Quyền tham gia quản lý nhà nước của phụ nữ theo pháp luật việt nam - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ THỊ MAI

QUYÒN THAM GIA QU¶N Lý NHµ N¦íC CñA PHô N÷
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ TH MAI

QUYềN THAM GIA QUảN Lý NHà NƯớC CủA PHụ Nữ
THEO PHáP LUậT VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut Hin phỏp - Lut Hnh chớnh
Mó s: 60 38 01 02

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS NGUYN HONG ANH

H NI - 2016


LỜI CAM ĐOAN


Quyền tham gia quản lý nhà nước của phụ nữ .................................. 6

1.1.2.

Quyền tham gia quản lý nhà nước của phụ nữ trên thế giới ............ 15

1.2.

Pháp luật về quyền tham gia quản lý nhà nƣớc của phụ nữ ..... 17

1.2.1.

Khái niệm pháp luật về quyền tham gia quản lý nhà nước của
phụ nữ .............................................................................................. 17

1.2.2.

Quy định của pháp luật về quyền tham gia quản lý nhà nước
của phụ nữ ........................................................................................ 18

1.2.3.

Đặc điểm của pháp luật về quyền tham gia quản lý nhà nước
của phụ nữ Việt Nam ....................................................................... 27

1.2.4.

Vai trò của pháp luật về quyền tham gia quản lý nhà nước của
phụ nữ .............................................................................................. 30

2.2.1.

Thực trạng thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử ......................... 43

2.2.2.

Thực trạng thực hiện Quyền khiếu nại, quyền tố cáo của phụ nữ ........ 50

2.2.3.

Thực trạng thực hiện Quyền tham gia thảo luận các vấn đề
chung của nhà nước, kiến nghị trưng cầu ý dân .............................. 52

2.2.4.

Các quyền chính trị khác như: quyền hội họp, quyền lập hội,
quyền biểu tình ................................................................................ 55

2.3.

Các thành tựu và hạn chế về thực hiện pháp luật quyền
tham gia quản lý nhà nƣớc của phụ nữ. Nguyên nhân phụ
nữ ít tham gia các hoạt động chính trị - xã hội ........................... 60

2.3.1.

Các thành tựu và hạn chế về thực hiện pháp luật quyền tham gia
quản lý nhà nước của phụ nữ ........................................................... 60

2.3.2.


3.2.

Một số giải pháp đảm bảo quyền tham gia quản lý nhà nƣớc
của phụ nữ theo pháp luật Việt Nam hiện nay ........................... 74

3.2.1.

Về xây dựng và thực hiện pháp luật ................................................ 75

3.2.2.

Tuyên truyền và nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới
cho toàn xã hội ................................................................................. 79

3.2.3.

Khắc phục định kiến giới ................................................................. 80

3.2.4.

Xây dựng chiến lược, chương trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn
nhân lực nữ, trong đó chú trọng đến công tác quy hoạch nguồn
lãnh đạo nữ các cấp, các ngành ....................................................... 81

3.2.5.

Nâng cao vai trò của tổ chức hội liên hiệp phụ nữ các cấp ............. 82

3.2.6.

Tổ chức phi chính phủ

UNDP:

Chương trình phát triển liên hợp quốc


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết phụ nữ chiếm một nửa dân số Việt Nam và là lực
lượng lao động quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy sự
tiến bộ của xã hội. Trước đây phụ nữ đã có những đóng góp hết sức to lớn vào
công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm giành và giữ gìn độc lập, xây dựng Tổ
quốc. Trong sự nghiệp đổi mới, phụ nữ Việt Nam vẫn luôn sát cánh cùng nam
giới phấn đấu vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh" và có những đóng góp đáng kể trong các lĩnh vực xóa đói giảm
nghèo, phát triển kinh tế, ổn định xã hội cũng như những cống hiến xuất sắc
trong việc chăm lo xây dựng gia đình, nuôi dưỡng các thế hệ tương lai của đất
nước,có nhiều phụ nữ còn mang lại những vinh quang lớn cho đất nước trong
các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học,... Nhận thức rõ vị trí và vai trò quan
trọng của người phụ nữ trong xã hội nên ngay từ khi nước nhà mới giành
được độc lập, các quyền của công dân nói chung và quyền của phụ nữ nói
riêng đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận và khẳng định, trong đó có các
quyền tham gia quản lý đất nước của phụ nữ... Điều đó đã tạo điều kiện nền
tảng cho phụ nữ tham gia tích cực và hiệu quả vào các hoạt động kinh tế, xã
hội và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ khi đổi mới
đến nay, Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
phụ nữ tham gia ngày càng nhiều và hiệu quả hơn vào lĩnh vực này; nhờ vậy,
phụ nữ Việt Nam ngày càng có nhiều cơ hội và nhiều đại diện tham gia vào
hệ thống chính trị, cũng như vào việc đề xuất, hoạch định, thực hiện và giám

