Tân
Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành trong khoảng thời gian từ 1/2014-6/2016. Các số
liệu được thu thập và tham khảo trong giai đoạn từ năm 2000-nay.
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu tập trung vào đánh giá hiện trạng tính chất hóa lý của đất, nghiên
cứu ảnh hưởng của các giải pháp tới tính chất đất và năng suất cũng như chất lượng chè tại các khu vực
thí nghiệm.
2.4. Cách tiếp cận
- Tiếp cận tổng hợp
- Tiếp cận dựa vào cộng đồng

Vùng chè đặc sản cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 10km về phía Tây, bao gồm ba
xã Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân. Với tổng diện tích chè là 967,0 ha, có 3.435 hộ tham gia trồng chè,
trong đó có 71,1% số hộ thu nhập chính từ cây chè cho thấy hiệu quả kinh tế và sự phát triển bền vững
của cây chè trên địa bàn thành phố. Diện tích chè của vùng liên tục được mở rộng và tăng nhanh qua các
năm, đến năm 2014 là 967,0 ha, trong đó chè thu hoạch (kinh doanh) là 868,0 ha, chè kiến thiết cơ bản là
91,3ha, chè trồng cành là 625,0 ha. Giống chè trung du được trồng từ hạt chiếm 27,03%. Giống chè giống
mới được trồng bằng cành giâm chiếm 72,97%. (chè LDPI: 200 ha, chè TRI777: 300ha, Kim Tuyên:
250ha, giống chè khác 92 ha). Diện tích chè kinh doanh: 868,0 ha. Năng suất thực thu: 144 tạ/ha. Sản
lượng búp tươi: 12.499,2 tấn.
Tại khu vực nghiên cứu 3 xã trồng chè rất đa dạng. Các hộ dân chủ yếu trồng giống chè TRI 777
29/30 (97%) và chè lai 26/30 (87%) vì các giống chè này cho năng suất cao, sức sinh trưởng nhanh (7 – 8
lứa/năm) và được ưa chuộng trên thị trường. Tuy chè Trung du hay còn gọi là chè ta rất nổi tiếng khi nói
đến chè Tân Cương nhưng hiện nay người dân ít trồng chỉ có 19/30 (63%) hộ trồng, người dân dần thay
thế các giống chè có năng suất hơn, có sức chống chịu với môi trường ở khoảng rộng cùng với sự chống
chịu các loại sâu bệnh hại tốt hơn.
3.2. Hiện trạng môi trường đất trồng chè tại khu vực nghiên cứu
3.2.1. Đặc điểm và tính chất vật lý của đất tại khu vực nghiên cứu
Kết quả xác định thành phần cơ giới của đất nghiên cứu cho thấy các mẫu đất đều có thành phần
cơ giới là thịt trung bình, đất tương đối xốp, ẩm, nhiều rễ cây, có màu đỏ vàng, khá thích hợp với việc
trồng các cây lâu năm. Độ ẩm đất dao động từ 16,63% đến 24,37%, trung bình là 20,65%. Dung trọng các
mẫu đất nghiên cứu dao động từ 1,13 đến 1,49g/cm3, trung bình là 1,34 g/cm3 (Bảng 3.8). Độ chua của
đất dao động từ 3,75 – 4,15, trung bình là 3,92. Đất nghiên cứu có biểu hiện bị chua hóa, có thể do hoạt
động thâm canh, nhất là mức độ sử dụng phân lân cao liên tục trong những năm gần đây ở khu vực
nghiên cứu. Thêm vào đó, hàng năm các hộ trồng chè còn bổ sung thêm một lượng lớn các vật liệu hữu
cơ để tủ gốc cho chè, theo thời gian, quá trình phân hủy các vật liệu hữu cơ này cũng sinh ra các axit hữu
cơ, từ đó làm tăng độ chua của đất. Ngoài ra, đất trồng chè ở Tân Cương là vùng trung du đồi núi, đất dốc
nên có thể còn xảy ra quá trình Feralit hóa, rửa trôi mạnh các kim loại kiềm, kiềm thổ đồng thời tích lũy
tương đối các hợp chất ôxít sắt, nhôm. Các ion H+ và Al3+ cũng được tích lũy làm cho đất chua (Hội Khoa
Học Đất Việt Nam, 2000).
3.2.2. Một số thông số dinh dưỡng cơ bản của đất tại khu vực nghiên cứu

