HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
Tễ VN CHU
PHáP LUậT Về THựC HIệN DÂN CHủ TRONG HOạT ĐộNG
CủA CƠ QUAN HàNH CHíNH NHà NƯớC ở VIệT NAM
TểM TT LUN N TIN S
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s Nh nc v phỏp lut
Mó s: 62 38 01 01
H NI - 2016
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: GS,TS. PHAN TRUNG LÝ
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi...... giờ....... ngày...... tháng...... năm 2016
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia và
Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm đồng thuận trong xã hội, tạo động lực
phát triển đất nước. Vừa qua, Quốc hội khóa XIII, tại kỳ họp thứ 6, đã
2
thông qua Hiến pháp mới (Hiến pháp năm 2013) bổ sung nhiều nội dung
liên quan đến quyền cơ bản của công dân và cơ chế thực hiện các quyền
đó. Điều này đặt ra đòi hỏi các văn bản QPPL phải nhanh chóng được sửa
đổi, bổ sung, hoàn thiện để các quyền của công dân trong Hiến pháp không
chỉ nằm trên giấy, mà đi vào thực tiễn. Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ
không hề dễ, nếu không muốn nói là còn gặp nhiều khó khăn.
Để góp phần giải quyết những vấn đề lý luận, cũng như thực tiễn đang
đặt ra cho pháp luật về THDC trong hoạt động của CQHCNN, nghiên cứu
sinh đã chọn vấn đề: “Pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động
của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
của luận án.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích của luận án
Mục đích của luận án là nghiên cứu lý luận và thực tiễn của pháp luật về
THDC trong hoạt động của CQHCNN ở Việt Nam, từ đó đưa ra các quan
điểm, giải pháp hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật trong lĩnh vực này.
2.2. Nhiệm vụ của luận án
Để đạt mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến
đề tài của luận án, từ đó chỉ ra các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
- Làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật trong lĩnh vực này, như: khái
niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, các tiêu chí đánh giá, chỉ ra các yếu tố
tác động đến quá trình hoàn thiện pháp luật về THDC trong hoạt động
của CQHCNN ở Việt Nam; kinh nghiệm có liên quan từ các nước có thể
áp dụng vào nước ta.
như: phương pháp lôgic, phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử cụ
thể, phương pháp xã hội học pháp luật, phương pháp phân tích, tổng hợp,
so sánh để phát hiện và xử lý tất cả các vấn đề lý luận, cũng như thực tiễn
có liên quan để giải quyết đề tài một cách khoa học:
4
Chương 1 sử dụng các phương pháp cơ bản: phân tích, lôgic, hệ thống,
so sánh, tổng hợp để xác định các vấn đề đã được nghiên cứu toàn diện,
sâu sắc và những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án.
Chương 2 sử dụng các phương pháp cơ bản: phân tích, lôgic, hệ thống,
so sánh để xác định và trình bày một cách có hệ thống quan niệm, đặc
điểm, vai trò, nội dung, tiêu chí đánh giá pháp luật về THDC trong hoạt
động của CQHCNN ở Việt Nam.
Chương 3 sử dụng các phương pháp cơ bản: phân tích, lôgic, hệ thống,
so sánh, tổng hợp, lịch sử cụ thể, xã hội học pháp luật để làm rõ và trình
bày có hệ thống những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những ưu điểm
và hạn chế trong pháp luật về THDC trong hoạt động của CQHCNN.
Chương 4 sử dụng các phương pháp cơ bản: phân tích, lôgic, hệ thống,
lịch sử cụ thể để kiến giải, đề xuất và sắp xếp một cách lôgic các quan
điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về THDC trong hoạt động của
CQHCNN ở Việt Nam.
5. Những đóng góp mới về khoa học của Luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện, có hệ
thống và sâu sắc về cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về THDC
trong hoạt động của CQHCNN và vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật
này trong những năm tới, vì vậy, có những đóng góp mới về khoa học:
- Xây dựng được khái niệm, làm rõ đặc điểm, vai trò, nội dung của
pháp luật về THDC trong hoạt động của CQHCNN ở Việt Nam.
