ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----- -----
NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN ÂN THI (HƯNG YÊN)
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ
NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2014
Luận văn thạc sĩ Lịch sử
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----- -----
NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN ÂN THI (HƯNG YÊN)
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ
NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2014
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Sự
HÀ NỘI - 2015
1.3.2. Chỉ đạo thành lập, kiện toàn Ban Chỉ đạo các cấp.………...................40
1.3.3. Chỉ đạo lập quy hoạch và đề án xây dựng nông thôn mới...…….….…44
1
1.3.4. Chỉ đạo phát triển kinh tế nông thôn..…………..……...........................46
1.3.5. Chỉ đạo phát triển kết cấu hạ tầng..…………..………...........................52
1.3.6. Chỉ đạo phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường sinh thái
khu vực nông thôn..……………………………………...……….........................54
1.3.7. Chỉ đạo nâng cao chất lượng hệ thống chính trị, đảm bảo an ninh trật
tự và các vấn đề xã hội.......……………………..……………….........................56
CHƯƠNG 2: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM……………………...….59
2.1. Nhận xét sựlãnh đạo của Đảng bộ huyện Ân Thi về xây dựng nông
thôn mới giai đoạn 2008 – 2014….………………………………………...59
2.1.1. Ưu điểm....………………………...…………………………………....…….59
2.1.2. Hạn chế và nguyên nhân..................................................................70
2.2. Những kinh nghiệm chủ yếu………………………………...………...73
2.2.1. Quán triệt sâu sắc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đề
ra những chủ trương giải pháp xây dựng NTM phù hợp với hoàn cảnh của địa
phương.........………………………………………..……………………….….…73
2.2.2. Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chung tay góp sức
xây dựng nông thôn mới....…...…………………………..…..…………….……..75
2.2.3. Phát huy tối đa các nguồn nội lực đồng thời tranh thủ các nguồn lực
bên ngoàingoài…...………………………………………………….………………78
2.2.4. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực lãnh đạo của
cán bộ các cấpđáp ứng yêu cầu công việc và làm tôt công tác thi đua, khen
thưởng.......……………………..…...……………………………………………..79
KẾT LUẬN…………………………………………………………………82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………..……..….84
PHỤ LỤC………………………………………………………..………….91
và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng năm 201
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tuyết Nhung
4
BẢNG CHÚ THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
UBND
Uỷ ban nhân dân
BCH
Ban chấp hành
MTQG
Mục tiêu quốc gia
bằng sông Hồng, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp
nên vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn cũng luôn là vấn đề có ý nghĩa
chiến lược đối với sự ổn định và phát triển ở địa phương. Từ thực tiễn của cả
nước nói chung và tại Ân Thi nói riêng những năm qua cho thấy chủ trương
xây dựng NTM là hoàn toàn đúng đắn, NTM không chỉ là vấn đề kinh tế - xã
hội mà còn là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp, vừa là mục tiêu, yêu cầu của
sự phát triển bền vững, vừa là nhiệm vụ cấp bách, là chủ trương có tầm quan
trọng chiến lược trong sự nghiệp cách mạng và ngày nay là sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
6
Quán triệt chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, từ năm
2008 đến nay Đảng bộ và nhân dân huyện Ân Thi đã tích cực chỉ đạo và triển
khai thực hiện các chương trình, mục tiêu về xây dựng NTM và đã đạt được
những thành tựu quan trọng, góp phần vào sự phát triển toàn diện của địa
phương.
Tuy nhiên, do nhiều lý do khách quan và chủ quan, quá trình lãnh đạo
xây dựng NTM của huyện Ân Thi không tránh khỏi những hạn chế, bất cập.
Trong đó, nhu cầu đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật ở khu vực nông
thôn lớn, nguồn ngân sách có hạn trong khi Ân Thi là huyện thuần nông,
người dân sống chủ yếu dựa vào thu nhập từ nông nghiệp, việc huy động
nguồn lực cho chương trình gặp rất nhiều khó khăn. Đây là một trong những
thách thức lớn trong xây dựng nông thôn mới của huyện. Để giả quyết đồng
bộ, triệt để vấn đề trên, cấn sự chung tay góp sức của cả hệ thống chính trị,
trong đó sự lãnh đạo của Đảng đóng vai trò tiên quyết.