8,25 mg/100g đất, trung bình là 6,63 mg/100g đất, đánh giá ở mức nghèo ( 10 mg/ kg đất. Như vậy nhìn chung
đất trồng chè Tân Cương, Thái Nguyên mặc dù chưa bị coi là ô nhiễm As (theo quy chuẩn Việt Nam,
mức giới hạn As trong đất cho các hoạt động nông nghiệp là 12 mg/ kg đất khô) tuy nhiên cũng đã có sự
cảnh báo đối với một số mẫu đất thuộc nhóm mẫu lấy ở đất khu vực này. Về As linh động, kết quả phân
tích cho thấy nó dao động quanh mức 0,39 – 0,72 mg/kg đất khô, đạt trị số trung bình khoảng 0,56 mg/kg
đất khô.
b. Cd tổng số và linh động
Kết quả điều tra, phân tích với tổng số 90 mẫu đất cho thấy, hàm lượng Cd trong đất khu vực
nghiên cứu dao động trong khoảng 0,4 – 1,9 mg/kg đất khô, trung bình đạt 1,37 mg/kg đất khô. Theo quy
chuẩn Việt Nam, giới hạn Cd trong đất nông nghiệp là 2 mg/kg đất khô. Như vậy đất khu vực nghiên cứu
chưa bị ô nhiễm Cd tuy nhiên cũng đã có một số mẫu đất tiến gần tới giá trị cảnh báo. Giá trị phát hiện
thấy Cd linh động tương đối thấp, hầu hết đều < 0,5 mg/kg đất khô.
c. Pb tổng số và linh động:

Nhóm vi sinh vật phân giải hữu cơ ở mức trung bình, số lượng dao động từ 2,2x105 đến 4,6x105
CFU/g đất ở tầng 0 - 20 cm; 2,1x103 đến 6,4x103 CFU/g đất ở tầng 20 - 40 cm.
Đặc biệt nhóm vi sinh vật cố định nitơ tự do không phát hiện thấy trong cả 90 mẫu đất lấy phân tích,
điều này có thể do pH đất không thích hợp và do hàm lượng nitơ tổng số trong đất giầu nên đã ức chế sự
sinh trưởng và phát triển của nhóm vi sinh vật này.
3.3.
Hiện trạng môi trường nước tưới tại khu vực nghiên cứu
3.3.1. Một số thông số vật lý của nước tưới (độ đục, hàm lượngcặn lơ lửng (TSS))
- Độ đục
Giá trị phân tích trung bình thu đượcở 90 mẫu nước là 2,47 NTU (1 NTU = 1 mg SiO2/ lít = 1
đơn vị độ đục), dao động từ 1,36 – 4,57 NTU. Như vậy các mẫu nước đều đảm bảo tiêu chuẩn cho phép.
- TSS
Hàm lượng cặn lơ lửng (TSS) trong các mẫu nước dao động từ 4,37 – 11,52 mg/l, trung bình đạt
7,21 mg/lít, vẫn nằm trong giới hạn cho phép.
3.3.2. Một số thông số hóa học của nước tưới tại khu vực nghiên cứu
pH của các mẫu nước dao động trong khoảng 5,7 – 6,6, đáp ứng hoàn toàn Quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về chất lượng nước dùng cho tưới tiêu (QCVN 39:2011/BTNMT). Hàm lượng PO43- trong 90
mẫu nước đều < 0,1mg/l, trung bình đạt 0,06 mg/l. Hàm lượng NH4+ cũng như NO3- đều nhỏ hơn 0,1, đạt
giá trị trung bình lần lượt là 0,07 và 0,04 mg/l.
3.3.3. Các chỉ tiêu về vi sinh vật của nước tưới (Coliform tổng số)
Kết quả quan trắc cho thấy 90/90 mẫu nước đều đáp ứng đủ về quy định này. Số liệu phân tích
cho thấy giá trị trung bình của mẫu là 47 MPN/100 ml nước tưới, dao động từ 0 – 138 MPN/ 100 ml nước
tưới.
3.3.4. Kim loại nặng trong nước tưới (As, Cd, Pb, Hg tổng số)
Asen:

