C5 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT Ý THỨC PHÁP LUẬT PHÁP CHẾ XHCN - Pdf 40

================== Hệ thống pháp luật – Ý thức pháp luật – Pháp chế XHCN
HỆ THỐNG PHÁP LUẬT - Ý THỨC PHÁP LUẬT
PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
I. HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
1. Khái niệm hệ thống pháp luật
Hệ thống là một khái niệm được sử dụng để chỉ sự vật và hiện tượng có cấu trúc
thống nhất, hoàn chỉnh, được sắp xếp theo những nguyên tắc, những mối liên hệ nhất
định, đồng thời cũng chịu chi phối bởi một số quy luật chung. Hệ thống là khái niệm
được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau và là cơ sở cho hoạt động hệ
thống hóa các hiện tượng, sự vật của tự nhiên và xã hội.
Vì sao cần phải có tính hệ thống?
- Cũng như bất kỳ hiện tượng xã hội nào, pháp luật cũng đòi hỏi phải có tính
chính xác, tính khái quát cao, đồng thời phải bảo đảm tính cụ thể, tính phù hợp của nó
khi chiếu vào những tình huống cụ thể xảy ra trong từng lĩnh vực của đời sống. Chính
vì vậy, pháp luật đòi hỏi có tính hệ thống cao - Pháp luật của một quốc gia phải là một
hệ thống.
- Các quy phạm pháp luật tồn tại trong những mối liên hệ nhất định và cùng chịu
chi phối bởi các điều kiện vật chất và tinh thần của đời sống xã hội, chúng tạo nên một
hệ thống hoàn chỉnh - hệ thống pháp luật.
Khái niệm hệ thống pháp luật là một khái niệm chung bao gồm cả hai mặt của
một chỉnh thể pháp luật thống nhất: hệ thống cấu trúc bên trong của pháp luật và hệ
thống các văn bản quy phạm pháp luật (hệ thống nguồn của pháp luật).
Hệ thống pháp luật: là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại
thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định luật, các ngành luật và được
thể hiện trong các văn bản do Nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục và
hình thức luật định.
Hệ thống cấu trúc pháp luật: là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ
nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định luật, các ngành luật.
Hệ thống cấu trúc có 3 thành tố cơ bản ở 3 cấp độ khác nhau:
Quy phạm pháp luật là thành tố nhỏ nhất, là tế bào trong hệ thống cấu trúc
pháp luật, nó vừa có tính khái quát, vừa có tính cụ thể. (?) Khái quát: quy tắc xử sự

- Mức độ liên kết các chế định trong ngành luật không chặt chẽ bằng sự liên kết
các nhóm quy phạm pháp luật trong một chế định luật.
- Người ta có thể bỏ đi một vài chế định luật trong một ngành luật, thì ngành
luật không được hoàn chỉnh nhưng nó có thể vẫn tồn tại. Nhưng nếu bỏ đi
một vài quy phạm hay nhóm quy phạm trong một chế định thì chế định đó có
thể bị thay đổi hoặc chấm dứt sự tồn tại.
Việc phân định hệ thống luật thành ngành luật và chế định luật có ý nghĩa về
thực tiễn rất lớn. Tuy nhiên, việc xác định đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều
chỉnh của một ngành luật là phức tạp và chỉ là tương đối, song vấn đề này lại hết sức
có ý nghĩa đối với khoa học pháp lý và là nhiệm vụ của khoa học pháp lý. Phân định
ngành luật là nhằm điều chỉnh pháp luật có hiệu quả các quan hệ xã hội theo những
lĩnh vực, thông qua việc áp dụng quy phạm pháp luật và phương pháp điều chỉnh thích
hợp. Việc chia nhỏ ngành luật thành các chế định luật, ngoài mục đích trên, còn nhằm
tạo ra những khái niệm pháp lý hoàn chỉnh, có tính ổn định để thúc đẩy công tác xây
dựng pháp luật.
2. Căn cứ xác định ngành luật, chế định luật
Trong khoa học pháp lý xã hội chủ nghĩa tồn tại ba tiêu chuẩn để phân chia hệ
thống pháp luật thành các ngành luật và chế định luật:
Căn cứ theo đối tượng điều chỉnh, Ngành luật và chế định luật tồn tại một cách
khách quan, do nhóm quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh quy định. Bởi vậy,
căn cứ theo đối tượng điều chỉnh để phân định hệ thống pháp luật thành ngành luật và
chế định luật là chủ yếu nhất.
Căn cứ theo phương pháp điều chỉnh, Trong thực tế, để xác định một quan hệ
xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật, cần phải kết hợp với phương pháp
điều chỉnh. Mỗi ngành luật, xuất phát từ tính chất của nhóm quan hệ xã hội thuộc đối
tượng điều chỉnh, có những phương pháp điều chỉnh phù hợp. Phương pháp điều
chỉnh của ngành luật là biện pháp mà quy phạm pháp luật sử dụng tác động vào các
quan hệ xã hội để bảo đảm cho các quy định của quy phạm được thực hiện trong thực
tế. Chẳng hạn, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động kinh tế, pháp
luật chủ yếu dựa vào phương pháp bình đẳng, thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh.