- Làm rõ quá trình hình thành, phát triển, đánh giá đúng những thành
gia, H, 1994); “Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ
máy Đảng và Nhà nước: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do GS.TS.
Đào Trí Úc chủ biên (Nxb.Chính trị quốc gia, 2009); “Phân công, phối
hợp và kiểm soát quyền lực với việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992” của
GS.TS. Trần Ngọc Đường (Nxb.Chính trị quốc gia, H, 2012); “Vai trò của
Nhà nước đối với việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân ở Việt Nam
6
hiện nay” luận án Tiến sĩ Triết học của Trần Thị Băng Thanh bảo vệ năm
2002; “Dân chủ và mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền với dân chủ”
của TS. Trần Hậu Thành (T/c.Dân chủ và pháp luật, số 10/2000); “Về Nhà
nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân” của cố GS.TS. Hoàng
Văn Hảo (T/c.Lý luận chính trị, số 10/2002 và số 11/2002); “Vấn đề dân
chủ XHCN: Nội dung, hình thức biểu hiện, điều kiện bảo đảm” của GS.TS.
Phạm Ngọc Quang (T/c.Thông tin công tác-lý luận, số 3/2004); “Quan
điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” của PGS.TS. Tô Huy Rứa
(T/c.Cộng sản, số 22/2005)...
Nhóm thứ hai, các công trình tiêu biểu liên quan đến pháp luật THDC
và pháp luật về THDC trong hoạt động của CQHCNN: “Dân chủ và pháp
luật dân chủ” của TS. Ngô Huy Cương (Nxb.Tư pháp, Hà nội - 2006);
“Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật trong điều kiện Việt Nam hiện
nay” Luận án Tiến sĩ Luật học của Đỗ Minh Khôi bảo vệ năm 2006; “Xu
hướng dịch chuyển quyền lực trong bộ máy hành chính và vấn đề dân
chủ” của PGS.TS. Phạm Hồng Thái (T/c.Nhà nước và pháp luật, số
6/2005); “Đảng lãnh đạo xây dựng nền hành chính nhà nước Việt Nam
trong sạch, dân chủ và hiện đại” của Nguyễn Khánh (T/c.Cộng sản, số
20/2006); “Đánh giá việc thực hiện các Nghị định của Chính phủ về Quy
chế THDC ở cơ sở”- Báo cáo của Bộ Nội vụ số 3401 ngày 13/9/2006;
1.2.1. Nhận xét về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thứ nhất, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu
sắc đề tài: Pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan
hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Thứ hai, Mặc dù, quan niệm về dân chủ còn có sự khác nhau, nhưng
các nghiên cứu đều thống nhất một số điểm cơ bản: dân chủ là yêu cầu
khách quan của phát triển, nó mang tính lịch sử, có thể tiếp cận dưới nhiều
góc độ, gắn liền với pháp luật và ngày càng phải được phát huy.
Các nghiên cứu tiếp cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh đều cho rằng, dân chủ gắn liền với nhà nước pháp
8
quyền XHCN, đó là “chế độ thống trị của đa số đối với thiểu số, vì lợi ích
của đa số”, nhưng có xét đến lợi ích chính đáng của thiểu số, ở đó dân là chủ,
dân làm chủ. Dân chủ có thể được thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián
tiếp. Việc THDC ở cơ sở là cực kỳ quan trọng. Các nghiên cứu ở nước ta đều
cho rằng CQHCNN là cơ quan thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà
nước, nghĩa là thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành.
Các vấn đề lý luận khác của đề tài vẫn chưa được thống nhất, hoặc chưa
được nghiên cứu, như: khái niệm, vai trò, đặc điểm, nội dung của pháp luật
THDC trong hoạt động của CQHCNN...
