Khảo sát đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra trên gà và thử nghiệm một số phác đồ điều trị tại một số trại chăn nuôi ở huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------  -------------

NGUYỄN ĐỨC TOÀN
Tên đề tài:
“KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH ĐẦU ĐEN DO ĐƠN BÀO
HISTOMONAS MELEAGRIDIS GÂY RA TRÊN GÀ VÀ THỬ NGHIỆM
MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊTẠI MỘT SỐ TRẠI CHĂN NUÔI
Ở HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Lớp: K43 - TY
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2016
Giảng viên hƣớng dẫn : PGS. TS. Trần Huê Viên

Thái Nguyên - 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một nộidung quan trọng cần thiết đối với mỗi
sinh viên đại học trƣớc khi ra trƣờng, nhằm rèn luyện về tay nghề và củng cố
thêm kiến thức lý thuyết cho công việc sau này.
Để hoàn thiện khóa luận này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em
luôn nhận đƣợc sự hƣớng dẫn, chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện và đóng góp

phần vào sự phát triển của đất nƣớc.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, đƣợc sự nhất trí của nhà trƣờng,
Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y – Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên cùng với sự giúp đỡ, hƣớng dẫn tận tình của thầy giáo PGS. TS.
Trần Huê Viên và sự tiếp nhận của Trạm thú y huyện Yên Thế, em đã thực
hiện đề tài: “Khảo sát đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas
meleagridis gây ra trên gàvà thử nghiệm một số phác đồ điều trị tại một số trại
chăn nuôi ởhuyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang ”
Sau thời gian thực tập tốt nghiệp với tinh thần khẩn trƣơng nghiêm túc
nên em đã hoàn thành khóa luận. Tuy nhiên, do trình độ có hạn, bƣớc đầu còn
bỡ ngỡ trong công tác nghiên cứu nên khóa luận của em không tránh khỏi
những sai sót. Em rất mong nhận đƣợc sự đóng góp của thầy, cô giáo để khóa
luận đƣợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


iii

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho gà tại huyện Yên Thế,tỉnh
Bắc Giang ........................................................................................ 32
Bảng 4.2. Tỷ lệ nhiễm H.meleagridis ở gà tại một số địa phƣơng
của huyện Yên Thế .......................................................................... 33
Bảng 4.3. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo lứa tuổi .............................. 35
Bảng 4.4. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo phƣơng thức chăn nuôi ...... 37
Bảng 4.5. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo kiểu nền chuồng nuôi gà .... 38
Bảng 4.6. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo tình trạng vệ sinh thú y ..... 39
Bảng 4.7. Tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm giun kim ở gà mổ khám ......................... 41
Bảng 4.8. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong số gà nhiễm giun kim ............... 42

H. gallinarum

Heterakis gallinarum

4

H. meleagridis

Histomonas meleagridis

5

KCTG

Ký chủ trung gian

6

VSTY

Vệ sinh thú y


v

MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................. ii
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................iii

3.3.2. Sử dụng thuốc điều trị bệnh đầu đen cho gà ......................................... 24
3.4. Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................... 25
3.4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do H.
meleagridis gây nên ở gà nuôi tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. .... 25
3.4.2. Phƣơng pháp sử dụng thuốc điều trị bệnh đầu đen cho gà ở huyện Yên
Thế, tỉnh Bắc Giang .............................................................................. 30
3.5. Phƣơng pháp xử lý số liệu........................................................................ 30
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ........................................................ 32
4.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh do đơn bào H. meleagridis ở gà tại huyện Yên
Thế, tỉnh Bắc Giang .............................................................................. 32
4.1.1. Kết quả điều tra thực trạng phòng chống dịch bệnh cho gà tại huyện
Yên Thế, tỉnh Bắc Giang ...................................................................... 32
4.1.2. Tình hình nhiễm đơn bào H. meleagridis ở gà tại huyện Yên Thế, tỉnh
Bắc Giang ............................................................................................. 33
4.1.3. Nghiên cứu sự liên quan giữa bệnh đầu đen và bệnh giun kim ở gà .... 40
4.2. Sử dụng thuốc điều trị bệnh đầu đen cho gà ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc
Giang ..................................................................................................... 46
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 48
5.1. Kết luận .................................................................................................... 48
5.1.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen trên gà ở3xã thuộc huyện Yên Thế .... 48
5.1.2. Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà. .................. 49
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 50