hoạt động của Bộ máy nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân..., thể chế
mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ và Nhà nước quản lý. Tính cơ bản
của Hiến pháp còn thể hiện ở chỗ, Hiến pháp đề ra những vấn đề lớn, có tính nguyên
tắc, lâu dài, làm cơ sở để ban hành các văn bản luật, pháp lệnh và các văn bản quy
phạm pháp luật của nhà nước cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội.
1.2. Luật (Đạo luật, Bộ luật)
Luật là một loại văn bản quy phạm pháp luật có giá trị sau Hiến pháp, do Quốc
hội ban hành nhằm cụ thể hóa những vấn đề quy định trong Hiến pháp trên các lĩnh
của đời sống xã hội. Ví dụ Bộ luật Dân sự năm 1996, Bộ luật Hình sự năm 1999, Luật
Doanh nghiệp năm 1999, Luật Hợp tác xã năm 1997... Khi xây dựng và sửa đổi luật
phải theo nguyên tắc biểu quyết đa số thường, quá một nửa tổng số Đại biểu Quốc hội
nhất trí. Trình tự và thủ tục ban hành Luật được quy định trong Hiến pháp và Luật ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật năm 1996.
Luật và bộ luật có vai trò nòng cốt trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
của nhà nước ta, vừa là văn bản cụ thể hóa Hiến pháp, bảo đảm cho Hiến pháp được
thực hiện, vừa là cơ sở để cho các cơ quan nhà nước ban hành các văn bản khác (văn
bản dưới luật) để thực hiện quản lý nhà nước ở các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảm
bảo nguyên tắc Quốc hội là cơ quan lập pháp của nhà nước, đòi hỏi phải tăng cường
sự hiện diện của các luật và bộ luật trong hệ thống pháp luật.
1.3. Nghị quyết của Quốc hội
Nghị quyết của Quốc hội là văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội ban
hành để quyết định những vấn đề về Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội; chính sách
dân tộc, tôn giáo; công tác đối ngoại; quốc phòng an ninh; dự toán, phân bổ, điều
chỉnh, phê chuẩn và quyết toán ngân sách; chế độ làm việc của Quốc hội, Đại biểu
Quốc hội và những vấn đề khác thuộc thẩm quyền.
2. Văn bản thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
2.1. Pháp lệnh
Pháp lệnh là loại văn bản quy định những vấn đề được Quốc hội giao cho Ủy ban
Thường vụ Quốc hội ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội do chưa ban hành
được luật để kịp thời quản lý xã hội. Pháp lệnh còn có mục đích chuẩn bị điều kiện