- Sách: "Vai trò của nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa" của TS. Võ Thị Mai.
- GS Lê Thi - Viện khoa học xã hội Việt Nam: “Gia đình, phụ nữ Việt
Nam với dân số, văn hóa và sự phát triển bền vững”,

2


- Nxb Khoa học xã hội, năm 2004; TS Đỗ Thị Thạch: “Phát huy nguồn
lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”,
- Nxb Chính trị quốc gia, năm 2005; Lê Ngọc Văn (chủ biên) - Viện
Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Gia đình và giới: “Nghiên cứu gia đình lý
thuyết nữ quyền, quan điểm giới”, Nxb Khoa học xã hội, năm 2006…..
Trên cơ sở khảo sát cho thấy ở nước ta đã có một số công trình nghiên
cứu về tình hình tham gia của phụ nữ về quản lý nhà nước nhưng chưa được
xem xét riêng với tư cách là một quyền của phụ nữ mà chỉ tập trung phân tích
các bất cập khi phụ nữ tham gia công tác quản lý hoặc mới chỉ mô tả tình hình
tham gia hoạt động quản lý của phụ nữ mà chưa khái quát nên những luận
định mang tính lý luận để kiểm chứng trong hệ thống pháp luật về quyền
tham gia quản lý nhà nước của phụ nữ. Như vậy, tình hình nghiên cứu trên
đây một lần nữa cho phép khẳng định việc nghiên cứu đề tài “quyền tham gia
quản lý nhà nước của phụ nữ” là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý
luận vừa có tính thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nêu bật thực trạng thực hiện quyền tham gia
của phụ nữ trong các cơ quan chính phủ của Việt Nam, mô tả tổng quan khung
pháp lý liên quan đến vai trò lãnh đạo của phụ nữ, đồng thời đề xuất những
phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền tham gia quản lý đất
nước của phụ nữ Việt Nam, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của nước ta và

trương đổi mới của Đảng về nhận thức quản lý nhà nước của phụ nữ trong
điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Các phương pháp cụ thể mà tác giả sử dụng để nghiên cứu đề tài bao
gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, so sánh, thống kê...

4


5. Những đóng góp và điểm mới của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện
lý luận và thực tiễn.Tổng hợp lý thuyết về tình hình tham gia quan lý nhà
nước của phụ nữ Việt Nam cũng như việc thực hiện Quyền tham gia quản lý
nhà nước của phụ nữ ở Việt Nam trong thực tế.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
dành cho người làm thực tiễn trong lĩnh vực liên quan pháp mà còn cho các
nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên
cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Hiến pháp hành chính tại các cơ sở
đào tạo luật. Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị
những kiến thức chuyên sâu cho cán bộ thực tiễn đang công tác tại các Cơ
quan đào tạo cán bộ nói chung và cán bộ nữ nói riêng của Đảng và nhà nước.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền tham gia quản lý nhà nước của phụ
nữ theo pháp luật Việt Nam.
Chương 2: Lịch sử và thực trạng quyền tham gia quản lý nhà nước của
phụ nữ theo pháp luật Việt Nam.
Chương 3: Một số phương hướng, giải pháp bảo đảm quyền tham gia
quản lý nhà nước của phụ nữ theo pháp luật Việt Nam hiện nay.