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề



2

đơn bàoHistomonas meleagridis gây ra trên gà và thử nghiệm một số phác đồ
điều trị tại một số trại chăn nuôi ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang” .
1.2. Mục tiêu của đề tài và mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình nhiễm đơn bào H. meleagridis ở gà nuôi tại 3
xã ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang: An Thƣợng, Đồng Kỳ, Hồng Kỳ.
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen ở gà và dùng thuốc điều
trị bệnh.
Làm sáng tỏ đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen ở gà và thử nghiệm phác đồ
điều trị bệnh đạt hiệu quả cao.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả đề tài bổ sung thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ bệnh đầu
đen ở gà và đƣa ra phác đồ điều trị bệnh đạt hiệu quả cao nhất.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài giúp ngƣời chăn nuôi hiểu rõ hơn về căn bệnh, khuyến
cáo ngƣời chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh đầu đen cho gà nhằm
hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra, góp phần nâng cao
năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển.


3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
Bệnh đầu đen (Histomonosis) là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm ở gà

tên là H. meleagridis.
Tyzzer (1920) [29] đã nghiên cứu về bệnh đầu đen và mô tả hình thái
của H. meleagridis ở từng giai đoạn phát triển khác nhau.Khi quan sát dƣới
kính hiển vi, tác giả thấy H. meleagridis tồn tại lƣỡng hình (dạng amip và có
roi). Trong mô (giai đoạn xâm lấn) nó có dạng amip, trong lòng manh tràng
H. meleagridis ở dạng có roi. H. meleagridis ở dạng amip thƣờng có đƣờng
kính 8 - 14 μm, trong khi ở hình dạng có roi đƣờng kính có thể lên tới 30
μm. Tyzzer (1934) [27] đã nghiên cứu sự chuyển động củaH. meleagridis ở
42o C và mô tả, roi của đơn bào này nhịp nhàng rung động giúp nó có thể
xoay ngƣợc chiều kim đồng hồ.
H. meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: hình trùng roi (4 roi),
hình amip và hình lƣới…
Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết
nhất bởi chúng có hai nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ) từ nhân to mọc ra 4 cái roi.
Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào H. meleagridis, các nhà khoa học
cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H. meleagridis cấu tạo gồm 3
phần: màng, nguyên sinh chất và nhân.
Màng đơn bào H. meleagridis là một màng đơn.
Nguyên sinh chất của H. meleagridis chứa ß-glycogen, ribosome và
ARN, một số không bào và hạt nhân.
Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleotid. Màng nhân
là một màng kép.Trong vùng lân cận của nhân có bộ máy golgi.
2.1.1.3. Vòng đời H. meleagridis
Chu trình sinh học của H. meleagridis nhƣ sau: Trong mô tổ chức của
ký chủ (gà và gà tây),Histomonas sản sinh theo phƣơng thức tự nhân đôi trong


5

tế bào gan, manh tràng và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lƣới (Incistio).


McDougald L. R. (2008) [23] đã làm thí nghiệm gây nhiễm bệnh cho
gà 2 tuần tuổi. Tác giả tiến hành đƣa vào lỗ huyệt mỗi gà đơn bào H.
meleagridis nuôi cấy với liều 200.000 H. meleagridis/con. Kết quả, tất cả gà
gây nhiễm đã chết ở ngày 10 - 18, tiến hành mổ khám gà chết thấy gan và
manh tràng xuất hiện tổn thƣơng điển hình của Histomonosis.
Một số tác giả cũng gây nhiễm bệnh qua lỗ huyệt cho gà ở các lứa tuổi
khác nhau với các liều khác nhau, sau đó tiến hành theo dõi trong 10 - 15 ngày
những gà gây nhiễm. Các tác giả cũng thu đƣợc những kết quả nhất định.
Khi gây nhiễm cho gà tây bằng cả 2 đƣờng, đƣờng ăn uống và qua lỗ
huyệt, kết quả nhƣ sau: gà gây nhiễm qua đƣờng miệng tỷ lệ mắc bệnh và
chết thấp hơn so với gây nhiễm qua lỗ huyệt. Cụ thể, gây nhiễm qua đƣờng
miệng tỷ lệ mắc bệnh là 20%, tỷ lệ chết 2%, trong khi gây nhiễm qua lỗ huyệt
tỷ lệ mắc bệnh 65%, tỷ lệ chết 45%.
Các kết quả trên cho thấy: có thể gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà khỏe
bằng 2 đƣờng, qua đƣờng miệng và qua lỗ huyệt. Do ảnh hƣởng của axit
đƣờng tiêu hóa nên tỷ lệ nhiễm bệnh không cao khi gây nhiễm qua đƣờng
miệng. Bệnh đầu đen có thể xảy ra bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp
xúc với phân tƣơi bị nhiễm mầm bệnh. Ngay sau khi lỗ huyệt gà khỏe tiếp
xúc với phân tƣơi của gà bệnh, H. meleagridis sẽ di chuyển ngƣợc theo nhu
động ruột vào ký sinh ở manh tràng.
* Truyền bệnh qua giun kim
Trong khi nghiên cứu về bệnh đầu đen, Cushman và cs. (1894) [13] đã
nhận thấy, gà và gà tây bị nhiễm bệnh khi chúng đƣợc nuôi trên khu vực trƣớc
đó gà và gà tây đã bị mắc bệnh.
Trong thí nghiệm đầu tiên, Curtice C. (1907) [14] đã chứng minh rằng
Histomonas không lây truyền theo chiều dọc từ gà mái đẻ, thông qua trứng,
mặc dù phát hiện gà con sớm bị mắc Histomonosis và chết ở 12 - 14 ngày





