Lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh tối đa cho nữ vận động viên đội tuyển đẩy gậy trường THPT hiệp hòa số 4 bắc giang - Pdf 40

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

NGUYỄN THỊ OANH

LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
SỨC MẠNH TỐI ĐA CHO NỮ VẬN ĐỘNG
VIÊN ĐỘI TUYỂN ĐẨY GẬY TRƢỜNG
THPT HIỆP HÒA SỐ 4 - BẮC GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

HÀ NỘI - 2016


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

NGUYỄN THỊ OANH

LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
SỨC MẠNH TỐI ĐA CHO NỮ VẬN ĐỘNG
VIÊN ĐỘI TUYỂN ĐẨY GẬY TRƢỜNG
THPT HIỆP HÒA SỐ 4 - BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên nghành: Sƣ phạm GDTC
Hƣớng dẫn khoa học

ThS: LÊ XUÂN ĐIỆP

HÀ NỘI - 2016

HLV

: Huấn luyện viên

LVĐ

: Lượng vận động

m

: Mét

NĐC

: Nhóm đối chứng

NTN

: Nhóm thực nghiệm

m

: Giây

SMTĐ

: Sức mạnh tối đa

STN



MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ

1

CHƢƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

4

Những quan điểm của Đảng và nhà nƣớc về GDTC

4

1.1

trƣờng học
1.2

Công tác GDTC trong nhà trƣờng phổ thông

5

1.2.1

Mục tiêu

5



1.4.1

Kỹ - chiến thuật trong Đẩy gậy

8

1.4.2

SMTĐ trong Đẩy gậy

9

1.5

Các nguyên tắc huấn luyện SMTĐ

10

1.5.1

Cơ sở lý luận của các nguyên tắc

10

1.5.2

Những đặc điểm huấn luyện SMTĐ trong môn Đẩy gậy

15

2.2

Phƣơng pháp nghiên cứu

19


2.2.1

Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

19

2.2.2

Phương pháp quan sát sư phạm

19

2.2.3

Phương pháp phỏng vấn

20

2.2.4

Phương pháp kiểm tra sư phạm

20


2.3.3

Đối tượng nghiên cứu

23

2.3.4

Trang thiết bị nghiên cứu

23

CHƢƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1

Đánh giá thực trạng công tác GDTC, xu hƣớng phát

24
24

triển và lựa chọn phƣơng tiện đánh giá SMTĐ của nữ
VĐV đội tuyển Đẩy gậy trƣờng THPT Hiệp Hòa số 4 Bắc Giang
3.1.1

Đánh giá thực trạng công tác GDTC, xu hướng phát triển

24

SMTĐ cho nữ VĐV đội tuyển Đẩy gậy trường THPT Hiệp

THPT Hiệp Hòa số 4 - Bắc Giang
3.2.1

Lựa chọn các bài tập

33

3.2.2

Kiểm tra đánh giá đối tượng nghiên cứu trước quá trình

38

nghiên cứu và ứng dụng
3.2.3

Tổ chức thực nghiệm

41

3.2.4

Đánh giá đối tượng nghiên cứu sau thực nghiệm

44

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


Bảng 3.4

Kết quả phỏng vấn lựa chọn test kiểm tra SMTĐ cho nữ

30

VĐV Đẩy gậy trường THPT Hiệp Hòa số 4 - Bắc Giang
(n = 43)
Bảng 3.5

So sánh SMTĐ của nữ VĐV đội tuyển Đẩy gậy trường

32

THPT Hiệp Hòa số 4 và trường THPT Hiệp Hòa số 1
(n = 20).
Bảng 3.6

Kết quả phỏng vấn lựa chọn các bài tập phát triển

35,36

SMTĐ cho nữ VĐV đội tuyển Đẩy gậy trường THPT
Hiệp Hòa số 4 - BắcGiang (n = 43)
Bảng 3.7

Kết quả phỏng vấn về số buổi tập trong một tuần cho

38



Biểu đồ

Biểu đồ biểu diễn sự khác biệt về mặt thành tích thu

3.1

được của hai test TTN của hai nhóm

Biểu đồ

Biểu đồ biểu diễn sự khác biệt về mặt thành tích thu

3.2

được STN của hai nhóm

Biểu đồ

Biểu đồ so sánh sự khác biệt của NĐC trước và STN

48

Biểu đồ so sánh sự khác biệt của NTN trước và STN

48

41

45

Đẩy gậy đang và được phát triển mạnh ở các tỉnh như: Thái Nguyên,
Bắc Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Thành Phố Hồ Chí Minh… Hiện nay,
Đẩy gậy không chỉ dừng lại ở trò chơi dân gian mà còn được đưa vào thi đấu