Thứ ba, rất ít công trình nghiên cứu về THDC trong hoạt động của
CQHCNN và thực trạng pháp luật về THDC trong hoạt động của các cơ
quan này. Các đánh giá chủ yếu ở dạng nêu ý kiến chứ chưa dựa trên
những căn cứ thuyết phục.
Thứ tư, mặc dù không trực tiếp, nhưng các công trình đều cho thấy, ở
nước ta, việc hoàn thiện pháp luật về THDC trong hoạt động của
CQHCNN là yêu cầu khách quan.
2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỰC
HIỆN DÂN CHỦ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
2.1.1. Khái niệm pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động
của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
2.1.1.1 Khái quát về dân chủ và thực hiện dân chủ trong hoạt động của
cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
- Khái quát về dân chủ: Thuật ngữ “dân chủ” ra đời từ thời cổ đại, theo
tiếng Hy Lạp là Demokratia. Có nhiều cách tiếp cận dân chủ, trong đó, tiếp
cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh là khoa học và thuyết phục nhất. Dân chủ là phạm trù mang tính lịch
sử, có thể được tiếp cận dưới góc độ là một thể chế chính trị, một hình
thức tổ chức nhà nước, một giá trị xã hội... tùy theo yêu cầu nghiên cứu, có
thể được xem xét trong quan hệ giữa nhà nước và công dân, giữa cá nhân
10
công dân với cộng đồng, tổ chức và cá nhân khác, trên các phương diện:
kinh tế, dân sự, chính trị, văn hóa, xã hội; có thể đạt được ở các trình độ và
thể hiện dưới các hình thức khác nhau. Dân chủ XHCN ra đời là yêu cầu
khách quan về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất. Dân chủ còn là điều kiện, là phương thức, là con
đường để đạt mục tiêu của CNXH. Đó là “chế độ thống trị của đa số đối
với thiểu số, vì lợi ích của đa số” [81, tr.164], tuy nhiên có xét đến lợi ích
chính đáng của thiểu số. Trong nền dân chủ đó, nhân dân là chủ, nhân dân
làm chủ thông qua nhà nước, các tổ chức của họ hoặc tự thực hiện. Dân
chủ XHCN còn được hiểu là hình thức tổ chức, là phương thức quản lý và
điều hành xã hội, là chế độ của nhà nước, trong đó quyền gắn với nghĩa vụ,
lợi ích gắn với trách nhiệm. Nó gắn với tập trung, kỷ luật, kỷ cương và
cơ quan hành chính nhà nước.
Pháp luật về THDC trong hoạt động của CQHCNN có phạm vi điều chỉnh
rất rộng, gồm: việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQHCNN;
việc THDC trong quan hệ và giải quyết công việc của cơ quan đó với nhân dân;
việc THDC trong quan hệ nội bộ CQHCNN và THDC của CQHCNN trong
quan hệ với cơ quan nhà nước cấp trên và cơ quan nhà nước cấp dưới...
Dưới góc độ cụ thể hơn: Pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt
động của cơ quan hành chính nhà nước là tổng thể các quy phạm pháp
luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về việc bảo đảm cơ quan hành chính
thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; về việc công dân, cán bộ,
công chức, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền làm chủ trong hoạt động của
cơ quan hành chính; về việc thực hiện dân chủ giữa cơ quan hành chính
với cơ quan nhà nước cấp trên và cơ quan nhà nước cấp dưới và các quy
định về những điều kiện cơ bản thuộc về trách nhiệm của cơ quan hành
chính để bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của các chủ thể đó.
2.1.2. Đặc điểm của pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động
của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
Ngoài những đặc điểm chung của pháp luật so với các quy phạm xã hội
khác, pháp luật về THDC trong hoạt động của các CQHCNN có một số
đặc điểm riêng. Một là căn cứ pháp lý cơ bản cho hoạt động của
12
CQHCNN. Hai là điều chỉnh các quan hệ xã hội có tính nhạy cảm cao. Ba
là có phạm vi điều chỉnh rất rộng, thể hiện trong nhiều văn bản QPPL.