chuẩn các Điều ước Quốc tế, Quyết định khen thưởng... Số lượng các văn bản quy
phạm pháp luật rất ít và hiếm, và chủ yếu, Chủ tịch nước ban hành các văn bản pháp
luật cá biệt trong các trường hợp cụ thể nhưng có hiệu lực lâu dài.
3.2. Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng
Đây là nhóm các văn bản quy phạm pháp luật hết sức quan trọng trong hệ thống
pháp luật của Nhà nước ta hiện nay, trong điều kiện pháp luật chưa hoàn thiện và
đồng bộ. Mục đích ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của Cơ quan hành pháp
(Chính phủ) là cụ thể hóa các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Ủy ban
thường vụ Quốc hội, để triển khai thực hiện trên thực tế. Mặt khác, trong quá trình
thực hiện chức năng quản lý nhà nước, Chính phủ và Thủ tướng còn có thể ban hành
các văn bản quy phạm để kịp thời điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội mới phát sinh,
chưa được điều chỉnh bằng các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn.
+ Nghị quyết của Chính phủ được ban hành để quyết định các chính sách cụ thể
trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý hành chính nhà nước của Chính phủ, như
xây dựng và kiện toàn của Bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở,
hướng dẫn kiểm tra Ủy ban nhân dân cấp dưới thực hiện các văn bản của cơ quan nhà
nước cấp trên; đảm bảo thi hành Hiến pháp và pháp luật; thực hiện các chính sách xã
hội, dân tộc, tôn giáo, quyết định các chủ trương chính sách về ngân sách, tiền tệ,
quốc phòng và an ninh...
+ Nghị định của Chính phủ được ban hành để quy định chi tiết thi hành Luật,
Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội, Lệnh, Quyết định
của Chủ tịch nước. Quy định tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của các Bộ, cơ
quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc thẩm quyền thành lập của Chính phủ. Nghị định
còn được ban hành để quy định những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện ban
hành Luật hay Pháp lệnh. Việc ban hành các Nghị định với tư cách là văn bản quy
phạm pháp luật có hiệu lực cao nhất điều chỉnh một số quan hệ xã hội này phải được
=====================================================================

5


cao hơn thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực mà Bộ quản lý. Bên cạnh đó còn có Thông tư
liên tịch để phối hợp hoạt động giữa các bộ ngành và các cơ quan nhà nước khác như
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan trung ương của
các tổ chức chính trị-xã hội.
Bên cạnh đó còn có các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan tư pháp,
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết để hướng dẫn Tòa
án nhân dân các cấp áp dụng thống nhất pháp luật và tổng kết kinh nghiêm xét xử,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành các Quyết định, Chỉ thị , Thông
tư để quy định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Viện trưởng.
4. Văn bản của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp
Để triển khai việc thi hành các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội và cơ quan nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân các cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp quy có hiệu lực trong
phạm vi địa phương do các cơ quan đó quản lý. Bao gồm:
4.1. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp
=====================================================================

6


================== Hệ thống pháp luật – Ý thức pháp luật – Pháp chế XHCN
Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan đại diện của nhân dân tại địa phương, có
quyền ra Nghị quyết để điều chỉnh các vấn đề xã hội, các quan hệ xã hội quan trọng tại
địa phương trong phạm vi thẩm quyền được giao. Hội đồng nhân dân căn cứ vào các quy
định trong các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên ra các
Nghị quyết thi hành tại địa phương. Nội dung Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp
dưới không được trái với Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp trên hoặc trái với Quyết
định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân cấp trên (Điều 120- Hiến pháp 1992)
4.2. Quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp ban hành
Ủy ban nhân dân các cấp do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra để quản lý các

Hiệu lực thời gian xác định giá trị áp dụng bắt buộc của quy phạm pháp luật
trong một văn bản ở một khoảng thời gian nhất định. Hiệu lực thời gian được xác định
từ thời điểm phát sinh cho đến khi chấm dứt sự tác động của văn bản đó. Liên quan
đến hiệu lực về thời gian của văn bản quy phạm pháp luật chúng ta phải xem xét về
=====================================================================

7


================== Hệ thống pháp luật – Ý thức pháp luật – Pháp chế XHCN
thời điểm phát sinh và chấm dứt hiệu lực; trường hợp ngưng hiệu lực, và hiệu lực hồi
tố của văn bản.
Thời điểm phát sinh hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được xác định
khác nhau, thông thường, thời điểm này được ghi rõ trong văn bản hoặc được xác định
theo quy định của pháp luật. Luật ban hành văn bản của nhà nước ta quy định về thời
điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật như sau:
1. Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội có hiệu lực kể từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố, trừ trường hợp văn bản
đó quy định ngày có hiệu lực khác.
2. Văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước có hiệu lực kể từ ngày đăng
Công báo, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác.
3. Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
và các văn bản quy phạm pháp luật liên tịch có hiệu lực sau mười lăm ngày, kể từ ngày
đăng Công báo hoặc có hiệu lực muộn hơn nếu được quy định tại văn bản đó. Đối với
văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định các biện
pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, thì văn bản có thể quy định ngày có hiệu lực sớm
hơn.''
Trong thực tế, có những văn bản quy phạm, nếu áp dụng là không phù hợp,
không có tác dụng, có trường hợp có hại... thì văn bản có thể bị đình chỉ thi hành và