5


Kết quả phân tích cho thấylượng As tổng số dao động trong khoảng 0,01 – 0,03 mg/lít. Chỉ có

Qua việc tìm hiểu 90 hộ trên khu vực nghiên cứu, tỷ lệ các loại sâu bệnh trên cây chè ở các hộ
trong từng xã cho thấy, số lượng sâu bệnh xuất hiện trên các vườn chè rất đa dạng. Loại sâu hại đặc trưng
nhất trên vườn chè là rầy xanh và bọ cánh tơ có 100% trong các hộ trồng chè. Đồng thời, 46,7% vườn chè
của các hộ dân mắc bệnh nhện và 60% mắc bệnh bọ xít muỗi ở xã Tân Cương. Tại xã Phúc Trìu tỷ lệ
vườn chè mắc bệnh nhện đỏ là 45% và 35% mắc bệnh bọ xít muỗi, xã Phúc Xuân với tỷ lệ vườn chè mắc
bệnh nhện đỏ là 40% và bọ xít muỗi 20%. Bên cạnh đó tỷ lệ bệnh hại xuất hiện trên vườn chè của các hộ
dân khá lớn. Đặc biệt là bệnh phồng lá chè có tỷ lệ lớn nhất với 100% bệnh xuất hiện trên vườn chè của
các hộ dân tại xã Tân Cương, 75% tại xã Phúc Trìu và 86,7% tại xã Phúc Xuân. Các bệnh còn lại sâu
bệnh xuất hiện với tỷ lệ cũng tương đối lớn, xã Tân Cương có 46,7% vườn chè mắc bệnh phồng lá chè
mắt lưới, 40% vườn bệnh đốm nâu và 80% vườn mắc bệnh thối búp. Tại xã Phúc Trìu có 30% vườn mắc
bệnh phồng lá chè mắt lưới, 30% vườn chè mắc bệnh đốm nâu và bệnh thối búp là 70%. Tại xã Phúc
Xuân, vườn chè của hộ dân có tỷ lệ các bệnh phồng lá chè mắt lưới, bệnh đốm nâu và thối búp lần lượt là
20%, 33,3%, 53,3%. Hình 3.2 thể hiện rõ hơn về các loại bệnh hại trong 3 xã của khu vực nghiên cứu:
Hàng năm trong điều kiện không sử dụng các biện pháp phòng trừ, sâu bệnh có thể gây hại tới 20%
sản lượng chè. Sâu bệnh không những làm giảm đến sự phát triển và năng suất, mà còn làm giảm chất
lượng chè do đó các hộ dân đã tiến hành sử dụng thuốc BVTV để ngăn ngừa giảm thiểu sâu bệnh hại và
tăng năng suất chè.

6


3.6. Kết quả nghiên cứu thử nghiệm hiệu quả một số loại bẫy sinh học
3.6.1. Kết quả nghiên cứu thử nghiệm bẫy bả chua ngọt
3.6.1.1. Kết quả nghiên cứu thử nghiệm bẫy bả chua ngọt tại xã Tân Cương từng ngày
Diễn biến của các loài sâu hại khác nhau nên sự xuất hiện và mức độ gây hại của các loài qua các
thời kỳ theo dõi cũng khác nhau. Trong quá trình thử nghiệm bẫy bả chua ngọt tại xã Tân Cương, các loài
sâu hại (Rầy xanh, bọ trĩ, bướm…) đều xuất hiện. Trong đó, mật độ bọ trĩ đạt cao điểm sau một ngày đặt
bẫy vào ngày 3/1, với mật độ 43 con/ngày, sau đó mật độ giảm dần, với mật độ trung bình dao động 16,86
con/ngày.
Rầy xanh xuất hiện và đạt cao điểm nhất vào ngày 4/1, với mật độ 15 con/ngày; cao điểm thứ 2