6


- Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển,
hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt
tới mục tiêu đã đề ra” [5].
Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và
cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức. Đó là quá trình tạo
nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ
chức nhằm đạt được mục tiêu chung.
Tóm lại “Quản lý” là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã
hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy
luật, đạt tới mục đích đề ra và đúng với ý chí của người quản lý. Theo cách
hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động xã hội nhằm đạt
được mục đích của người quản lý. Như vậy theo cách hiểu chung nhất thì
quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt
được mục tiêu quản lý. Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào góc
độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của
người nghiên cứu.
“Quản lý nhà nước”: là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng
quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con
người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật
nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc
xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc CNXH. Từ những định nghĩa trên ta có
thể rút ra một khái niệm chung về quyền tham gia quản lý nhà nước như sau:
Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân là quyền con người,
quyền công dân trong lĩnh vực chính trị được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ;
nó xác lập năng lực pháp lý của công dân trong việc tham gia trực tiếp hoặc
gián tiếp vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Bảo đảm quyền tham gia quản
lý nhà nước của công dân trong điều kiện mở rộng dân chủ, phát huy quyền

hoàn toàn những phân biệt đối xử về giới mà phụ nữ thường là nạn nhân, đây

8


cũng chính là mối quan hệ giữa bình đẳng và pháp luật. Bình đẳng ở đây phải
là bình đẳng về thực chất thì mới có thể là cơ sở để bảo đảm bền vững địa vị
pháp lý bình đẳng của phụ nữ. Biểu hiện của bình đẳng về thực chất là phụ nữ
thực hiện được quyền chính trị và xác lập được địa vị pháp lý của mình, được
tham gia một cách dân chủ vào mọi hoạt động của đời sống chính trị và đời
sống xã hội. Ngược lại, pháp luật là công cụ để bảo đảm và bảo vệ quyền
tham gia bình đẳng của phụ nữ. Trong mối quan hệ biện chứng này, phụ nữ
vừa là người hưởng quyền, đồng thời cũng là chủ thể trực tiếp đấu tranh xóa
bỏ định kiến về giới, tham gia xây dựng pháp luật về quyền bình đẳng của
mình. Xác lập và thực hiện được quyền tham gia quản lý của phụ nữ là yếu tố
quyết định để xác lập và bảo đảm thực hiện sự bình đẳng nam nữ.
b. Quyền tham gia quản lý nhà nước của phụ nữ thể hiện bản chất dân
chủ, bình đẳng của xã hội
Theo Công ước Liên hợp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử với phụ nữ, phải dựa trên ba nguyên tắc, đó là: bình đẳng, không phân biệt
đối xử và trách nhiệm quốc gia. Bình đẳng và không phân biệt đối xử là yêu
cầu khách quan, trong khi trách nhiệm quốc gia bao hàm cả việc bảo đảm dân
chủ xã hội. Xét về mặt lịch sử, dân chủ và bình đẳng không chỉ là nhu cầu của
con người mà còn là yêu cầu khách quan. Hai phạm trù này không tách biệt,
mà ngược lại chúng hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Dân chủ ở đây bao gồm dân
chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp, trong đó biểu hiện của dân chủ trực tiếp
chính là sự tham gia của cả hai giới trong quản lý nhà nước, còn dân chủ gián
tiếp là bầu cử và ứng cử vào các cơ quan đại diện quyền lực nhân dân. Bảo
đảm quyền tham gia quản lý nhà nước của phụ nữ được thực thi trên cơ sở
không phân biệt đối xử và bình đẳng thực chất chính là bảo đảm cho phụ nữ

1.1.1.3. Hình thức thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của phụ nữ
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà
nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc Hội, Hội

10


đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của nhà nước” [30, Điều 6].
Đây cũng chính là cách thức nhân dân sử dụng để thực hiện quyền tham gia
quản lý nhà nước và xã hội. Với tư cách công dân, phụ nữ thực hiện quyền
tham gia quản lý nhà nước và xã hội bằng cách:
a. Đối với hình thức tham gia trực tiếp
Thứ nhất, Phụ nữ tham gia Ứng cử vào đại biểu Quốc Hội và Hội đồng
nhân dân các cấp khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo luật định.
Bằng việc trở thành Đại biểu Quốc Hội và Hội đồng nhân dân các cấp,
phụ nữ có thể tham gia trực tiếp quản lý nhà nước thông qua việc thực hiện
nhiệm vụ và quyền hạn của mình.
Thứ hai, Phụ nữ tham gia hoạt động trong các cơ quan nhà nước.
Tùy theo năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phụ nữ được tuyển
dụng vào các cơ quan nhà nước hoặc được bổ nhiệm vào những chức vụ trong
bộ máy nhà nước. Khi đó, phụ nữ có những điều kiện và khả năng thuận lợi
để trực tiếp tham gia quản lý nhà nước.
Thứ ba, phụ nữ tham gia thảo luận, cho ý kiến trực tiếp đối với các vấn
đề ở tầm quốc gia khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân
Mỗi khi quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và xã hội,
trước khi thông qua quyết định, nhà nước thường tổ chức lấy ý kiến đóng góp
của các tầng lớp nhân dân. Với hình thức này, mỗi công dân tự mình trực tiếp
đóng góp ý kiến, trí tuệ vào các chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà
Nước. Đây cũng là cách thể hiện trách nhiệm công dân và ý chí của mình
trước những công việc trọng đại của đất nước, góp phần làm cho những quyết

