tác động của cơcấu thu nhập đến lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng thương mại việt nam - Pdf 40

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

DƯƠNG THỊ NHUNG

TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CẤU THU NHẬP
ĐẾN LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi
nhuận và rủi ro của ngân hàng thương mại Việt Nam” là bài nghiên cứu của
chính tôi.
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo đã được trích dẫn trong luận văn này, tôi
cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ trong luận văn này chưa từng công
bố hoặc sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác.
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận
văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định.
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bằng cấp nào tại các trường
đại học hoặc cơ sở đào tạo khác.

Tp. Hồ Chí Minh, 2016

Dương Thị Nhung

i

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên dữ liệu tài chính của 18 ngân hàng
thương mại cổ phần tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến 2014. Dữ liệu dạng
bảng bao gồm 96 quan sát, đảm bảo thu thập đầy đủ dữ liệu cho các biến trong mô
hình. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp hồi quy thường được sử dụng cho dữ
liệu bảng gồm Pool OLS, FEM (Fixed Effect Method), REM (Random Effect
Method) và GLS (Generalize Least Square).
Kết quả cho thấy thu nhập từ hoạt động tín dụng có tác động cùng chiều đến
lợi nhuận ngân hàng, trong khi tác động của thu nhập từ hoạt động dịch vụ và thu
nhập khác lại không có ý nghĩa thống kê. Đối với rủi ro ngân hàng, thu nhập từ hoạt
động tín dụng và dịch vụ đều có tác động làm gia tăng rủi ro, trong khi hoạt động
khác lại không có ý nghĩa thống kê.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm ý rằng thị trường ngân hàng Việt Nam có
sự không đồng nhất về chiến lược kinh doanh cũng như nguồn lực của các ngân
hàng. Có những ngân hàng có đủ nguồn lực để thực hiện đa dạng kinh doanh, tìm
kiếm lợi nhuận nhiều hơn từ các hoạt động phi truyền thống, trong khi các ngân
hàng nhỏ có vẻ chỉ tập trung vào một hoạt động kinh doanh duy nhất, điều đó dẫn
đến việc một số hoạt động kinh doanh có tác động không có ý nghĩa thống kê đến
lợi nhuận. Hơn nữa, đối với người điều hành ngân hàng, có thể gia tăng lợi nhuận
bằng cách đa dạng hóa kinh doanh, tập trung vào các hoạt động mang tính chất phi
truyền thống.

iii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN….…………………………………………………………….….i
LỜI CẢM ƠN………………………………………………………………………ii
TÓM TẮT………………………………………………………………………….iii
MỤC LỤC……………………………………………………………...…………..iv
DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU…………………………………………..vii

3.3.2. Mô hình 2 về tác động của cơ cấu thu nhập đến rủi ro ngân hàng……..22
3.4. Đo lường các biến trong mô hình……………………………………….….22
3.4.1. Biến phụ thuộc…………………………………………………………22
3.4.2. Biến độc lập…………………………………………………………....23
3.4.3. Biến kiểm soát…………………………………………...……………..25
CHƯƠNG 4
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU………………………………………..30
4.1. Thống kê mô tả……………………………………………………….…….30
4.2. Phân tích tương quan………………………………………………...……..32
4.3. Kết quả kiểm định lựa chọn phương pháp hồi quy…………………………34
4.4. Kết quả hồi quy với phương pháp GLS…………………………...………..43
4.5. Thảo luận kết quả…………………………………………………………...47
4.5.1. Tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận ngân hàng.……………...48
4.5.2. Tác động của cơ cấu thu nhập đến rủi ro ngân hàng.……………..........50
4.5.3. Các yếu tố khác……………………………………………………..….52
CHƯƠNG 5
v


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……………………………………………………55
5.1. Kết luận……………………………………………………………………..55
5.1.1. Tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận ngân hàng……………....55
5.1.2. Tác động của cơ cấu thu nhập đến rủi ro ngân hàng…………………...56
5.2. Ý nghĩa nghiên cứu và khuyến nghị……………………………………......56
5.2.1. Ý nghĩa nghiên cứu............................................................…………....56
5.2.2. Khuyến nghị…………………................................................................57
5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo………………………………….…57
5.3.1. Hạn chế của nghiên cứu………………………………………………..57
5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo……………………………………………58
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………..60