cụ thể trong văn bản. Điều 76, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:
1. Chỉ trong trường hợp cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy
định hiệu lực trở về trước;
2. Không được quy định hiệu lực trở về trước trong những trường hợp sau đây:
a) Quy định trách nhiệm mới đối với hành vi mà vào thời điêm thực hiện hành
vi pháp luật không quy định trách nhiệm đó; b)Quy định trách nhiệm pháp lý nặng
hơn.
2. Hiệu lực theo không gian
Hiệu lực theo không gian giới hạn tác động của một văn bản quy phạm pháp luật
được xác định theo lãnh thổ toàn quốc gia, theo một vùng hay một địa phương nhất
định. Một văn bản có hiệu lực trên một phạm vi lãnh thổ rộng hay hẹp phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như thẩm quyền của cơ quan ban hành ra nó, tính chất, mục đích và nội
dung được thể hiện trong văn bản đó.
Hiệu lực không gian của văn bản quy phạm pháp luật được xác định bằng hai
cách cơ bản: ghi rõ trong văn bản hoặc không ghi rõ trong văn bản. Đối với những văn
bản có ghi rõ về điều khoản phạm vi không gian áp dụng thì chúng sẽ phát huy tác
dụng trong phạm vi đó. Đối với những văn bản không ghi rõ điều khoản về phạm vi
không gian áp dụng thì phải dựa vào thẩm quyền của cơ quan nhà nước ban hành và
nội dung các quy phạm trong văn bản để xác định hiệu lực theo không gian.
Nhìn chung, những văn bản do cơ quan trung ương ban hành, nếu không xác
định rõ giới hạn không gian áp dụng, thì chúng có hiệu lực trên phạm vi cả nước. Tuy
nhiên phải xét nội dung văn bản đề cập đến lĩnh vực nào. Một văn bản của Chính phủ
chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội ở miền núi, hải đảo,... không thể áp dụng cho các
vùng khác trong cả nước được. Các văn bản pháp quy của Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân các cấp chỉ có hiệu lực trong phạm vi địa phương cơ quan đó quản lý.
3. Hiệu lực theo đối tượng áp dụng
Đối tượng điều chỉnh của một văn bản quy phạm pháp luật là một lĩnh vực quan
hệ xã hội nhất định. Quy phạm pháp luật của văn bản sẽ tác động vào hành vi xử sự
của các chủ thể trong các quan hệ xã hội cụ thể, thuộc lĩnh vực đó. Về nguyên tắc, văn
bản quy phạm pháp luật có hiệu lực đối với tất cả mọi đối tượng nằm trong phạm vi

Để xác định hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật chúng ta phải xem xét kết
hợp cả hiệu lực theo thời gian, theo không gian và theo đối tượng áp dụng. Vấn đề này
hết sức có ý nghĩa để đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, cũng là điều kiện thiết lập
một trật tự thứ bậc hiệu lực nghiêm ngặt giữa các văn bản, đảm bảo hình thành một hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật có tính thống nhất cao. Trên thực tế, không phải là
không có việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã
hội khi nó không có hiệu lực đối với quan hệ xã hội đó.
Khi văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực, sẽ được áp dụng trên thực tế. Việc
áp dụng các văn bản này tuân theo một số yêu cầu sau:
1)Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng tính từ thời điểm có hiệu lực. Vì
vậy, chỉ có những hành vi nào xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực.
Trường hợp trong văn bản có quy định hiệu lực hồi tố thì theo quy định đó.
2)Trường hợp các văn bản có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp
dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
3)Trường hợp các văn bản pháp lụật cùng tên gọi về cùng một vấn đề do cùng
một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau thì áp dụng văn bản ban hành sau.
4)Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách
nhiệm pháp lý hoặc quy định pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn
bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới (theo hiệu lực hồi tố).
IV. CÁC NGÀNH LUẬT TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, chất lượng cao để điều
chỉnh các quan hệ xã hội là yêu cầu khách quan của bất cứ nhà nước xã hội chủ nghĩa
nào và là tư tưởng nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Tuy mức độ phát triển của các
ngành luật khác nhau, hiện nay, các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt nam đã
và đang hình thành, phát triển và hoàn thiện cùng với quá trình phát triển của Nhà
nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cho tới nay, hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm
các ngành luật cơ bản sau đây,
1. Luật Nhà nước (Luật Hiến pháp)