2
mang tính chất chuyên nghiệp trong các cuộc thi thể thao. Đẩy gậy đã chính
thức là một trong số 40 môn thể thao nằm trong hệ thống thi đấu của Đại hội
TDTT toàn quốc lần thứ VI - năm 2010, đánh dấu bước ngoặt phát triển cho
môn thể thao dân tộc này. Ngày 29/5/2015, tại Trung tâm hoạt động thể thao
tỉnh Sơn La, Sở văn hóa - thể thao và du lịch tỉnh Sơn La đã đăng cai tổ chức
khai mạc giải vô địch đẩy gậy toàn quốc lần thứ IX năm 2015, với trên 160
VĐV đến từ các tỉnh như: Lai Châu, Điện Biên, Hòa Bình, Bắc Giang, Hà
Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh… tham gia ở 26 hạng cân. Bao gồm 14 hạng
cân dành cho nam và 12 hạng cân dành cho nữ. Giải vô địch đẩy gậy toàn
quốc được tổ chức hàng năm, góp phần bảo tồn và phát huy truyền thống văn
hóa thể thao của dân tộc. Thúc đẩy phong trào tập luyện môn Đẩy gậy trong
đông đảo nhân dân, nhất là tầng lớp thanh thiếu niên.
Bắc Giang còn là một trong những tỉnh có phong trào tập luyện, thi đấu
môn Đẩy gậy phát triển mạnh, không chỉ ở các lễ hội mà Đẩy gậy còn được
đưa vào thi đấu trong các hội khỏe Phù Đổng các cấp THCS, THPT với nhiều
đơn vị tham gia như: Lục Nam, Lục Ngạn, Tân Yên, Yên Dũng, Hiệp Hòa và
một số đơn vị khác.
Qua quan sát, quá trình tập luyện của VĐV trường THPT Hiệp Hòa số
4 - Bắc Giang cho thấy thành tích của đội tuyển chưa cao, nguyên nhân là do
thể lực của các em còn hạn chế, tố chất sức mạnh đã được quan tâm nhưng
chưa đạt được hiệu quả. Đối với trường sư phạm Hà Nội 2 và trường THPT
Hiệp Hòa số 4 - Bắc Giang chưa có tác giả nào tổ chức nghiên cứu đề tài này.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Lựa chọn bài tập phát triển
sức mạnh tối đa cho nữ VĐV Đội tuyển Đẩy gậy trường THPT Hiệp Hòa số

hướng và nhiệm vụ „„Đẩy mạnh hoạt động TDTT, nâng cao thể trạng và tầm
vóc của người Việt Nam. Phát triển phong trào TDTT quần chúng với mạng
lưới cơ sở rộng khắp, đào tạo, bồi độ chung trong khu vực Đông Nam Á và có
vị trí cao trong nhiều bộ môn. Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích nhân dân
và các tổ chức tham gia thiết thực, có hoạt động cao trong các hoạt động văn
hóa thể thao” [1].
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII cũng khẳng định: “Công
tác TDTT cần được coi trọng và nâng cao chất lượng GDTC trong các
trường học. Tổ chức hướng dẫn và vận động nhân dân tham gia rèn luyện
hàng ngày” [11].
Trong Hội nghị Ban Chấp hành TW Đảng lần 2 (khoá VIII) năm 1996
đưa ra nghị quyết quan trọng mang tính chiến lược đó là: “Sự nghiệp giáo dục
đào tạo là cuốc sách hàng đầu” [5]. Với mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ tương lai