đến mục tiêu nghiên cứu và để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài cũng đặt ra
những câu hỏi nghiên cứu.
1.1 Lý do nghiên cứu
Ngân hàng là một tổ chức tài chính và dịch vụ của nó đóng vai trò trong việc
tạo ra của cải cho xã hội. Do đó ngân hàng có một vị thế đặc biệt trong nền kinh tế.
Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực trong việc xác định các dịch vụ
tài chính mà xã hội có nhu cầu từ đó thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả
và bán chúng ở một mức giá cạnh tranh. Vì vậy, các ngân hàng không ngừng cố
gắng thực hiện các chính sách phù hợp với nhu cầu thị trường và đa dạng hóa dịch
vụ của mình.
Lợi nhuận từ hoạt động huy động vốn, cho vay ngày càng giảm và một điều
dễ thấy là thu nhập từ dịch vụ của ngân hàng ngày càng tăng để bù đắp sự sụt giảm
đó. Điều đó dẫn đến cơ cấu các khoản thu nhập trong báo cáo kết quả kinh doanh
của các ngân hàng cũng thay đổi theo hướng là các khoản thu nhập từ hoạt động
dịch vụ sẽ gia tăng cả về mặt số lượng và tỷ trọng. Theo thống kê của Ủy ban Giám
sát tài chính Quốc gia cho thấy tại Vietinbank, dư nợ tín dụng năm 2015 tăng 16%
so với năm 2014 nhưng thu nhập lãi thuần của ngân hàng lại giảm gần 4% so với
cùng kỳ năm 2014, dẫn tới lợi nhuận sau thuế của Vietinbank giảm 1,4% so với
năm 2014 và chỉ đạt 5.727 tỷ đồng. Tương tự Sacombank, tín dụng tăng trưởng
khoảng 16% năm 2014 nhưng thu nhập lãi ròng giảm 1% và lợi nhuận sau thuế
giảm 0,8%, lợi nhuận giảm chủ yếu do thu nhập lãi thuần giảm mạnh. Vietcombank
có mức tăng trưởng tín dụng cao nhưng thu nhập từ lãi của ngân hàng này chỉ chiếm
68% trong tổng thu nhập .
Mỗi sản phẩm ra đời dựa trên sự mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng
và kéo theo sự phát triển của nhiều loại hình dịch vụ mới. Phát triển các loại hình

1


dịch vụ mới là hướng đi bền vững của ngân hàng. Trong các hoạt động của ngân

2


Tại Việt Nam, nghiên cứu các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời và rủi ro của
các ngân hàng thương mại Việt Nam đã được thực hiện Nguyễn Thị Cành và cộng
sự (2015). Tuy nhiên, vẫn chưa có một kết luận đồng nhất về tác động của cơ cấu
thu nhập của ngân hàng đến lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng. Với sự gia tăng nói
trên của các khoản thu nhập không từ lãi và những hạn chế của các nghiên cứu
trước, cần có một nghiên cứu đánh giá mức độ rủi ro của các khoản thu nhập lên kết
quả hoạt động kinh doanh để xem xét hiệu quả của việc đa dạng hóa hoạt động kinh
doanh của ngân hàng cũng như tác động của nó đến lợi nhuận. Đề tài nghiên cứu tác
động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng thương mại
Việt Nam.
Việc nghiên cứu đề tài này đem lại một góc nhìn cho ngân hàng về lợi nhuận
đạt được từ một cấu trúc doanh thu của các dịch vụ và sản phẩm mà ngân hàng đã
cung cấp cho khách hàng, tương ứng với nó là một lượng rủi ro mắc phải mà ngân
hàng cần cân nhắc khi lựa chọn trong cấu trúc thu nhập của mình.
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn chứa đựng những rủi ro, nhưng
rủi ro mà chúng ta quan tâm nhất là rủi ro tín dụng. Đó là biến cố không mong đợi
mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản cũng như giảm sút về lợi nhuận của
ngân hàng. Vì vậy, khi ngân hàng kinh doanh đa dạng hoá các dịch vụ sẽ phân tán
và giảm thiểu rủi ro nên sẽ nâng cao được lợi nhuận. Nếu ngân hàng hoạt động theo
nghiệp vụ truyền thống và cổ điển thì sẽ thu lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động tín
dụng, nhưng hoạt động tín dụng lại chứa đựng nhiều rủi ro, do đó ngân hàng rơi vào
thế bị động khi cấp tín dụng cho khách hàng. Thực tế đã có nhiều ngân hàng trên
thế giới bị phá sản vì cho vay mà không thu hồi được nợ. Theo Lepetit và cộng sự
(2008) nếu tỷ lệ nợ khó đòi vượt quá mức cho phép từ 4%- 5% tổng dư nợ cũng đã
làm cho ngân hàng không còn lợi nhuận mà mất dần vốn tự có. Ngoài các hoạt động
cho vay truyền thống còn có các dịch vụ mới có ảnh hưởng tốt đến ngân hàng thông