3.6.2. Kết quả nghiên cứu thử nghiệm bẫy dính màu vàng
Kết quả cho thấy đối với bẫy dính màu vàng trên vườn chè tại các xã đều cho hiệu quả không cao.
Các thí nghiệm chủ yếu thu bắt các loại côn trùng nhỏ như: bọ trĩ, rầy xanh, bọ xít muỗi, bướm nhỏ…
Nhìn chung, khả năng thu bắt bọ trĩ là tốt nhất. Với các loại bướm nhỏ là ít nhất chỉ dao động từ 1 – 3
con/ bẫy sau khi đặt bẫy 7 ngày. Đặc biệt đối với loại bẫy dính màu vàng không thu hút loài nhện đỏ.
a. Kết quả thử nghiệm bẫy dính màu vàng tại xã Tân Cương
Kết quả cho thấy ngày thứ 2 sau khi đặt bẫy thu hút được tất cả các loại côn trùng với số lượng
trung bình 18 con/ ngày. Sau đó giảm dần vào các ngày tiếp theo. Ngày 17/2 có mật độ sâu bệnh cao điểm
thứ hai với 6 con/ngày. Càng về cuối đợt thử nghiệm thì hiệu quả thu hút càng kém. Vào ngày cuối cùng
thì chỉ thu được 4 con/ngày. Trong đó, bọ trĩ xuất hiện với tần suất nhiều nhất 6/7 ngày. Bướm xuất hiện
với tần suất thấp hơn 5/7 ngày, tuy nhiên chỉ thu được các loại bướm nhỏ. Loài có tần suất xuất hiện thấp
nhất là loài rầy xanh.

7


b. Kết quả thử nghiệm bẫy dính màu vàng tại xã Phúc Trìu
Kết quả cho thấy ngày thứ 2 đặt bẫy ngày 15/2 thu hút được tất cả các loại côn trùng với số lượng
trung bình 10 con/ ngày. Sau đó giảm dần vào các ngày tiếp theo. Ngày 16/2 có mật độ sâu bệnh cao điểm
thứ hai với 7 con/ngày. Càng về cuối đợt thử nghiệm thì hiệu quả thu hút càng kém. Vào ngày cuối cùng
thì chỉ thu được 2 con/ngày. Trong đó, bọ trĩ xuất hiện với tần suất nhiều nhất 6/7 ngày. Bọ xít muỗi xuất
hiện với tần suất thấp hơn 6/7 ngày, tuy nhiên chỉ thu được các loại bướm nhỏ. Loài có tần suất xuất hiện
thấp nhất là loài rầy xanh cả đợt theo dõi bẫy chỉ bắt được 7 con xuất hiện với mật độ trung bình 1
con/ngày.
c. Kết quả thử nghiệm bẫy dính màu vàng tại xã Phúc Xuân
Kết quả cho thấy ngày đầu tiên đặt bẫy thu hút được tất cả các loại côn trùng với số lượng trung
bình 7 con/ ngày. Sau đó giảm dần vào các ngày tiếp theo. Ngày 16/2 có mật độ sâu bệnh cao điểm thứ
hai với 6 con/ngày. Càng về cuối đợt thử nghiệm thì hiệu quả thu hút càng kém. Vào ngày cuối cùng thì
chỉ thu được 2 con/ngày. Trong đó, bọ trĩ xuất hiện với tần suất nhiều nhất 7/7 ngày. Bọ xít muỗi xuất
hiện với tần suất thấp hơn 4/7 ngày, tuy nhiên chỉ thu được các loại bướm nhỏ. Loài có tần suất xuất hiện

bình là 0,42 con/ngày.