5
của đất nước phát triển toàn diện: Đức, trí, thể, mĩ. Tại Hội Nghị TW IV khóa
VII về đổi mới công tác Giáo Dục - Đào Tạo, trong Văn kiện có ghi: “Phát
triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức, phong
phú về tinh thần…” đã khẳng định mục tiêu giáo dục nhằm giáo dục về nhân
cách tăng cường thể lực cho học sinh, sinh viên. Ngày 07/08/1995 Thủ Tướng
chính phủ đã ra chỉ thị 113/TTg nêu rõ yêu cầu đối với tổng cục TDTT:
“Ngành TDTT phải xây dựng định hướng phát triển có tính chiến lược, trong
đó quy định rõ các hình thức hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối
tượng lứa tuổi tạo thành phong trào tập luyện rộng rãi của quần chúng
hướng đến mục tiêu khỏe để xây dựng bảo vệ tổ quốc” [2].
GDTC trong nhà trường phổ thông nhằm từng bước nâng cao trình độ
văn hóa thể thao cho học sinh góp phần vào sự nghiệp TDTT của đất nước và
đặc biệt Nghị quyết TW II khóa VIII về công tác Giáo dục và Đào tạo đã
khẳng định rõ GDTC trong trường học là rất quan trọng.

giải quyết ba nhiệm vụ:
- Góp phần giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể,
ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống lành mạnh, tinh thần tự giác
rèn luyện thân thể, sẵn sàng phục vụ lao động sản xuất và bảo vệ nước nhà.
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và
phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số
môn thể thao thích hợp. Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các
phương tiện để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và
tổ chức các hoạt động TDTT của nhà trường và xã hội.
- Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ, nâng cao trình độ thể lực cho
học sinh THPT, phát triển cơ thể hài hoà, cân đối, rèn luyện thân thể, đạt được
những yêu cầu về thể lực.
1.2.3. Phát triển thể thao thành tích cao trong nhà trường phổ thông.
Phát triển thể thao thành tích cao là dựa trên cơ sở phát triển toàn diện
các tố chất thể lực, trí lực và tài năng vận động của các em học sinh ở mức độ


7
giới hạn lớn nhất với mục tiêu là dành được thành tích cao nhất. Do đó khi
tiến hành các hoạt động huấn luyện thi đấu phải có tính khoa học và thiết thực
nhất. Nó vừa theo đuổi mục tiêu “cao hơn, nhanh hơn, mạnh hơn” vừa là đề
sướng các nguyên tắc: “Thi đấu công bằng”, “Tham gia thi đấu giành thắng
lợi là quan trọng”. Thể thao thành tích cao là cơ sở, nền tảng của TDTT quốc
dân. Đây là một chiến lược quan trọng và có tác dụng lâu dài vì lực lượng học
sinh, là lực lượng rất đông đảo và nhiệt tình trong việc tham gia tập luyện
TDTT. Phong trào TDTT trong học sinh, phát triển sẽ kéo theo phong trào thể
thao quần chúng phát triển và đây cũng là cơ sở để tuyển chọn, bồi dưỡng các
tài năng tiến đến thể thao thành tích cao. Nó là cầu nối để người học giao lưu,
học hỏi, đoàn kết lại với nhau. Nó khích lệ lòng tự tin, dũng cảm của người
học có khát khao khẳng định bản thân mình.

Việt Nam. Đẩy gậy đã được đưa vào thi đấu mang tính chuyên nghiệp trong các
cuộc thi thể thao trong nước. Đẩy gậy còn là môn thể thao cần ít kinh phí đầu tư,
dễ chơi, có luật chơi đơn giản, ít tốn kém, dễ tổ chức chỉ cần có gậy thi đấu làm
bằng tre già hay những thanh gỗ tốt có chiều dài 2m, đường kính từ 4 - 5cm, dù
là gậy gỗ hay gậy tre đều phải thẳng và được sơn 2 màu đỏ và trắng (mỗi màu
1m) đầu và thân gậy phải được bào nhẵn và có đường kính bằng nhau. Vẽ một
vòng tròn có đường kính 5m vạch giới hạn rộng 5cm nằm trong phạm vi của sân
có màu trắng hoặc khác với màu nền sân là trận thi đấu có thể diễn ra. Điều quan
trọng VĐV phải có tố chất, được luyện tập bài bản về kỹ, chiến thuật mới có thể
đạt được các thành tích cao nhất trong các cuộc thi.
1.4. Kỹ - chiến thuật trong đẩy gậy
1.4.1. Kỹ - chiến thuật trong đẩy gậy
Tư thế trong Đẩy gậy hai chân đứng song song rộng bằng vai, đứng tấn
ở tư thế thấp, tay thuận cầm đầu gậy để trong lòng bàn tay, ngang giữa xương
chậu, tay còn lại thẳng nắm chắc gậy vươn người về phía trước ghìm gậy