đoạn này vì năm 2008 có cuộc khủng hoảng kinh tế và ảnh hưởng đến các năm sau
đó. Cho nên các ngân hàng tại Việt Nam buộc phải thay đổi chiến lược kinh doanh
để ứng phó với khủng hoảng.
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài tiến hành tổng kết các lý thuyết, các nghiên cứu trước của các tác giả
trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Từ đó đưa ra các giả thuyết
nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Đề tài sử dụng phương pháp hồi quy Pool OLS,

4


FEM, REM và GLS để kiểm định tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận và rủi
ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Kết quả thực nghiệm của mô hình
được sử dụng để kiểm định giả thuyết nghiên cứu cũng như giải thích quan hệ giữa
cơ cấu thu nhập – lợi nhuận và cơ cấu thu nhập – rủi ro.
1.7 Kết cấu đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được trình bày theo năm chương. Các chương được bố cục
như sau:
Chương 1 trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu. Nội dung của chương
nêu lên lý do cần phải nghiên cứu đề tài, các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp
nghiên cứu cũng như mô tả dữ liệu, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Chương 2 là chương lý thuyết nền tảng để xây dựng nên mô hình nghiên
cứu, chọn lọc các biến. Vì nghiên cứu về tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi
nhuận và rủi ro trong hoạt động ngân hàng mang tính mới và phức tạp nên nội dung
chương 2 được xây dựng một cách kỹ lưỡng để tìm ra mô hình nghiên cứu phù hợp.
Các kết luận khoa học về tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận, cơ cấu thu
nhập đến rủi ro được phân tích kỹ lưỡng và cặn kẽ nhằm xác định các giả thuyết
nghiên cứu và đề xuất một mô hình nghiên cứu đúng đắn.
Chương 3 là chương phương pháp nghiên cứu,. thể hiện hai mô hình kinh tế
lượng để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra. Nội dung chương trình bày 2 mô

ra làm hai phần chính, đó là thu nhập từ hoạt động tín dụng và thu nhập từ hoạt
động phi tín dụng.
2.1.1.1 Thu nhập từ hoạt động tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay với thị trường tài chính còn đang phát
triển như Việt Nam, các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc luân chuyển
vốn giữa nơi thừa vốn và nơi thiếu vốn. Với vai trò là một định chế trung gian tài
chính, các ngân hàng huy động vốn bằng cách nhận tiền gửi các loại hoặc vay từ
công chúng và từ các ngân hàng khác, sau đó sử dụng khoản vốn để cho vay hoặc
đầu tư.
Theo Lepetit và cộng sự (2008) ngân hàng trả lãi suất tiền gửi cho người gửi
tiền, đồng thời ấn định mức lãi suất cho vay đối với các đối tượng vay tiền từ ngân
hàng. Chênh lệch giữa thu nhập lãi cho vay khách hàng và chi phí phải trả lãi tiền
gửi là thu nhập thuần từ hoạt động tín dụng. Đây là một nhân tố quyết định đối với
khả năng sinh lời của ngân hàn. Thu nhập từ hoạt động tín dụng giảm thường báo
hiệu một sự sụt giảm trong kết quả hoạt động của ngân hàng. Theo Sitiroh (2006)
thu nhập thuần là sự chênh lệch giữa các khoản cho vay với khoản phải trả cho
người gửi tiền. Đây là một khoản quan trọng đối với khả năng sinh lời của ngân
hàng. Hempel, Coleman và Simonson (1986) cho rằng thu nhập thuần từ hoạt động
tín dụng là khoản thu nhập quan trọng trong việc đo lường những thay đổi và xu
hướng biên độ lãi suất so với thu nhập lãi của các ngân hàng. Tỷ lệ thu nhập lãi
thuần là chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí lãi phải trả chia cho tổng tài sản.