===================================================================== 10

củng cố tổ chức bộ máy và chế độ công tác nội bộ của những cơ quan ấy.
♦ Những quan hệ có tính chất chấp hành và điều hành của một số đoàn thể quần
chúng và một số các nhân trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước
đối với những vấn đề cụ thể được pháp luật quy định.
Những quan hệ pháp luật hành chính mang tính chất mệnh lệnh - phục tùng,
không bình đẳng, giữa một bên là các cơ quan quản lý mang quyền lực nhà nước với
một bên là các cá nhân, tổ chức chịu sự quản lý hành chính, sự điều hành. Do đó,
phương pháp điều chỉnh của Luật Hành chính là phương pháp mệnh lệnh.
3. Luật Tài chính
Luật Tài chính là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực hoạt động tài chính của nhà nước như việc lập dự toán,
phê chuẩn và sử dụng ngân sách nhà nước, hoạt động tín dụng, việc định và thu các
loại thuế và việc thanh toán qua Ngân hàng và các tổ chức tài chính khác. Các quy
phạm pháp luật tài chính đặt cơ sở cho việc xây dựng hệ thống tiền tệ, quy định việc
phát hành lưu thông các loại giấy bạc, việc kiểm tra cho vay tín dụng, quy định kỷ luật
===================================================================== 11


================== Hệ thống pháp luật – Ý thức pháp luật – Pháp chế XHCN
trong hoạt động tài chính. Phương pháp điều chỉnh của Luật tài chính là phương pháp
mệnh lệnh.
4. Luật Dân sự
Luật dân sự là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản
mang tính chất hàng hóa - tiền tệ và một số quan hệ nhân thân không mang tính tài
sản. Luật Dân sự gồm nhiều chế định cơ bản như chế định quyền sở hữu, hợp đồng
dân sự, chế định thừa kế, chế định quyền sở hữu trí tuệ, chế định quyền nhân thân...
Đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự là quan hệ hoàn toàn bình đẳng giữa các
chủ thể không mang quyền lực nhà nước và ngang bằng nhau trước pháp luật. Các
quan hệ này liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia. Do đó, phương pháp
điều chỉnh của Luật Dân sự là phương pháp bình đẳng ngang quyền, các bên tự thỏa

bảo vệ lợi ích bà mẹ và trẻ em, chăm sóc giáo dục con cái. Luật Hôn nhân gia đình có
nhiệm vụ bảo vệ chế độ hôn nhân và định hướng cho quan hệ hôn nhân tiến bộ phù
===================================================================== 12


================== Hệ thống pháp luật – Ý thức pháp luật – Pháp chế XHCN
hợp với thuần phong mỹ tục, đạo đức, truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta. Phương
pháp điều chỉnh của Luật Hôn nhân gia đình là phương pháp bình đẳng và hòa giải.
7. Luật Đất đai
Luật Đất đai là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội
hình thành trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, trong đó đất đai là tư liệu sản xuất
thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước quản lý theo quy hoạch và kế hoạch. Các nhóm
quan hệ pháp luật chủ yếu của Luật Đất đai gồm: +Các quan hệ phát sinh giữa Nhà
nước với người sử dụng đất như quan hệ giao đất cho các hộ gia đình, các cá nhân sử
dụng, các quan hệ thu hồi đất, các quan hệ giữa Nhà nước với người nước ngoài thuê
đất của Việt Nam, quan hệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất... + Các quan hệ
giữa những người sử dụng đất với nhau trong quan hệ chuyển đổi đất thuộc quyền
được giao sử dụng, quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quan hệ thừa kế quyền
sử dụng đất..., nhóm quan hệ này còn được điều chỉnh bởi Luật dân sự Việt Nam.
Trong các nhóm quan hệ pháp luật đất đai nói trên, mỗi nhóm có những đặc
điểm riêng, dẫn đến phương pháp điều chỉnh của Luật Đất đai đối với mỗi nhóm quan
hệ là khác nhau, gồm phương pháp mệnh lệnh và phương pháp bình đẳng.
8. Luật Lao động
Lao động là một lĩnh vực hết sức thiết thực đối với bất kỳ một cá nhân nào.
Luật Lao động là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, gồm
tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa người
lao động và người sử dụng lao động và các quan hệ phát liên quan trực tiếp đến quan
hệ lao động. Các chế định cơ bản của Luật lao động gồm: Hợp đồng lao động, thỏa
ước lao động tập thể, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, kỷ luật lao động và trách
nhiệm vật chất, chế độ lao động đối với lao động nữ và người chưa thành niên, bảo