2.1.3. Vai trò của pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động
của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
Các QPPL về THDC trong hoạt động của CQHCNN giữ một số vai trò quan
trọng: Một là phương tiện thể chế hóa và kiểm nghiệm các chủ trương, chính
sách của Đảng về THDC trong hoạt động của CQHCNN; Hai là cơ sở pháp lý
động của CQHCNN; Bốn là, kỹ thuật lập pháp thể hiện trong pháp luật về
THDC trong hoạt động của CQHCNN; Năm là, tính khả thi của pháp luật
về THDC trong hoạt động của CQHCNN.
2.3.2. Các yếu tố tác động đến quá trình hoàn thiện pháp luật về
thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước
ở Việt Nam
Hoàn thiện pháp luật về THDC trong hoạt động của CQHCNN chịu tác
động của các yếu tố cơ bản: Một là, trình độ phát triển kinh tế - xã hội; Hai
là, sự lãnh đạo của Đảng về hoàn thiện pháp luật về THDC trong hoạt
động của CQHCNN; Ba là, nhân dân; Bốn là, năng lực của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền trong ban hành văn bản QPPL; Năm là, điều kiện
vật chất, kỹ thuật trong hoàn thiện pháp luật.
Chương 3
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG
PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM
3.1. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌ̀NH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ
QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
3.1.1 Giai đoạn 1945-1958: Chính quyền cách mạng đã ban hành nhiều
văn bản xóa bỏ ngạch quan lại của chính quyền thực dân và ban hành Hiến
pháp năm 1946, trong đó quy định hết sức tiến bộ về quyền, nghĩa vụ cơ
bản của công dân, đồng thời có các chương riêng về tổ chức và hoạt động
14
của bộ máy nhà nước (Chính phủ-Chương IV, Hội đồng nhân dân và Ủy
ban hành chính tại Chương V)... Tiếp theo, Nghị viện ban hành các đạo
hội, Quốc hội khóa VIII tại kỳ họp thứ 11 đã thông qua Hiến pháp năm
1992. Cùng với việc kế thừa các quy định về THDC trong các Hiến pháp
trước đó, Hiến pháp này khẳng định không ngừng phát huy dân chủ, bổ
sung thêm nhiều quyền cho người dân, đặc biệt quyền được thông tin
(Đ.69) là hết sức quan trọng, đồng thời, khẳng định rõ: Quyền công dân
không tách rời nghĩa vụ công dân, Nhà nước bảo đảm các quyền của công
dân, công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình (Đ.51) và có một số quy
định phù hợp hơn với KTTT, như: Nhà nước có chính sách học phí và học
bổng (Đ.59); quy định chế độ viện phí, miễn và giảm viện phí (Đ.61)...
Các cơ quan có thẩm quyền khác đã ban hành các văn bản quan trọng,
như: Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả năm 1994; Bộ luật dân sự năm 1995;
Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động năm 1996; Luật ban hành
văn bản QPPL năm 1996; Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998...
Sau những năm đầu đổi mới, bên cạnh những tiến bộ về THDC, thì vi
phạm quyền làm chủ của nhân dân xảy ra ở nhiều nơi và có nguy cơ trở
thành nhiều điểm nóng, tạo nên “những cuộc bùng nổ nguy hiểm” [76,
tr.16]. Để chấn chỉnh tình hình, các cơ quan của Đảng đã ban hành các văn
kiện quan trọng, như: Chỉ thị 30-CT/TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị
(khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (trong đó
có THDC trong hoạt động của CQHCNN); Chỉ thị 10-CT/TW ngày
28/3/2002 Ban Bí thư (khóa IX) về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và
thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Kết luận số 65-KL/TW, ngày 4/3/2010
của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị
(khóa VIII)... Trên cơ sở đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban
hành nhiều văn bản QPPL thể chế hóa các quan điểm của Đảng về dân
chủ, trong đó có Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động cơ quan ban
hành kèm theo Nghị định 71/1998/NĐ-CP ngày 8/9/1998 của Chính phủ
(đã được thay thế bằng Nghị định số 4/2015/NĐ-CP ngày 9/1/2015 về
Thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính và đơn vị sự
được những tiến bộ, đặc biệt là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đất
17
nước đến nay.