9
xuống, lưng thẳng trọng tâm dồn đều hai chân, mắt quan sát đối phương để
tìm điểm yếu của đối phương.
Kỹ thuật giật gậy là một kỹ thuật khó vì người đấu phải có thể lực tốt
và khả năng phối hợp cao, khi giật gậy tay phải nắm chắc đầu gậy bên mình
tư thế tấn phải chắc và ổn định chỉ chủ yếu dùng phần hông để giật cho đối
phương bất ngờ mất trụ, bị đau và tuột tay ra khỏi đầu gậy.
Để chống lại sức giật gậy của đối phương, người đấu phải nắm bắt
được nhịp điệu giật gậy của đối phương và sức mạnh của đối phương khi giật
gậy, để chống lại sức mạnh giật của đối phương người chơi phải cầm chắc
đầu gậy không để tay tuột ra khỏi đầu gậy, tay trước phải ghìm đầu gậy xuống
phía dưới dùng sức nặng của cơ thể tỳ vào gậy làm cho đối phương mệt và thể
lực lúc đó của đối phương sẽ bị giảm.

Tóm lại, SMTĐ là một trong những tố chất quan trọng hàng đầu đối với
kỹ thuật di chuyển môn Đẩy gậy. Chính vì vậy mà nhiều chuyên gia, HLV Đẩy
gậy trong nước đều rất coi trọng huấn luyện tố chất SMTĐ cho VĐV của họ.
1.5. Các nguyên tắc huấn luyện SMTĐ
Khái niệm SMTĐ: Là khả năng con người sinh ra lực cơ học bằng sức
mạnh cơ bắp, nói cách khác sức mạnh của con người là khả năng khắc phục
lực đối kháng bên ngoài hoặc để kháng lại nó bằng sự nỗ lực của cơ bắp.
1.5.1. Cơ sở lý luận của các nguyên tắc
* Nguyên tắc tự giác tích cực
Tính tích cực của người tập TDTT thường thể hiện qua hoạt động tự
giác, gắng sức nhằm hoàn thành nhiệm vụ tập luyện, được bắt nguồn từ thái
độ học tập tốt, cố gắng nắm được nhưng kỹ năng kỹ xảo, cùng hiểu biết có
liên quan, phát triển thể chất và tinh thần.


11
Rõ ràng, tính hiệu quả của quá trình sư phạm phụ thuộc rất nhiều vào
tính tự giác, tích cực của học sinh. Điều đó dẫn đến sự phát triển tính tích cực
có mục đích và tính độc lập của vận động.
- Làm cho VĐV hiểu rõ mục đích và thành tích cần đạt được.
- Trang bị cho VĐV những hiểu biết trong mối quan hệ chặt chẽ với
các nhiệm vụ tập luyện cần phải giải quyết.
- Những yêu cầu đặt ra cần phải đòi hỏi một sự suy nghĩ, một động cơ
và một sự trả lời.
- Đưa VĐV vào việc chuẩn bị xây dựng và đánh giá quá trình tập luyện.
- Giáo dục VĐV biết tự đánh giá.
- Giao cho VĐV có năng khiếu các nhiệm vụ hướng dẫn về mặt sư phạm.
- Yêu cầu các VĐV luôn luôn kiểm tra một cách có ý thức quá trình
vận động.
- Thường xuyên đánh giá các kết quả đạt được và so sánh chúng với dự

Nguyên tắc này xuất phát từ các mối quan hệ có tính quy luật giữa việc
nâng cao các yêu cầu của LVĐ và sự thích ứng của các hệ thống chức năng
sinh lý của VĐV. Các hệ thống chỉ được hoàn thiện nếu như nó phải chịu
đựng trên mức bình thường và phải huy động các năng lượng dự trữ. Bởi vậy
việc phấn đấu để vươn tới thành tích thể thao cao hơn mà hiện tại còn chưa
đạt được, gắn bó một cách chặt chẽ với với việc tìm ra các con đường mới về
phương pháp nhằm thực hiện các LVĐ tập luyện cao hơn với chất lượng tốt
hơn. Tóm lại là hình thức, khối lượng, cường độ và diễn biến của việc nâng
cao yêu cầu của LVĐ phải phù hợp với tuổi đời, tuổi sinh học tuổi tập luyện
và năng lực thể thao.