chấp hành các biện pháp cưỡng chế, trừng phạt của Nhà nước. Còn Nhà nước, với tư
cách là chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự, có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ
an toàn và lợi ích của toàn xã hội, có quyền truy tố xét xử, buộc kẻ phạm tội phải chịu
những hình phạt nhất định phù hợp với tính chất và mức độ của tội phạm mà họ gây
ra. Các quy phạm pháp luật hình sự điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự bằng
phương pháp quyền uy, đó là phương pháp sử dụng quyền lực nhà nước trong việc
điều chỉnh các quan hệ giữa Nhà nước và kẻ phạm tội.
11. Luật Tố tụng hình sự
Luật tố tụng hình sự là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định các nguyên
tắc, điều kiện, thủ tục giải quyết một vụ án hình sự, từ việc khởi tố, điều tra, kiểm sát
và xét xử một vụ án hình sự, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng,
đến tổ chức cưỡng chế thi hành án. Đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng hình sự là
các quan hệ phát sinh trong quá trình tố tụng hình sự giữa các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền tiến hành tố tụng với những người tham gia có liên quan.
Phương pháp điều chỉnh của Luật Tố tụng hình sự gồm phương pháp quyền uy
tác động đến quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với những người có liên
quan, người có nghĩa vụ tham gia tố tụng; và phương pháp phối hợp-chế ước tác động
đến quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau.
12. Luật Quốc tế hiện đại (Công pháp quốc tế - Public International Law)
Luật Quốc tế hiện đại là một ngành luật độc lập điều chỉnh quan hệ quốc tế phát
sinh giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập
và quyền tự quyết. Quan hệ giữa các chủ thể này được gọi là các quan hệ đối ngoại ở
tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, tôn giáo, chiến tranh và hòa
bình, liên minh, liên kết... Trong quá trình xác lập và thực hiện các quan hệ bang giao,
các quốc gia và các tổ chức quốc tế thường xác lập các văn kiện pháp lý quốc tế (còn
gọi là các Điều ước Quốc tế - International Treaty). Chỉ những quan hệ nào được ghi
nhận trong các điều ước quốc tế mới được gọi là các quan hệ pháp luật thuộc đối
tượng điều chỉnh của Luật Quốc tế hiện đại.
Bản thân Luật Quốc tế hiện đại có nhiều ngành luật cơ bản hoặc có tính chất là
các ngành luật truyền thống, hoặc là những ngành luật mới phát sinh.