ra đại biểu của mình là các Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân
các cấp. Các địa biểu này sẽ thay mặt nhân dân trực tiếp tham gia vào các
hoạt động xây dựng, quản lý và bảo vệ đất nước. Hay nói cách khác bằng việc
bầu cử, mỗi phụ nữ đã ủy nhiệm quyền quản lý nhà nước của mình cho người
địa diện là các địa biểu Quốc hội, địa biểu Hội đồng nhân dân. Các đại biểu

12


Quốc hội và Hội đồng nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước được nhân dân
trao cho thông qua nhiều hình thức, trong đó hình thức giám sát, chất vấn thể
hiện rõ nét quyền lực tối cao mà nhân dân trao cho họ.
Thứ hai, phụ nữ tham gia quản lý nhà nước và xã hội thông qua các tổ
chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp.
Những nguyện vọng, ý kiến của phụ nữ được các tổ chức đó tập hợp để
chuyển lại các cơ quan có thẩm quyền xem xát giải quyết, đồng thời cho phép
phụ nữ thông qua các tổ chức của chính mình là thành viên tham gia hoạt
động nhiều hơn trong hoạt động quản lý nhà nước, từ việc phản biện các
chính sách, pháp luật của Nhà nước, giám sát việc thực hiện của các cơ quan
nhà nước và của công chức, cũng như đề đạt nguyện vọng, ý kiến của mình
cho các cơ quan nhà nước xem xét, thực hiện.
1.1.1.4. Nội dung quyền tham gia quản lý nhà nước của phụ nữ
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật bầu cử đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở các xã,
phường, thị trấn; Luật khiếu nại; Luật tố cáo; Luật phòng, chống tham nhũng…
đã cụ thể hóa quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của phụ nữ. Qua
những quy định của Hiến pháp và các văn bản pháp luật, có thể hiểu quyền
tham gia quản lý Nhà nước và xã hội của phụ nữ có những nội dung chính sau:
Một là, Phụ nữ có quyền bầu cử và ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu
Hội đồng nhân dân các cấp.

Như vậy, phụ nữ nói riêng và mọi công dân Việt Nam chung, đủ điều
kiện theo quy định của pháp luật, đều có quyền tham gia vào việc xây dựng,
bảo vệ và quản lý đất nước, xã hội. Đây là một quyền chính trị rất đặc biệt, là
cơ sở pháp lý quan trọng để nhân dân tham gia vào hoạt động của bộ máy nhà
nước nhằm động viên, phát huy sức mạnh của toàn dân, toàn xã hội tham gia
vào việc xây dựng nhà nước vững mạnh, hoạt động có hiệu quả vì lợi ích của
nhân dân, của đất nước. Những quy định pháp luật về quyền tham gia quản lý