Vì thế, việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống chủ trương và
sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Ân Thi về xây dựng NTM, qua đó đưa ra
những đánh giá nhận xét cả về ưu điểm, hạn chế, làm rõ nguyên nhân và đúc
rút những kinh nghiệm để phục vụ cho hiện tại, đó là việc làm cần thiết, có ý
thành tựu, những thách thức và một số vấn đề đặt ra trong thời kì đổi mới.
Trong các công trình khoa học này, các nhà nghiên cứu đã làm rõ các
vấn đề như: Một số vấn lí luận về CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn theo
yêu cầu rút ngắn; nghiên cứu thực trạng thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và
nông thôn; của tác giả cũng đưa ra con đường, bước đi và các giải pháp chiến
lược đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn.Những công
trình này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoạch định chính sách phát triển
nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ mới ở nước ta. Đây cũng là cơ sở lý luận
và thực tiễn quan trọng mà tác giả có thể tiếp thu, kế thừa trong quá trình
hoàn thành luận văn.
8
Nhóm các bài viết về nông nghiệp nông dân, nông thôn trên các tạp
chí. Ngoài các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên, vấn đề nông nghiệp, nông
thôn, nông dân và vấn đề xây dựng nông thôn mới còn là tiêu điểm trên nhiều
tạp chí như tạp chí Nông thôn mới, tạp chí Cộng sản, tạp chí Xây dựng
Đảng,…với nhiều bài viết sắc sảo.
Trên tạp chí Nông thôn mới, đây là mặt báo sôi nổi nhất với hàng loạt
bài viết tiêu biểu như: Tác giả Thanh An với bài viết “Gỡ thế cho “tam nông”
phát triển là cơ hội để nông dân làm giàu” ( số 278, kỳ 1, tháng 9/2010); tác
giả Hải Sơn với bài viết “Thi đua xây dựng nông thôn mới việc lớn phải làm
đến cùng” (số 279, kỳ 2, tháng 9/2010); Tác giả Nguyễn Văn Đắc với bài viết
“Kiện toàn Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới từ trung ương đến cơ sở”
(số 290 kỳ 1, tháng 3/2011); tác giả Lương Thủy với bài viết “Tập trung 4
vấn đề lớn xây dựng nông thôn mới” (số 299, kỳ 2, tháng 7/2011);… Nắm bắt
được xu thế thời đại, những bài viết này đã bàn đến nhiều mặt trong công tác
xây dựng nông thôn mới từ vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng NTM
đối với sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của đất nước đến các biện pháp,
Nhóm các công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn Hưng Yên, đã có một số công trình nghiên cứu, tìm hiểu về công tác xây
dựng NTM tỉnh Hưng Yên như trong các luận văn:Trịnh Hồng Thắm (2014),
Vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở
Hưng Yên, Luận văn thạc sĩ Chủ nghĩa xã hội khoa học, Hà Nội; Nguyễn
Xuân Chính (2014), Đẩy mạnh quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa
bàn huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý,
Hà Nội; Quách Thị Hương (2013), Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong
xây dựng nông thôn mới qua thực tiễn tỉnh Hưng Yên, Luận văn thạc sĩ khoa
học chính trị, Hà Nội....
Ngoài ra còn rất nhiều công trình và bài viết khác về vấn đề xây dựng
NTM ở nước ta hiện nay. Các công trình nghiên cứu mặc dù đã đề cập đến
nhiều khía cạnh khách nhau của công tác xây dựng NTM ở nước ta nói chung,
tỉnh Hưng Yên nói riêng nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
độc lập, có tính hệ thống về công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng NTM của
Đảng bộ huyện Ân Thi dưới góc độ lịch sử Đảng. Điều đó thúc đẩy tác giả
10
mạnh dạn chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Lịch sử Đảng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích: Nghiên cứu làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ huyện Ân Thi
lãnh đạo xây dựng NTM từ năm 2008 đến năm 2014; trên cơ sở đó đúc rút
những kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho hiện tại.