8

và cái. Trong Heterakids đực, H. meleagridis ở trong lòng ruột, xâm nhập
các tế bào ruột, và trong ống sinh tinh của tinh hoàn, ống dẫn tinh và túi
tinh. H. meleagridis xác định trong tất cả các bộ phận ở đƣờng sinh dục
củaHeterakis cái.
Ngoài sự tồn tại của H. meleagridis trong giun kim Heterakis gallinarum
thì đơn bào này còn tồn tại trong một số loại giun đất thƣờng thấy ở đất nuôi
gia súc, gia cầm. Các nỗ lực để tìm H. meleagridis trong các trứng giun sán đã
không đi đến kết luận nào. Những con giun đất đóng vai trò quan trọng trong
sự lƣu giữ trứng Heterakis, bởi giun đất là sinh vật “thu gom” và “tập trung”
trứng Heterakis từ môi trƣờng vƣờn bãi; sân chơi hoặc nền chuồng nuôi gà. Ở
những vùng mà kiểu khí hậu và loại đất thuận lợi cho sự sinh trƣởng của giun
kim Heterakis và giun đất, cần chú ý kiểm soát bệnh đầu đentái diễn đều đặn
theo chu kỳ ở gà.
Việc truyền H. meleagridis từ giun đất sang loài chim trĩ có khoang ở cổ
đã đƣợc chứng minh là nguyên nhân chính trong đợt bùng nổ Histomonosis ở gà
Gô, chim trĩ ở trại chăn nuôi gia cầm tại miền trung lowa - Hoa Kỳ.
2.1.2. Đặc điểm sinh học của giun tròn Heterakis gallinarum - Ký chủ
trung gian (KCTG) của H. meleagridis
2.1.2.1. Hình thái
Hailoài Heterakids gallinae và Heterakids beramporiathuộc họeterakiadae
ký sinh ở manh tràng, có khi ở ruột non ở gà, gà Tây, rất phổ biến ở loài chim
và còn thấy ở các loài thủy cầm. Giun màu vàng nhạt, đầu có 3 môi (1 môi ở
lƣng và 2 môi ở bụng), túi miệng hình ống. Phần sau thực quản phình to thành
hình cầu giống nhƣ củ hành, chiều dài 0,27 - 0,33 mm, rộng 0,15 - 0,24 mm.
Giun đực dài 5,841 - 11,145 mm, chỗ rộng nhất 0,271 - 0,398 mm. Đuôi nhọn
hình chiếc kim. Phía trƣớc cách hậu môn 0,148 - 0,156 mm có một giác hút hơi

giai đoạn cảm nhiễm ở nhiệt 30 - 37oC trong vòng 6 - 7 ngày, ở nhiệt độ 20 27oC từ 10 - 15 ngày và 10 - 15oC là 72 ngày.