8


3.7. Ảnh hưởng của vật liệu tủ gốc (tế guột) đến tính chất đất tại khu vực nghiên cứu
3.7.1. Ảnh hưởng của thời gian tủ gốc đến hàm lượng chất hữu cơ trong đất
Kết quả thí nghiệm cho thấy hàm lượng chất hữu cơ được tích lũy trong đất có sự thay đổi theo thời
gian tủ gốc. Tổng lượng chất hữu cơ tích lũy được tăng cao và tập trung chủ yếu ở thời gian từ 1 năm đến
2 năm sau khi tủ gốc, hàm lượng chất hữu cơ trong đất có giá trị cao nhất và khoảng 2 năm sau khi che tủ
bằng tế guột.
Sau 1 năm, hàm lượng chất hữu cơ trong đất có xu hướng tăng nhanh, có giá trị trung bình 4,52%,
tăng lên so với khi chưa tủ gốc là 0.64%. Kết quả này có thể do tế guột có khả năng phân hủy chậm; do tế
guột có hàm lượng hydratcacbon (lignin, xenlulo và hemixenlulo) và tỷ lệ C/N khá cao. Vì vậy trong
khoảng thời gian 12 tháng đầu khi bắt đầu che tủ, tế guột chưa bị phân giải nhiều. Trong 12 tháng đầu
việc che tủ tế guột cung cấp 1 hàm lượng rất nhỏ chất hữu cơ cho đất, chủ yếu chỉ có ý nghĩa trong việc
bảo vệ độ phì, phòng chống xói mòn, cỏ dại và đặc biệt là duy trì độ ẩm vào 6 tháng khô hạn trong năm.
Hiểu được ý nghĩa của hoạt động canh tác này nên người dân trồng chè thường che tủ trong khoảng thời
gian từ tháng 2 đến tháng 3 trong năm, với điều kiện khí hậu đặc trưng của Việt Nam thì đây là thời điểm
lý tưởng với nhiệt lượng và độ ẩm khá cao đã tác động đến quá trình phân hủy nhanh của tế guột tạo một
lớp phủ thảm mục cho đất nhằm tăng cường độ ẩm cho cây trong thời gia khô hạn sau đó.
Sau 2 năm, các phần còn lại của tàn dư tế guột khó phân hủy cộng với số lượng giảm dần nên quá
trình cung cấp chất hữu cơ cho đất cũng giảm. Lúc này quá trình khoáng hóa chất hữu cơ có xu hướng
tăng lên trong khi quá trình mùn hóa lại giảm xuống. Sau 3 năm tủ gốc bằng tế guột, hàm lượng chất hữu
cơ đạt được làm 4,39%, tuy có giảm 0,39% so với thời điểm 2 năm, nhưng hàm lượng CHC vẫn đạt ở
mức khá. Ở thời điểm 4 năm, hàm lượng chất hữu cơ tuy có giảm nhưng không nhiều so với 3 năm,
nhưng vẫn tăng hơn so với thời điểm ban đầu khi chưa che tủ là 0,14%.
Kết quả chất hữu cơ trong đất không tăng lên mà còn có dấu hiệu suy giảm. Do vậy sau 3 - 4 năm có
thể là thời gian cần thiết để bổ sung thêm các nguồn chất hữu cơ cho đất để duy trì hàm lượng ổn định.
Sự gia tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất có ý nghĩa rất lớn cải thiện tính chất của đất, tăng sự