- Nhiệm vụ: để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Làm sáng tỏ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ
huyện Ân Thi về xây dựng NTM trong những năm 2008 - 2014;
+ Trình bày có hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện
- Ý nghĩa lí luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ tính đúng đắn của chủ
trương xây dựng NTM của Đảng qua thực tiễn địa bàn huyện Ân Thi, tỉnh
Hưng Yên; cung cấp thêm luận cứ cho việc hoạch định chủ trương xây dựng
và phát triển NTM của Đảng và Đảng bộ địa phương trong thời gian tới.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công
tác tuyên truyền, vận động nhân dân địa phương chung tay góp sức xây dựng
NTM cũng như việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng nói chung, lịch sử
Đảng bộ nói riêng.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn gồm 2 chương (5 tiết).
Chương I. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyên Ân Thi về xây
dựng NTM (2008 – 2014)
Chương II. Nhận xét và kinh nghiệm
12
Chương1
CHỦ CHƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
HUYỆN ÂN THI VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
( 2008 – 2014)
1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Ân
Thi về xây dựng nông thôn mới
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội
Vị trí địa lý: Ân Thi là một huyện nằm ở hạ lưu sông Hồng thuộc châu
thổ đồng bằng Bắc Bộ và nằm ở phía đông tỉnh Hưng Yên. Phía Bắc giáp
huyện Yên Mỹ và Mỹ Hào, phía Nam giáp huyện Phù Cừ, Tiên Lữ, phía
Đông giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây giáp huyện Khoái Châu, Kim Động.
Huyện Ân Thi cách trung tâm tỉnh Hưng Yên 25 km về phía Tây Nam, cách
mạng lưới thuỷ nông, giao thông thuận tiện cho việc phát triển kinh tế.
Nguồn nhân lực: Cuối năm 2003, dân số huyện là 130.294 người. Số
lao động trong độ tuổi là 69.215 người chiếm 53% dân số, trong nông nghiệp
chiếm 61,2%. Nhìn chung lao động dư thừa, lao động thiếu việc làm còn
nhiều, giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề bức xúc của huyện
trong những năm tiếp theo.
1.1.2. Thực trạng nông thôn huyện Ân Thi trước khi xây dựng nông
thôn mới
Trước năm 2008, cùng với sự phát triển chung của tỉnh, nông nghiệp,
nông dân, nông thôn huyện Ân Thi đã đạt được những thành tựu khá toàn
diện: Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá, do đẩy mạnh ứng dụng
khoa học công nghệ, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản
xuất hàng hóa, năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp
ngày càng được nâng cao; nông thôn đã có bước khởi sắc, kết cấu hạ tầng
kinh tế xã hội được tập trung xây dựng, củng cố, nâng cấp; đời sống vật chất,
tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được cải thiện; công tác xóa đói,
giảm nghèo, giải quyết việc làm thu được kết quả quan trọng; hệ thống chính
trị cơ sở được tăng cường, quyền dân chủ được phát huy, an ninh chính trị,
trật tự an toàn nông thôn được giữ vững.
14
Toàn huyện Ân Thi có 20 xã và 01 thị trấn; 138 thôn xóm, khu dân cư;
diện tích tự nhiên của huyện 128,22 km2; dân số trên 131.000 người, mật độ
dân số bình quân 1028 người/km2; hơn 93% dân số sống ở nông thôn và hơn
75% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. Những năm qua, cùng với sự phát
triển chung của tỉnh, nông nghiệp, nông dân, nông thôn huyện Ân Thi đã đạt
được những thành tựu khá toàn diện.
Về hạ tầng kinh tế – xã hội
dân đã có bước cải thiện đáng kể; thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt
19 triệu/người/năm. Tiêu chí số 10 về thu nhập không xã nào đạt chuẩn. Tỷ lệ hộ
nghèo đến năm 2010 chỉ còn 10,3 % (theo chuẩn nghèo 2006-2010); đánh giá
theo tiêu chí NTM về hộ nghèo không có xã nào trên địa bàn huyện đạt
chuẩn.
Cơ cấu lao động: Trong những năm qua, với sự phát triển của công
nghiệp hóa – hiện đại hóa, một phần lớn lao động trẻ ở nông thôn đã chuyển
sang làm công nhân tại các nhà máy, xí nghiệp; hiện tại lao động trong nông
nghiệp vẫn chiến hơn 80 %.