3.2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ TRONG
HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
3.2.1. Những thành tựu của pháp luật về thực hiện dân chủ trong
hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Một là, đã có những quy định pháp luật làm nền tảng cho việc THDC
trong hoạt động của bộ máy nhà nước và THDC trong hoạt động của
CQHCNN nói riêng
Hai là, các quy định pháp luật bảo đảm CQHCNN thực hiện đúng chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã đạt được những thành tựu nhất định. Thứ
nhất, đã có một hệ thống các văn bản, các quy định pháp luật về phân định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các CQHCNN. Thứ hai, các quy
định pháp luật đã từng bước đơn giản hóa trình tự, thủ tục thực hiện chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các CQHCNN. Thứ ba, quy định pháp luật
về kiểm soát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
CQHCNN đã đạt được những tiến bộ nhất định. Thứ tư, pháp luật đã đề
cao trách nhiệm của CQHCNN, của người đứng đầu các cơ quan đó trong
bảo đảm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan.
Ba là, thành tựu trong các quy định về nhân dân thực hiện quyền làm
chủ trong hoạt động của các CQHCNN. Thứ nhất, thông qua các văn bản
khác nhau, pháp luật đã từng bước bổ sung nhiều quyền làm chủ cơ bản của
công dân. Thứ hai, các văn bản QPPL đã quy định một cách tương đối đầy
đủ về nội dung và các bảo đảm thực hiện đối với một số quyền làm chủ cơ
bản của công dân trong hoạt động của CQHCNN. Thứ ba, đồng thời với các
quá trình CQHCNN hoạt động.
Ba là, hạn chế của các quy định pháp luật về cán bộ, công chức thực
hiện quyền làm chủ trong hoạt động của CQHCNN. Thứ nhất, chưa quy
định đầy đủ quyền làm chủ của cán bộ, công chức trong hoạt động của
CQHCNN, đối với một số quyền còn quy định chung chung. Thứ hai, quy
định về trình tự, thủ tục và các điều kiện khác bảo đảm thực hiện quyền
làm chủ của cán bộ, công chức còn chưa rõ ràng, thậm chí còn thiếu. Thứ
19
ba, chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan đang gây nên
những hạn chế việc thực hiện quyền làm chủ của cán bộ, công chức trong
CQHCNN.
Bốn là, hạn chế của quy định về thực hiện dân chủ trong quan hệ giữa
CQHCNN với cơ quan cấp trên và cơ quan cấp dưới
Năm là, hạn chế của quy định pháp luật xử lý vi phạm về thực hiện dân
chủ trong hoạt động của CQHCNN
Sáu là, ngoài những hạn chế trên, pháp luật về THDC trong hoạt động
của CQHCNN còn một số hạn chế khác: chưa có các quy định để tiêu
chuẩn hóa kết quả THDC trong hoạt động của CQHCNN; Trách nhiệm
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật THDC trong hoạt động của
CQHCNN chưa được pháp luật quy định rõ; Các quy định về THDC trong
hoạt động của CQHCNN còn nằm tản mạn trong rất nhiều văn bản QPPL,
còn thiếu hệ thống, đồng bộ, có những quy định còn mâu thuẫn lẫn nhau,
tính khả thi chưa cao.