13
* Nguyên tắc LVĐ liên tục
Nguyên tắc này yêu cầu trong quá trình huấn luyện phải thường
xuyên hướng tới các LVĐ tối ưu và đặc biệt sắp xếp các bước quá độ trong
tập luyện để năng lực thể thao có thể phát triển tốt nhất. Yêu cầu này dựa
trên cơ sở của các mối quan hệ có tính quy luật giữa LVĐ và sự phát triển
thành tích thể thao.
Quy tắc:
Ngăn chặn và tránh những gián đoạn trong tập luyện, trước hết thông
qua sự giáo dục thái độ XHCN đối với tập luyện cho VĐV: Thông qua việc
giáo dục sức khỏe và thông qua ảnh hưởng của sự sắp xếp chế độ nghỉ hè.
Đảm bảo tính liên tục trong sự phát triển của tất cả yếu tố xác định
thành tích. Khi tập luyện kế hoạch cho các loại LVĐ trọng điểm cũng cần có
kế hoạch cho các LVĐ.
Hạn chế mức độ có thể giảm sút năng lực thể thao trong trường hợp
gián đoạn tập luyện do chấn thương.
Đảm bảo giai đoạn nghỉ ngơi cần thiết nhằm tránh các hiện tượng yêu
cầu quá mức và nhờ vậy sau này tránh được những sự gián đoạn tập luyện.

biện pháp tập luyện cần phải xuất phát từ các yêu cầu của cấu trúc thành tích
của môn thể thao.
Đảm bảo tính hệ thống đòi hỏi cần sử dụng các quy luật tác động trong
luyện tập để nâng cao phát triển thành tích thể thao mà không được chệch
hướng và không được trì hoãn, ngoài ra còn xuất phát từ mục đích thành tích
cao nhất đã được xác định.
Nguyên tắc này xuất phát từ các quy luật của quá trình nhận thức và
tính hiệu quả chuyên biệt của các môn hình thức khác nhau của LVĐ với sự
phát triển của thành tích thể thao
* Quy tắc:
- Luôn luôn hướng vào chiến lược xây dựng thành tích dài hạn và lập
kế hoạch huấn luyện một cách tỉ mỉ.


15
- Luôn luôn hướng vào mục đích cao nhất, lập kế hoạch và đề ra mục
đích thành tích rõ ràng, có thể thực hiện được.
- Trong quá trình huấn luyện cần chú ý đến tính logic trong sự giáo
dưỡng từng yếu tố xác định thành tích.
- Cần có sự chú ý lớn nhất trong việc sắp xếp trật tự các bài tập của
giáo án.
1.5.2. Những đặc điểm huấn luyện SMTĐ trong môn Đẩy gậy
* Sắp xếp LVĐ
LVĐ trong huấn luyện SMTĐ cho các VĐV môn Đẩy gậy có nhiều
điểm riêng biệt so với các môn thể thao khác. Nếu tiến hành huấn luyện
SMTĐ với phụ trọng như: Với tạ thì HLV phải chọn những người mới tập
một trọng lượng trung bình tới gần tối đa (khoảng từ 60 đến 80% trọng lượng
tối đa). Việc sử dụng các trọng lượng tương đối nhẹ tạo điều kiện cho người
mới tập dễ dàng tiến hành bài tập với một kỹ thuật tốt, qua đó ngăn ngừa
được chấn thương. Mặt khác số lượng lớn hơn có thể đạt được các lần lặp lại

lứa tuổi, mà trước hết là do điều kiện xã hội (vị trí của thanh niên trong xã
hội, khối lượng tri thức, kỹ năng kỹ xảo mà họ nắm được và một loạt nhân tố
khác…) có ảnh hưởng đến sự phát triển lứa tuổi. Do đó có sự kéo dài của thời
kì tuổi thanh niên và giới hạn lứa tuổi mang tính không xác định (ở mặt này
các em được coi là người lớn, nhưng mặt khác thì lại không).
* Về hứng thú
Các em đã có thái độ tự giác tích cực trong học tập xuất phát từ động
cơ học đúng đắn và lựa chọn nghề nghiệp sau khi đã học xong THPT. Xong
hứng thú học tập còn do nhiều động cơ khác nhau như: giữ lời hứa với bạn,
đôi khi do tự ái, hiếu thắng… cho nên khi giảng dạy giáo viên cần định hướng
cho các em xây dựng đông cơ đúng đắn để các em có được hứng thú bền
vững trong học tập nói chung và GDTC nói riêng.
*Về tình cảm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status