7


Một số lý thuyết về hoạt động tín dụng của ngân hàng như Saunders (2000), Gorton
và cộng sự (1990), Rose và cộng sự (2000).
2.1.1.2 Thu nhập từ hoạt động phi tín dụng
Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, hệ thống ngân hàng phải đối mặt với nhiều
vấn đề, trong đó là vấn đề tập trung và tái cơ cấu. Để giải quyết những thay đổi đó

2.1.2 Lợi nhuận của ngân hàng thương mại
Hoạt động của các ngân hàng ngày càng phát triển nhưng mục đích vẫn là
duy trì lợi nhuận. Theo European Central Bank (2010) lợi nhuận là chỉ tiêu đầu tiên
bảo vệ ngân hàng khỏi thiệt hại vì nó củng cố lại vốn và cải thiện khả năng sinh lời
thông qua lợi nhuận được giữ lại. Chỉ tiêu quan trọng để đo khả năng sinh lời của
ngân hàng gồm tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) và tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ
sở hữu (ROE): (i) ROA thể hiện hiệu quả của từng đồng vốn đầu tư vào tài sản và
nó cũng chỉ ra khả năng của nhà quản trị trong việc chuyển tài sản của ngân hàng
thành thu nhập ròng (Hassan và cộng sự, 2003), (ii) ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ
lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng (Rose và cộng sự , 2010). Thu nhập cho
các cổ đông là phần lợi nhuận có được sau khi đã hoàn tất nghĩa vụ thuế thu nhập
của ngân hàng cho nhà nước. Ngoài ra, các nghiên của De Young (2004), Pennathur
(2009) cũng sử dụng ROE để đo lợi nhuận của ngân hàng. Theo đó, nghiên cứu này
áp dụng chỉ tiêu ROE (Lợi nhuận sau thuế trên tổng thu nhập) để đo lường lợi
nhuận của ngân hàng.
2.1.3 Rủi ro của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trung gian tài chính, vì vậy ngân hàng có thể gánh chịu rủi
ro trong quá trình hoạt động. Rủi ro có thể phát sinh từ sự hình thành các nguồn vốn
mà ngân hàng sử dụng và do những biến động bất lợi của các yếu tố trên thị trường
như lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán. Ngân hàng không thể tác động làm thay đổi
các yếu tố này mà chỉ có thể dự báo xu hướng, tính toán mức độ ảnh hưởng để từ đó
đưa ra các biện pháp chủ động điều chỉnh qui mô, cơ cấu tài sản, sao cho hạn chế
thấp nhất tổn thất có thể xảy ra thông qua việc kết hợp mô hình hiện đại trong việc
ước lượng rủi ro lãi suất và sử dụng linh hoạt các công cụ tài chính phát sinh. Rủi ro
là những tổn thất, thiệt hại gây ra cho con người và rủi ro có thể đo lường được
(Nguyễn Minh Kiều, 2012).
Rủi ro là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh
nghiệp trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Theo Harry Markowits (1950) cho rằng
đa dạng hóa danh mục sẽ làm giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhấp. Tuy nhiên, khi
các nguồn rủi ro phổ biến xảy ra và ảnh hưởng đến tất cả các công ty, thì chiến lực

còn lại cấu thành nên thu nhập của ngân hàng. Do đó khi thu nhập từ các hoạt động
này gia tăng cũng sẽ dẫn đến việc gia tăng lợi nhuận của các ngân hàng. Tức là thu
nhập từ các hoạt động khác có tác động cùng chiều đến lợi nhuận ngân hàng (Xu
Fengju, 2013).
Tuy nhiên, theo De Young và cộng sự (2001) cho rằng, thu nhập từ hoạt
động phí tín dụng có thể làm gia tăng sự biến động của tổng thu nhập ngân hàng. Ba
lý do làm biến động tổng thu nhập của ngân hàng. Lý do thứ nhất, hầu hết các
khoản vay ngân hàng đều có thể dễ tạo ra được những khoản lợi nhuận lớn, trong