Kinh tế nông nghiệp vẫn chủ yếu là kinh tế hộ; mô hình tổ, nhóm, hợp
tác xã có xu hướng phát triển theo hướng đa dạng ngành nghề, sản phẩm. Một
số địa phương bước đầu đã hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung,
các hộ nông dân sản xuất các loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao và có thị
trường tiêu thụ ổn định.
Tiểu thủ công nghiệp, làng nghề: toàn huyện có 02 làng nghề với 801
hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn. Sản phẩm sản xuất với các
loại sản phẩm như: chế tác vàng, bạc, khâu nón. Tiểu thủ công ngiệp và
ngành nghề nông thôn tạo việc làm cho 3243 lao động (2010); góp phần
chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, từng
bước cải thiện đời sống nông dân. Giá trị ngành nghề nông thôn chiếm 13%
giá trị công nghiệp địa phương.
Dịch vụ – thương mại: các doanh nghiệp bước đầu thiết lập mối quan
hệ hợp tác trong cung cấp dịch vụ, vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho nông
nghiệp. Các đơn vị, công ty cung ứng giống, vật tư, phân bón, điện lực phối
hợp chặt chẽ với hợp tác xã trong việc tưới, tiêu, cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
16
Một số doanh nghiệp thu mua sản phẩm theo hợp đồng, đã góp phần thúc đẩy
dân nông thôn từng bước được cải thiện và không ngừng nâng cao; toàn
huyện có 5-6% số hộ nông nghiệp cho thu nhập 100 triệu đồng/năm trở lên.
Hệ thống cấp nước sinh hoạt cho các hộ ở nông thôn chủ yếu ở các
công trình giếng khoan, bể nước mưa do hộ dân tự đầu tư, nhà nước hỗ trợ
sửa chữa 01 trạm cấp nước tập trung quy mô cấp xã; góp phần đưa tỷ lệ dân
nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh lên 85%. Có 42% số hộ có nhà tiêu
hợp vệ sinh. Có 18/20 xã có điểm thu gom rác thải được nhà nước hỗ trợ đi
vào hoạt động với tổng số 23 điểm.
Hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị ở nông thôn đã được củng cố, kiện toàn; cơ bản đáp
ứng được các nhiệm vụ trong khu vực nông thôn, đặc biệt là các tổ chức chính
trị như: Mặt trận Tổ quốc, Cựu Chiến binh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn
Thanh niên đã thực hiện nhiều phong trào trong công tác xóa đói giảm nghèo,
giải quyết việc làm có hiệu quả. Dân chủ ở cơ sở tiếp tục được mở rộng, các
cơ chế thực hiện dân chủ ở cơ sở tiếp tục được phát huy, góp phần tăng cường
hệ thống chính trị và ý thức pháp luật của nhân dân; an ninh, trật tự xã hội
được giữ vững, nhân dân tin tưởng vào đường lối lãnh đạo và chính sách pháp
luật của Đảng và nhà nước.
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng quá trình phát triển
nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần được giải
quyết, đó là:
Nông nghiệp, nông thôn tuy phát triển nhưng thiếu quy hoạch đồng bộ,
quy mô sản xuất hộ nhỏ lẻ; ruộng đất manh mún, diện tích đất nông nghiệp
bình quân trên hộ thấp. Quá trình phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa làm
cho quỹ đất nông nghiệp ngày càng giảm, khó khăn cho việc xây dựng một
nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa tập trung.
Tính bền vững của chuyển dịch cơ cấu kinh tế không cao, sản xuất
mang tính tự phát, khả năng cạnh tranh thấp, thiếu bền vững; sản xuất chưa
gắn với thị trường, chưa xây dựng được thương hiệu của nông sản hàng hóa,
1.1.3. Chủ trương xây dựng nông thôn mới của Đảng
Sau gần 30 năm thực hiện đổi mới của Đảng, nền kinh tế đã có những
bước phát triển đáng kể, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, xã hội
ổn định. Tuy nhiên, những thành tựu đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng,
lợi thế, còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém. Nguyên nhân chính của những
19
hạn chế, yếu kém trên chủ yếu do nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp,
nông dân, nông thôn còn bất cập so với thực tiễn. Vấn đề nông thôn vẫn chưa
hình thành một cách có hệ thống các quan điểm lý luận về phát triển nông
nghiệp, nông dân, nông thôn; chính sách phát triển còn thiếu đồng bộ, thiếu
tính đột phá. Việc tổ chức chỉ đạo thực hiện và công tác quản lý nhà nước còn
nhiều bất cập yếu kém.