10

Ấu trùng lột xác trong trứng một lần, sau đó trứng chứa ấu trùng này
trở thành trứng có sức gây bệnh. Mùa đông trứng không phát triển, nhƣng vẫn
duy trì khả năng sống. Đến mùa xuân, thời tiết ấm áp, trứng sống đƣợc qua
mùa đông lại phát triển thành trứng cảm nhiễm và có thể là nguồn lây bệnh.
Gà, gà tây mắc bệnh này là do ăn phải trứng giun kim có sức gây bệnh.
Sau 1 - 2 giờ xâm nhập vào đƣờng tiêu hóa, ấu trùng chui ra khỏi trứng xuống
manh tràng. Ở manh tràng, ấu trùng vào thành ruột, sau 5 - 7 ngày sau chúng
lại trở lại xoang ruột. Thời gian phát triển của chúng đến giai đoạn trƣởng
thành trong cơ thể từ 25 - 34 ngày, thời gian sống thì không quá 1 năm.
2.1.3. Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà
2.1.3.1. Lịch sử bệnh
Bệnh đầu đen đƣợc phát hiện lần đầu tiên vào năm 1893 ở Rhode
Island (Cushman, 1894) [13]. Tuy nhiên, các báo cáo của Trạm thực nghiệm
nông nghiệp tại địa phƣơng về tình hình dịch bệnh từ năm 1891 đã đề cập về
một " bệnh khó hiểu" xuất hiện trên đàn gà tây, với triệu chứng chung là da
vùng đầu bị biến đổi màu, gà mắc bệnh tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn cho
ngành chăn nuôi gà tây. Những ngƣời nông dân địa phƣơng căn cứ vào triệu
chứng đặc biệt đã quan sát đƣợc ở vùng đầu của gà tây mắc bệnh: mào thâm
tím, da mép và da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen nên gọi tên bệnh là
bệnh “đầu đen” Cushman (1894) [13]).
Kể từ khi bệnh “đầu đen” xuất hiện phổ biến, các nhà khoa học đã tập
trung nghiên cứu về bệnh. Sau một thời gian nghiên cứu, ngƣời ta nhận thấy
dấu hiệu biến đổi da vùng đầu không phải là dấu hiệu đặc trƣng cho bệnh, vì
nó còn có thể quan sát thấy trong một số bệnh khác của gà tây. Theo Smith
(1895) [26], khi gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng là 2 cơ quan bị tổn

hƣởng sâu sắc đến đời sống xã hội của một bộ phận không nhỏ ngƣời dân ở
nƣớc ta. Tác giả cũng cho rằng các trang trại chăn nuôi gà thịt đang bị ô


12

nhiễm nặng giun kim mà loài giun này đƣợc biết đến nhƣ 1 vectơ sinh học
truyền bệnh đơn bào H. meleagridis cho gà và gà tây.
2.1.3.2. Những thiệt hại kinh tế do Histomonosis gây ra
Trong những thập kỷ gần đây, Histomonosis đã gây ra thiệt hại nghiêm
trọng cho ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là gà và gà tây. Những năm
1930, dịch bệnh đầu đen đã phá hủy hầu nhƣ hoàn toàn ngành chăn nuôi gà
tây ở khu vực Đông và Trung Tây của Hoa Kỳ. Trong năm 1945, bệnh đầu
đen do H. meleagridis chiếm 32,2% tỉ lệ chết của gà tây ở Bắc Carolina.
Những năm tiếp theo dịch bệnh đầu đen ở gia cầm vẫn thƣờng xuyên
phát triển, tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho ngƣời chăn nuôi.
Ổ dịch Histomonosis trên đàn gà tây, tỷ lệ chết 25 - 75% đã đƣợc báo
cáo ở California vào năm 2001 (Shivaprasad và cs. 2002) [25].
Từ tháng 4 năm 2003 đến tháng 3 năm 2005, ở Pháp xuất hiện
113 ổ dịch Histomonosis trên gà tây, trong đó có 15 ổ dịch ở các trang
trại gà giống. Năm 2009 có sự bùng nổ của dịch Histomonosis ở gà tây 9 đến
11 tuần tuổi với tỷ lệ chết 24 - 68%.
Gia cầm mắc bệnh tỷ lệ chết cao chủ yếu là do tổn thƣơng ở gan. Tỷ lệ
chết cao từ ngày thứ 14 sau khi thể hiện triệu chứng lâm sàng.
Trong trƣờng hợp không đƣợc điều trị, hơn 90% số gia cầm bị bệnh có
thể chết, số sống sót sẽ còi cọc, chậm lớn.
2.1.3.3. Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gia cầm
* Động vật mắc bệnh
Histomonosis thấy ở đàn gà, gà tây trên toàn thế giới. Trong tự nhiên,
gà tây, gà, chim trĩ, chim công, chim cút, gà lôi, đà điểu, vịt,... đều có thể bị

chuồng trại, dụng cụ và môi trƣờng chăn nuôi là một trong những yếu tố có
ảnh hƣởng lớn tới khả năng nhiễm Histomonosis của gà. Điều này có liên
quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của giun kim - môi giới trung gian
truyền bệnh. Theo Tyzzer E. E. và Collier J. (1925) [28], bệnh đầu đen xảy ra
chủ yếu trên những đàn gà nuôi thả vƣờn, nơi mà gà thƣờng xuyên tiếp xúc
với môi trƣờng đất.