10


khi các hoạt động thu phí dịch vụ góp nhặt lợi nhuận từ những khoản phỉ nhỏ và
không ổn định do khách hàng có thể dễ dàng chuyển sang sử dụng dịch vụ của ngân
hàng khác. Do đó, mặc dù có rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất thì thu nhập từ hoạt
động tín dụng vẫn mang tính ổn định hơn thu nhập từ hoạt động phi tín dụng. Thứ
hai, việc mở rộng hoạt động thu phí dịch vụ sẽ làm tăng chí phí cố định. Thứ ba, đa
số các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng đều chứa đựng ứng
dụng công nghệ. Khi công nghệ có sự cải tiến, các ngân hàng buộc phải cập nhật,
thay đổi theo để làm mới sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, từ đó phát sinh thêm
chi phí ngoài dự tính. Vì thế, hoạt động phi tín dụng có thể đòi hỏi đòn bẩy hoạt
động lớn hơn hoạt động tín dụng, làm cho tổng thu nhập của ngân hàng ảnh hưởng.
Việc ngân hàng đa dạng hóa các hoạt động sẽ thu hút được nhiều đối tượng
khách hàng. Từ đó đem lại lợi thế vượt trội đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh
của các ngân hàng. Từ đó dẫn đến lợi nhuận ngân hàng được cải thiện đáng kể do
tăng thu nhập từ hoạt động kinh doanh mới và đa dạng hóa các lĩnh vực mới. Khi
ngân hàng mở rộng chiến lược kinh doanh thì hoạt động tín dụng và hoạt động phi
tin dụng có tương quan với nhau, đa dạng hóa thu nhập làm giảm thu nhập từ lãi
(Striroh và Rumble, 2000). Cũng một nghiên cứu khác Stiroh và Rumble (2006) cho
rằng khi khách hàng nhận được khoản vay của ngân hàng, khách hàng lo lắng làm

thời, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào hoạt động tín
dụng Lepetit và cộng sự (2008). Một số nghiên cứu có quan điểm thể hiện tác động
cơ cấu thu nhập đến rủi ro ngân hàng. Halling (2006) cho rằng tỉ lệ lợi nhuận từ
hoạt động tin dụng trên tổng tài sản đồng biến với rủi ro ngân hàng. Trong nghiên
cứu của Logan (2001); Montgomery (2004) đòn bẩy là tổng dư nợ huy động trên
vốn chủ sở hữu và có quan hệ cùng chiều với rủi ro phá sản ngân hàng. Đòn bẩy
càng cao do huy động tiền gửi nhiều thì rủi ro càng cao. Tỉ lệ thu nhập lãi thuần trên
tổng doanh thu có quan hệ cùng chiều với rủi ro phá sản của ngân hàng. Sự phụ
thuộc vào thu nhập lãi thuần làm tăng rủi ro của ngân hàng. Quan điểm ngược lại
theo Jordan (2011) cho rằng đòn bẩy bằng tỉ lệ vốn cấp 1 trên tổng tài sản là quan
hệ ngược chiều với rủi ro, có nghĩa là đòn bẩy càng cao thì rủi ro phá sản giảm. Các
nghiên cứu của Lepetit (2008) và Xu Fengju (2010) cũng đưa ra các kết luận về tác
động từ thu nhập của các hoạt động kinh doanh ngân hàng đến rủi ro của chính các
ngân hàng đó. Theo đó, thu nhập từ hoạt động tín dụng có quan hệ cùng chiều với
rủi ro ngân hàng. Điều này được lý giải là mức lãi cho vay mà ngân hàng thu được
thường được đánh giá dựa trên rủi ro của việc cho vay hay đầu tư mà ngân hàng
thực hiện. Một mức lãi cho vay cao hơn sẽ áp dụng cho một dự án hay một khách
hàng có rủi ro tín dụng cao hơn
Việc phát triển sản phẩm dịch vụ trong hoạt động của ngân hàng, góp phần
phân tán rủi ro cho ngân hàng. Nếu hoạt động tín dụng chứa nhiều rủi ro thì hoạt
động dịch vụ dụng chứa ít rủi ro cho ngân hàng Chiorazzo (2008). Cùng quan điểm