Từ thực tiễn nêu trên, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương
khóa X đã ra nghị quyết số 26 - NQ/TW về nông nghiệp, nông dân nông thôn.
Nghị quyết đã đưa ra quan điểm chung xây dựng nông nghiệp, nông dân,
nông thôn trong cả nước và đưa ra mục tiêu xây dựng NTM ở nước ta đến
năm 2020.
Nghị quyết xác định nông dân là chủ thể, xây dựng NTM là căn bản,
phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt. Nêu các vấn đề về
nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Nghị quyết khẳng định: “Nông nghiệp,
nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng để phát triển
kinh tế xã hội bền vững, giữ gìn ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc
phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh
thái của đất nước; các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được
giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước”[17, 5].
Hội nghị đề ra những nhiệm vụ cấp bách cần thực hiện đến năm 2010
Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất
Nhóm 4: Văn hóa – xã hội – môi trường
Nhóm 5: Hệ thống chính trị
Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM đã cụ thể hóa đặc tính của xã
hội NTM thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây là căn cứ để
xây dựng nội dung chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, là
chuẩn mực để các xã lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu chí NTM. Đồng thời
là căn cứ để chỉ đạo và đánh giá kết quả thực hiện xây dựng NTM của các địa
phương trong từng thời kỳ; đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt chuẩn
NTM; đánh giá trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền xã và các tổ
chức hoạt động chính trị – xã hội trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTM.
21
Quyết định số 800,/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai
đoạn 2010-2020.
Như vậy, xây dựng NTM là quá trình xây dựng nông nghiệp, nông dân
và nông thôn theo hướng hiện đại hóa, trong đó người nông dân thực sự làm
chủ, họ vừa là chủ thể vừa là đối tượng để hướng tới xây dựng nông thôn thời
kỳ CNH, HĐH. Với nước ta, có trên 56% dân số làm nông nghiệp, gần 70%
dân số sống ở nông thôn (số liệu năm 2010) thì vấn đề phát triển nông thôn
không những mang ý nghĩa phát triển kinh tế mà còn bảo đảm an ninh, trật tự,
an toàn xã hội để phát triển đất nước.
Như vậy, có thể thấy chủ trương, quan điểm, đường lối và sự chỉ đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng NTM được thể hiện một cách cụ
thể, chi tiết. Tất cả những quan điểm và sự chỉ đạo này sẽ trở thành đường lối
chung để Đảng bộ tỉnh Hưng Yên nói chung và huyện Ân Thi nói riêng vận
dụng và phát triển sáng tạo trong điều kiện cụ thể của địa phương, tiếp tục
lãnh đạo quá trình phát triển, xây dựng NTM ngày càng thu được nhiều thắng
ương 7 về nông nghiệp, nông thôn, nông dân tại tỉnh.
Từ năm 2008 đến năm 2010, sau khi đưa ra chương trình hành động
thực hiện nghị quyết của Đảng về xây dựng NTM, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
tiếp tục đưa ra những văn bản cụ thể hướng dẫn các địa phương tiếp nhận và
thực hiện nghị quyết của Đảng. Ngày 31/12/2008 của UBND tỉnh Hưng Yên
đã ra kế hoạch số 149/KH-UBND về việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp nông dân, nông
thôn. Kế hoạch đã cụ thể hóa các nội dung xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh,
có ý nghĩa thiết thực giúp các địa phương thực hiện xây dựng NTM.
Sau khi nghiên cứu bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM do Thủ
tướng chính phủ ban hành, ngày 14/12/2009, Hội nghị lần thứ 17 BCH Đảng
bộ tỉnh khóa XVI ra thông báo số 784-TB/TU về chương trình xây dựng
NTM tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2010-2020, định hướng 2030. Cụ thể hóa
thông báo này, ngày 29/10/2010, UBND tỉnh Hưng Yên đã ra kế hoạch số
91/KH-UBND về Thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM tỉnh Hưng
23