nghiên cứu
3.8.1. Ảnh hưởng của số loại phân bón hữu cơ vi sinh đến năng suất chè xanh giai đoạn kinh doanh
Kết quả thí nghiệm cho thấy bước đầu việc sử dụng các loại phân bón hữu cơ vi sinh khác nhau có
ảnh hưởng đến mật độ búp; trọng lượng búp và năng suất tươi ở 7 công thức. 6 công thức có bón phân
hữu cơ vi sinh (CT2, CT3, CT 4, CT5, CT6 và CT7) đều làm tăng mật độ búp so với công thức đối chứng
không bón phân vi sinh. Sự sai khác trong các nhóm công thức (CT2&CT3; CT4&CT5; CT6&CT7) là
có. Trong đa số trường hợp khi thêm 30% lượng phân khoáng bằng phân hữu cơ vi sinh tương ứng đều
làm tăng mật độ búp ngoại trừ phân hữu cơ vi sinh Quế Lâm 01 trong CT4& CT5.
Tuy nhiên, kết quả phân tích về trọng lượng búp lại cho thấy khi sử dụng 3 loại phân bón vi sinh này
làm giảm trọng lượng búp chè tươi giai đoạn kinh doanh so với đói chứng không bón phân vi sinh. Việc
thêm 30% lượng phân khoáng dưới dạng phân bón phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh và phân hữu cơ sinh
học Cầu Diễn tương ứng không làm tăng thêm trọng lượng búp mà đôi khi còn dẫn đến hiện tượng giảm
trọng lượng búp chè tươi.
Khi xét đến năng suất tươi sau mỗi lứa hái kết quả phân tích cho thấy sử dụng phân hữu cơ vi sinh
Sông Gianh đã làm tăng năng suất búp tươi so với đối chứng. Với phân hữu cơ vi sinh Quế Lâm 01, hiệu
quả tăng năng suất búp tươi có sự trái ngược, ở công thức giảm 30% lượng phân khoáng, năng suất cao
hơn đối chứng, ở mức giữ nguyên phân khoáng và tăng 30% lượng phân hữu cơ năng suất nhìn chung
không có sai khác đáng kể. Với phân hữu cơ sinh học Cầu Diễn, nếu giảm 30% lượng phân khoáng sẽ
làm giảm năng suất búp so với đối chứng.
Kết quả trái ngược nhau về năng suất búp tươi khi thêm hoặc giảm 30% lượng phân khoáng bằng
phân hữu cơ vi sinh tương ứng của loại phân phân hữu cơ vi sinh Quế Lâm 01 cần phải nghiên cứu, dánh
giá kỹ lưỡng hơn.
3.8.2. Ảnh hưởng của số loại phân bón hữu cơ vi sinh đến chất lượng chè búp khô của chè xanh Tân
Cương giai đoạn kinh doanh
Kết quả phân tích hàm lượng tanin trong búp chè xanh thành phẩm của các công thức thí nghiệm và
đối chứng cho thấy tanin giảm đi đáng kể sau khi sử dụng phân hữu cơ so với đối chứng chỉ sử dụng phân
khoáng. Với cả 3 loại phân thử nghiệm, khi thêm 30% lượng phân khoáng bằng phân hữu cơ tương ứng
làm tăng đáng kể hàm lượng tanin so với công thức thay thế 30% lượng phân khoáng bằng phân hữu cơ.

10

dụng lượng 25 – 30 tấn/chu kỳ (3 năm).
o Phân đạm (urê): 600 kg/ha/năm
o Phân lân (supe lân): 300 kg/ha/chu kỳ 3 năm
o Phân kali: 200 – 250 kg/ha/năm
o Trung, vi lượng: Lượng phun cho 1 lần cho 1ha : Mg= 10 kg MgO (bằng MgCl2);
S=10 kg S (bằng diêm sinh); B= 170 g B (bằng axit boric); Mo= 250 g molipdat
amôn; Cu= 500 g CuSO4; Mn = 1kg; Zn= 2 kg
 Cách bón:
o Phân hữu cơ/ phân hữu cơ vi sinh: Cuốc đất, tạo rãnh, bón phân và lấp đất. Bond từ
tháng 12 năm trước đến tháng 1 năm sau
o Phân đạm (urê): Có thể bón vãi dọc luống sau từng lứa hái hoặc cuốc đất, tạo rãnh,
bón phân và lấp đất. Một năm 3 – 4 lần.
o Phân lân (supe lân): Cuốc đất, tạo rãnh, bón phân và lấp đất.
o Trung, vi lượng: 1 năm phun 4 lần. Phun vào chiều mát, không mưa.

11



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status