Tóm lại, pháp luật trong lĩnh vực này đã hình thành các chế định của
nó, nhưng vẫn chưa toàn diện. Ngoại trừ trong một số lĩnh vực đã tương
đối đủ các QPPL, nhìn chung còn thiếu nhiều quy định cần thiết, còn mâu
thuẫn, chồng chéo trong các quy định về phân định chức năng, nhiệm vụ,
vẫn còn những quy định về quyền, về trình tự, thủ tục thực hiện các quyền
dân chủ ở cơ sở - một khâu đột phá nhằm đẩy mạnh việc xây dựng nền dân
chủ XHCN trong giai đoạn cách mạng mới” [111, tr.20]. Bên cạnh đó,
pháp luật về THDC trong hoạt động của CQHCNN còn nhiều hạn chế xuất
phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Nguyên nhân khách quan: Điều kiện kinh tế - xã hội nước ta đang gây
nên những cản trở nhất định đối với việc hoàn thiện pháp luật về THDC
trong hoạt động của CQHCNN. Thứ nhất, điều kiện kinh tế - xã hội hiện
nay chưa cho phép làm rõ và tiên liệu trước nhiều vấn đề về dân chủ. Thứ
hai, điều kiện kinh tế - xã hội đang là một trong những nguyên nhân làm
hạn chế năng lực xây dựng và ban hành pháp luật về THDC trong hoạt
động của CQHCNN...
21
Nguyên nhân chủ quan: Hạn chế của pháp luật về THDC trong hoạt
động của CQHCNN chủ yếu do những nguyên nhân chủ quan gây nên.
Trước hết, hạn chế trong nhận thức về vai trò, ý nghĩa của THDC và
THDC trong hoạt động của CQHCNN. Thứ hai, năng lực, điều kiện công
tác của các cơ quan có thẩm quyền trong ban hành văn bản QPPL còn hạn
chế, nhất là các tổ chức pháp chế trong các CQHCNN. Thứ ba, pháp luật
về ban hành văn bản QPPL vẫn còn những hạn chế nhất định. Thứ tư, thực
tiễn công tác xây dựng và ban hành văn bản QPPL còn nhiều hạn chế.
Chương 4
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
THỰC HIỆN DÂN CHỦ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
4.1. QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
4.1.1. Hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động
CQHCNN.
4.2.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện hình thức pháp luật về thực hiện
dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt
Nam: Một là, ban hành các văn bản QPPL về THDC trong hoạt động của
CQHCNN có kết cấu khoa học, ngôn ngữ diễn đạt dễ hiểu. Hai là, ban
hành các văn bản QPPL về THDC trong hoạt động của CQHCNN có hiệu
lực pháp lý cao hơn.
4.2.3. Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện quá trình hoàn thiện
pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành
chính nhà nước ở Việt Nam: Một là, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng
trong quá trình hoàn thiện pháp luật về THDC trong hoạt động của
CQHCNN. Hai là, nâng cao nhận thức về hoàn thiện pháp luật THDC
trong hoạt động của CQHCNN. Ba là, bảo đảm cơ sở pháp lý cho quá
trình hoàn thiện pháp luật về THDC trong hoạt động của CQHCNN. Bốn
là, bảo đảm nguồn nhân lực, điều kiện vật chất, kỹ thuật cho quá trình
hoàn thiện pháp luật về THDC trong hoạt động của CQHCNN. Năm là,
kịp thời xây dựng, ban hành các quy định pháp luật về THDC trong hoạt
động của CQHCNN một cách khoa học, chất lượng, hiệu quả.
23
KẾT LUẬN
Dân chủ, thành tố cơ bản của pháp luật về THDC trong hoạt động của
CQHCNN, là vấn đề đa diện, phức tạp, có thể được tiếp cận dưới nhiều
góc độ khác nhau, với nhiều mục đích khác nhau. Trong đó, cách tiếp cận
theo phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khách quan, khoa học và
thuyết phục nhất. Dân chủ mà luận án đề cập là dân chủ XHCN.
Ở nước ta, hiểu một cách khái quát, thì pháp luật về THDC trong hoạt
động của CQHCNN là: Tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các