12


trên De Young và công sự (2001) trong hoạt động của ngân hàng thì thu nhập từ
hoạt động dịch vụ có tính ổn đỉnh hơn thu nhập từ hoạt động tín dụng, dẫn tới rủi ro
của ngân hàng giảm. Ngược với quan điểm trên Lepetit (2008) và Xu Fengju (2010)
có kết luận là thu nhập từ hoạt động dịch vụ có tác động cùng chiều đến rủi ro. Lý
giải cho điều này là đối với việc mở rộng hoạt động dịch vụ sẽ phải đầu tư nhiều về


2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm
 Nghiên cứu của Lepetit và cộng sự (2008)
Trong bài nghiên cứu của Lepetit và cộng sự (2008) đưa ra nghiên cứu thực
nghiệm để đo lường tương quan giữa rủi ro và cấu trúc thu nhập của các ngân hàng
tại châu Âu. Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy Pooled OLS với dữ liệu của 734
ngân hàng châu Âu trong thời gian từ 1996 tới 2002 để phân tích cấu trúc thu nhập
tác động như thế nào đến rủi ro của hệ thống ngân hàng.
Theo tác giả ba lý do chính khiến rủi ro tăng: (i) Thứ nhất là thu nhập từ hoạt
động cho vay; (ii) Thứ hai là mở rộng hoạt động ngân hàng và mở rộng các hoạt
động cung cấp dịch vụ khác dẫn đến chi phí cố định tăng, làm tăng đòn bẩy; (iii)
Thứ ba là đối với hoạt động phi tín dụng, ngân hàng không bị rằng buộc bởi yêu cầu
trích lập dự phòng, do đó không có khả năng bù đắp các rủi ro có thể xảy ra. Tác giả
đưa ra các biến tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động tín dụng, tỷ lệ thu nhập thuần từ
hoạt động dịch vụ, tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh khác, logarit tổng
tài sản, tỷ lệ cho vay/tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi/ tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/
tổng tài sản, tổn thất cho vay/ cho vay, tỷ lệ chi phí lương/ tổng tài sản, tỷ lệ vốn
chủ sở hữu/ tổng tài sản, suất sinh lời/ vốn chủ sở hữu, các biến này tác động đến rủi
ro của ngân hàng.
Kết quả cho thấy: (i) Thu nhập từ hoạt động tín dụng, thu nhập phi tín dụng
có quan hệ cùng chiều với rủi ro; (ii) Khoản thu từ phí dịch vụ ngân hàng thường
mang lại rủi ro cao hơn là các hoạt động kinh doanh khác. Đối với các ngân hàng
nhỏ thì các hoạt động kinh doanh khác lại góp phần giảm thiểu rủi ro cho các ngân
hàng .
 Nghiên cứu của Xu Fengju và cộng sự (2013)
Xu Fengju và cộng sự (2013) đã đưa ra nghiên cứu nhằm chứng minh rằng
các yếu tố gồm thu nhập từ lãi và thu nhập không từ lãi có tác động đến rủi ro và lợi
nhuận ngân hàng. Phương pháp phân tích hồi quy Pooled OLS với dữ liệu 17 ngân
hàng ở Iranian, giai đoạn 5 năm từ 2006 - 2011. Để có được các thông tin chính xác,
các báo cáo tài chính của ngân hàng được sử dụng làm nguồn dữ liệu cho nghiên

Theo Royfaizali, Razali (2008) các yếu tố quyết định đến lợi nhuận và rủi ro
của ngân hàng khu vực Philippines. Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy Pooled
OLS với với dữ liệu của 39 ngân hàng Philippines.
Mô hình tác giả đưa ra là logalit tổng tài sản, tỷ lệ tổn thất cho vay/ tổng số
vốn vay, thu nhập phi tín dụng, tỷ lệ tổng chi phí chung/tổng tài sản, tốc độ GDP.