một cách khách quan; còn hệ thống hóa pháp luật khái niệm liên quan đến hình thức
bên ngoài của pháp luật, phản ánh tình trạng các nguồn của pháp luật, mối liên quan
giữa chúng trong một thể thống nhất - hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Hiến
pháp, luật, pháp lệnh,...). Giữa hệ thống pháp luật và hệ thống hóa pháp luật tuy có sự
phân biệt nhưng chúng có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Hệ thống pháp luật là
cơ sở cho công việc hệ thống hóa pháp luật.
Hệ thống hóa pháp luật sẽ tạo được một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
hoàn thiện đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội
thường xuyên biến đổi. Thông qua hệ thống hóa pháp luật các văn bản quy phạm pháp
luật cũng như từng quy phạm cụ thể mất hiệu lực sẽ bị loại bỏ. Điều này rất quan
trọng đối với việc thực hiện pháp luật. Việc hệ thống hóa pháp luật tạo cho cơ quan
nhà nước có khả năng định hướng và giải quyết nhanh chóng các tình huống cụ thể.
Do kết quả của công tác hệ thống hóa pháp luật các bộ luật, pháp luật hiện hành được
sắp xếp theo một trật tự khoa học hơn, từng lĩnh vực rõ ràng, nên việc sử dụng chúng
trong quản lý, xét xử thuận lợi, dễ dàng hơn. Việc hệ thống hóa pháp luật có khả năng
loại trừ tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo của pháp luật, khắc phục được hiện tượng
pháp luật vừa thiếu lại vừa thừa...
2. Nguyên tắc, tiêu chí hệ thống hóa pháp luật
2.1. Nguyên tắc hệ thống hóa pháp luật
Quá trình hệ thống hóa pháp luật phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
a. Bảo đảm tính hiệu lực của các quy phạm pháp luật, các văn bản quy phạm
pháp luật. Mục đích của hệ thống hóa pháp luật là tạo ra một hệ thống pháp luật hoàn
thiện, bảo đảm cho chúng được thực hiện đầy đủ, triệt để và có hiệu lực thực tế. Do
===================================================================== 15


================== Hệ thống pháp luật – Ý thức pháp luật – Pháp chế XHCN
đó, công tác hệ thống hóa pháp luật phải nhằm vào các chế định, các quy phạm pháp
luật còn có hiệu lực. Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình tiến hành hệ thống hóa
pháp luật phải rà xét kỹ càng các quy phạm, các văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu

phạm đã hết hiệu lực hoặc rõ ràng là mâu thuẫn với văn bản có hiệu lực pháp lý cao
hơn. Các cơ quan nhà nước đều có thể tiến hành việc hệ thống hóa pháp luật theo hình
thức tập hợp hóa.
Hình thức pháp điển hóa, Pháp điển hóa là hình thức hệ thống hóa của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Khác với tập hợp hóa, không phải bất cứ cơ quan nhà nước
nào cũng có quyền pháp điển hóa.
Theo hình thức này, không những quy phạm, văn bản đã có được sắp xếp theo
một trật tự nhất định mà còn loại bỏ những quy phạm lỗi thời, sửa đổi những quy
phạm chưa chính xác, bổ sung những quy định mới... Kết quả của pháp điển hóa là
một văn bản quy phạm pháp luật mới được ra đời. Thường là các Bộ luật tương ứng
===================================================================== 16


================== Hệ thống pháp luật – Ý thức pháp luật – Pháp chế XHCN
với một ngành luật định. Khái niệm pháp điển hóa rất quan hệ gần với hoạt động xây
dựng pháp luật. Hai hình thức hệ thống hóa pháp luật nói trên có quan hệ mật thiết với
nhau. Muốn pháp điển hóa tốt, phải làm tốt công tác tập hợp hóa. Trong thực tế, khi
tiến hành hệ thống hóa pháp luật phải kết hợp cả hai căn cứ một cách hài hòa.
VI. Ý THỨC PHÁP LUẬT
1. Khái niệm ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan niệm, quan điểm
thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện
hành, pháp luật đã qua cũng như pháp luật cần có.
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, biểu hiện mối quan hệ của mọi
người đối với pháp luật. Ý thức pháp luật mang tính giai cấp, do tồn tại xã hội quyết
định và có mối quan hệ qua lại với tồn tại xã hội. Trong xã hội có giai cấp đối kháng
không thể có ý thức pháp luật thống nhất, ý thức pháp luật thống trị trong xã hội là ý
thức của giai cấp nắm chính quyền và được phản ánh đầy đủ nhất trong pháp luật.
Ý thức pháp luật là một yếu tố quan trọng trong cơ chế điều chỉnh bằng pháp luật
đối với quan hệ xã hội. Nếu không có ý thức pháp luật sẽ không có hành động tự giác