14


nhà nước và xã hội của công dân Việt Nam đã thể hiện bản chất của Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tuy nhiên, việc thực hiện
các quyền này phải theo quy định của pháp luật, Nhà nước nghiêm cấm việc
lợi dụng quyền công dân để làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, nhà nước, các cơ
quan, tổ chức và các cá nhân khác.
1.1.2. Quyền tham gia quản lý nhà nước của phụ nữ trên thế giới
Cơ quan Phụ nữ Liên Hợp Quốc (UN Women) và Liên minh Nghị viện
Thế giới (IPU) đã đưa ra Bản đồ Phụ nữ tham chính năm 2014 cho thấy phụ
nữ có xu hướng tham gia ngày càng sâu rộng hơn vào đời sống chính trị xã
hội của các nước. Ở các nước Bắc Âu tỷ lệ phụ nữ tham gia chính trị đứng
đầu thế giới với 42.1% khiến khu vực này luôn chiếm thứ hạng cao về chỉ số
quyền lực của phụ nữ và bình đẳng giới. Trên toàn cầu chỉ có 29 quốc gia có
tỷ lệ nữ trong Quốc hội trên 30%; có 24 quốc gia nằm trong nhóm gần đạt đến
tỷ lệ 30% (từ 25% đến 29%). Rwanda là cơ quan lập pháp thân thiện với nữ
giới nhất với tỷ lệ phụ nữ trong Quốc hội chiếm tới 63,8%. Sau 20 năm, kể
từ khi ra đời của Cương lĩnh hành động Bắc Kinh, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào
nghị viện đạt gần gấp đôi con số ban đầu. Tuy nhiên, mới chỉ có 22% phụ nữ
tham gia vào nghị viện các nước và có rất nhiều quốc gia trên thế giới không

chính sách ở Việt Nam chưa đủ cụ thể và mạnh mẽ trong thể hiện cam kết
chính trị của Đảng và Chính phủ thúc đẩy quyền tham gia quản lý nhà nước
của phụ nữ. Các chỉ tiêu về giới trong lãnh đạo chính trị ở nước ta mới chủ
yếu dừng ở mức độ mục tiêu chung, có ý nghĩa khuyến khích sự phấn đấu của
các tổ chức chính trị chứ chưa phải là những quy định cứng, với những ràng
buộc cụ thể hoặc những biện pháp xử lý đối với các trường hợp không đạt chỉ
tiêu. Các ban tổ chức các cuộc bầu cử, bỏ phiếu tín nhiệm… của Việt Nam từ
Trung ương đến địa phương cũng hầu như chưa quan tâm đúng mức đến việc
bảo đảm cho sự xuất hiện của phụ nữ một cách công bằng trong các danh sách

16


bầu cử, ứng cử. Tuy rằng, trong Luật Bình đẳng giới (Điều 11) đã xác định về
Quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị nhưng chỉ dừng lại ở mức độ
nguyên tắc, còn ghi nhận chung chung. Rõ ràng là chúng ta còn thiếu chế tài
và các điều kiện thực tế để hiện thực hóa các chỉ tiêu về giới, như đã được
khẳng định trong các văn bản pháp lý trên.
Ghi nhận thực tiễn ở cấp chính quyền địa phương của Pháp, danh sách
ứng viên của mỗi đảng để bầu vào các vị trí lãnh đạo trong chính quyền địa
phương (chẳng hạn các hội đồng khu vực, hội đồng thành phố) phải bảo đảm
50% nữ. Nếu không tuân thủ thì danh sách bầu cử của đảng đó sẽ bị hủy bỏ
(Điều L265, L350, L372).
Tương tự, Albani cũng là quốc gia có những biện pháp tốt trong hiện
thực hóa quy định về chỉ tiêu giới và đạt được thành tựu đáng ghi nhận. Trong
bầu cử Quốc hội, Luật Bầu cử Albani (2012) quy định rằng ít nhất 30% danh
sách bầu cử hoặc 1 trong 3 người đầu tiên trong danh sách của mỗi khu vực
bầu cử phải khác với giới tính của những người còn lại (Điều 67, đoạn 6).
Nếu khu vực bầu cử nào không tuân thủ quy định về tỷ lệ giới tính, Ủy ban
Bầu cử Trung ương sẽ buộc khu vực bầu cử đó nộp phạt bằng tiền và sẽ điều

thực hiện quyền tham gia vào quản lý nhà nước của mình như bản chất của
các quyền con người.
Từ những phân tích trên, có thể nêu khái niệm pháp luật về quyền tham
gia quản lý nhà nước của phụ nữ như sau: Pháp luật về quyền tham gia quản
lý nhà nước của phụ nữ là tổng thể các quy định trong hệ thống pháp luật
nhằm bảo đảm việc thực hiện và bảo vệ quyền tham gia quản lý nhà nước và
xã hội của phụ nữ trên cơ sở bình đẳng và không phân biệt đối xử
1.2.2. Quy định của pháp luật về quyền tham gia quản lý nhà nước
của phụ nữ
Việc ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật về các quyền tham gia
chính trị là sự hiện thực hóa quyền làm chủ nhân dân và pháp điển hóa các

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status