15


Kết quả cho thấy tỷ lệ tổn thất/tổng vốn vay, logarit tổng tài sản, tỷ lệ tổng
chi phí/ tổng tài sản tương quan nghịch, thu nhập phi tín dụng tương quan thuận với
lợi nhuận và tương quan nghịch với rủi ro, còn biến GDP không tìm thấy mối tương
quan.
 Nghiên cứu của Syafri (2012)
Suất sinh lời được Syafri (2010) nghiên cứu tại các ngân hàng Indonesia. Tác
giả sử dụng phương pháp hồi quy FEM với dữ liệu của 32 ngân hàng trong khoảng
thời gian 2002-2011.
Mô hình tác giả đưa ra là logatit tổng tài sản, tỷ lệ dư nợ cho vay/ tổng tài
sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu / tổng tài sản, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi/ tổng tài sản, tỷ lệ
chi phí/ thu nhập, tốc độ GDP hàng năm .
Kết quả cho thấy tỷ lệ dự nợ cho vay, tỷ lệ vốn chủ sở hữu / tổng tài sản, tỷ
lệ thu nhập ngoài lãi/ tổng thu nhập tương quan thuận trong khi lạm phát, quy mô và
tỷ lệ chi phí/thu nhập tương quan nghịch với khả năng sinh lời.
Bảng 2.1. Bảng tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm
Tác giả

Lepetit
và cộng
sự
(2008)

tỷ lệ tiền gửi/ tổng
SDROE
ngân hàng
tài sản, tỷ lệ vốn chủ
Châu Âu
sở hữu/ tổng tài sản,
tổn thất cho vay/ cho
vay, tỷ lệ chi phí
lương/ tổng tài sản,
tỷ lệ vốn chủ sở hữu/
tổng tài sản, suất
sinh lời/ vốn chủ sở

16

Kết quả

Thu nhập từ hoạt
động tín dụng có
quan hệ cùng chiều
với rủi ro; Khoản
thu từ phí dịch vụ
ngân hàng thường
mang lại rủi ro cao
hơn là các hoạt
động kinh doanh
khác


Xu

giai
đoạn
1999-2011.

Royfaiz
ali,
Razali
(2008)

Sử dụng
phương
pháp hồi
quy Pooled
OLS với dữ
liệu của 39
ngân hàng
Philippines.

Syafri(
2012)

Sử
dụng
phương
pháp
hồi
quy FEM
với dữ liệu

ROE = Tỷ

/ Tổng tài
sản

Tỷ lệ dư nợ cho vay/
tổng tài sản; tỷ lệ nợ
xấu; tỷ lệ dự phòng;
tỷ lệ vốn chủ sở hữu/
tổng tài sản; tỷ lệ
tiền gửi khách hàng/
tổng nợ phải trả; tỷ
lệ chi phí/ thu nhập;
logarit tổng tài sản;
chỉ số đa dạng hóa
thu nhập; tốc độ
tăng trưởng

ROE = Tỷ
suất
sinh
lời/ Tổng
vốn chủ sở
hữu
ROA = Tỷ
suất sinh lời
/ Tổng tài
sản
RISK=(100
+ average
ROE)/
SDROE

nhập từ hoạt động
kinh doanh khác có
tương quan ngược
chiều với rủi ro và
cùng chiều với lợi
nhuận
Tỷ lệ dư nợ cho
vay/ tổng tài sản, tỷ
lệ tiền gửi khách
hàng tỷ lệ thuận với
khả năng sinh lời.
việc dịch chuyển
sang các hoạt động
ngoài lãi làm gia
tăng cả lợi nhuận
và GDP, lạm phát
không có ý nghĩa
thống kê.
Tỷ lệ tổn thất/tổng
vốn vay, logarit
tổng tài sản, tỷ lệ
tổng chi phí/ tổng
tài sản tương quan
nghịch, thu nhập
phi tín dụng tương
quan thuận với lợi
nhuận và tương
quan nghịch với rủi
ro, còn biến GDP
không tìm thấy mối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status