================== Hệ thống pháp luật – Ý thức pháp luật – Pháp chế XHCN
phạm vi tình cảm đối với pháp luật. Việc tác động bằng tình cảm của pháp luật đối với
con người là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội trong việc củng cố trật tự pháp luật, củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa. Yếu tố
hành vi, yếu tố này thể hiện hành vi của con người sẵn sàng thực hiện hay chống đối
lại pháp luật. Ý thức pháp luật phải được hình thành ở con người yếu tố hành vi luôn
luôn tuân thủ, chấp hành pháp luật.
Yếu tố thứ nhất là sự nhận thức của con người đối với pháp luật; yếu tố thứ hai là
thái độ, tâm lý, tình cảm của con người sau khi đã nhận thức được pháp luật; yếu tố
thứ ba là hành động của con người sau khi nhận thức được pháp luật, đồng ý hay phủ
định pháp luật để có hành động tương ứng. Ba yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau tạo thành ý thức pháp luật. Việc giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật phải coi
trọng cả ba yếu tố, không thể xem nhẹ một yếu tố nào.
Pháp luật và Ý thức pháp luật là hai hiện tượng xã hội khác nhau nhưng có mối
quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Ý thức pháp luật là tiền đề tư tưởng trực
tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đồng thời, ý thức pháp luật là nhân
tố thúc đẩy thực hiện pháp luật và đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật đúng đắn các
quy phạm pháp luật. Ngược lại, Pháp luật là cơ sở để củng cố, phát triển nâng cao ý
thức pháp luật. Việc nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật, kiên quyết xử lý các hành vi vi
phạm pháp luật làm cho ý thức, tình cảm đối với pháp luật được hình thành và phát
triển một cách đúng đắn và rõ nét hơn. Việc giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức
pháp luật sẽ là điều kiện quan trọng để góp phần vào việc xây dựng một hệ thống pháp
luật hoàn chỉnh và tổ chức thực hiện pháp luật một cách có hiệu quả.
VII. PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế xã hội chủ nghĩa được hiểu là một cơ chế đặc biệt của đời sống chính
trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,
nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội, và mọi công dân đều phải tôn trọng
và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một cơ chế đặc biệt trong trong đời sống xã hội,
đó là một yếu tố kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính chủ quan và khách quan có thể tác

từng nơi từng vùng để có được hiệu quả cao trong điều chỉnh pháp luật và quản lý xã
hội bằng pháp luật.
+ Các cơ quan xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật phải
hoạt động một cách tích cực, sáng tạo và có hiệu quả.
+ Gắn liền công tác pháp chế với văn hóa. Trình độ văn hóa nói chung và trình
độ văn hóa pháp lý nói riêng của các nhân viên nhà nước, nhân viên của các tổ chức
xã hội và của công dân có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình củng cố pháp chế xã hội chủ
nghĩa. Trình độ văn hóa càng cao thì pháp chế càng vững mạnh. Do đó, văn hóa là cơ
sở quan trọng để củng cố nền pháp chế, cần phải chú trọng nâng cao văn hóa nói
chung và văn hóa pháp lý nói riêng cho mọi người dân trong xã hội.
Pháp luật và pháp chế là hai khái niệm khác nhau nhưng rất gần nhau và có
quan hệ khăng khít với nhau. Trên thực tế, khi có pháp chế tức là có pháp luật và pháp
luật được áp dụng một cách có hiệu quả; nhưng cũng có trường hợp, lĩnh vực có pháp
luật mà không có pháp chế, đó là biểu hiện không đưa được pháp luật vào thực tế đời
sống. Pháp chế là là một phạm trù thể hiện các chủ thể phải tôn trọng và thực hiện
pháp luật một cách triệt để. Pháp luật chỉ có thể phát huy được hiệu lực, điều chỉnh
một cách có hiệu quả các quan hệ xã hội khi dựa trên cơ sở vững chắc của nền pháp
chế. Ngược lại pháp chế chỉ có thể được củng cố và tăng cường khi có một hệ thống
pháp luật đồng bộ, phù hợp, được điều chỉnh kịp thời các quan hệ xã hội.
Đối với nhà nước ta hiện nay, pháp chế có một vị trí hết sức quan trọng và nó
đã trở thành nguyên tắc chỉ đạo trong mọi lĩnh vực của quản lý nhà nước, mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Điều 12- Hiến pháp 1992 quy định "Nhà nước quản lý xã
hội bằng pháp luật và không ngừng nâng cao pháp chế xã hội chủ nghĩa" . Pháp chế
là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và
là nguyên tắc xử sự của mọi công dân. Củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghia là nâng cao ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và là cơ sở cho pháp luật phát
huy hiệu lực trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.

===================================================================== 19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status