14

* Yếu tố stress
Các yếu tố strees nhƣ chuồng trại chật chội, khí hậu nóng ẩm, thức ăn kém
dinh dƣỡng... đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây lan Histomonosis ở gà.
2.1.3.4. Cơ chế sinh bệnh
Khi gà bị nhiễm bệnh qua miệng hoặc qua lỗ huyệt, tác nhân gây bệnh
xâm nhập vào manh tràng và thâm nhập vào niêm mạc ruột. Tại đây, bằng
sinh sản trực phân, đơn bào H. meleagidis nhân lên rất nhanh. Số lƣợng đơn
bào lớn tác động vào niêm mạc manh tràng làm niêm mạc ruột dày dần lên,
sau đó dẫn đến hiện tƣợng viêm, loét, hoại tử. Màng nhày và dịch viêm đọng
lại trong lòng manh tràng hình thành những cục rắn màu trắng nhƣ phomat.
Từ manh tràng, H. meleagidis xuyên qua niêm mạc, thâm nhập vào mạch máu
dƣới niêm mạc, theo dòng máu xâm nhập vào gan. H. meleagridis ký sinh ở
gan và gây hoại tử gan. Những ổ hoại tử có màu vàng nhạt, ban đầu nhỏ,
đƣờng kính khoảng 0,5 cm, sau đó các ổ hoại tử mở rộng và sâu trên khắp
gan. Từ gan, ký sinh trùng đơn bào này sẽ lây lan đi khắp cơ thể. Ngoài gan
và manh tràng, ngƣời ta còn tìm thấy H. meleagridis trong dạ dày tuyến, tá
tràng, ruột già, tuyến tụy, túi fabricius, thận, lá lách, tim, phổi, tuyến ức, não,
tủy xƣơng. Tuy nhiên, H. meleagridis không gây tổn thƣơng ở các cơ quan
này (McDougald, 2008) [23].
Các ổ viêm loét của manh tràng và của gan đã tạo điều kiện hết sức

Tổn thƣơng manh tràng xuấ t hiê ̣n từ ngày thứ 8 sau khi mầ m bê ̣nh xâm
nhâ ̣p vào cơ thể . Manh tràng bị viêm sƣng, thành manh tràng dày lên gấp
nhiều lần. Sau đó trong dịch tiết có hồng cầu, bạch cầu, ký sinh trùng và chất
dịch từ thức ăn tích lại tạo thành kén rắn chắc, màu trắng giống nhƣ pho mát.
Đôi khi còn thấy manh tràng bị viêm loét, thủng, rò rỉ chất chứa gây viêm
phúc mạc.
Có thể chỉ 1 trong 2 bên hoặc cùng một lúc cả 2 bên manh tràng xuất
hiện các biến đổi: lúc đầu phồng to, dài hơn, sau đó thành manh tràng dày


16

hơn và rắn chắc hơn. Màu sắc, độ đàn hồi và độ trơn bóng của manh tràng
bị thay đổi.
Có nhiều trƣờng hợp 2 manh tràng dính chặt với nhau hoặc 1 trong 2
manh tràng dính chặt vào các cơ quan nội tạng hoặc phúc mạc.
- Các biến đổi ở gan và cơ quan khác
Tổn thƣơng gan thƣờng bắt đầu vào ngày thứ 10. Gan sƣng to gấp 2 - 3
lần, viêm xuất huyết, hoại tử. Lúc đầu trên bề mặt gan có các đốm đỏ thẫm
làm cho gan lỗ chỗ nhƣ đá hoa cƣơng, sau đó biến thành ổ hoại tử màu trắng
hình hoa cúc nhƣ ổ lao hoặc nhƣ khối u của bệnh marek.
Nếu lấy chất chứa xung quanh ổ loét để xét nghiệm sẽ thấy chúng gồm
tế bào bạch cầu, đại thực bào, đơn bàoH. meleagridis còn sống.
Các tổn thƣơng ở các cơ quan khác nhƣ túi fabricius, phổi, lá lách,
tuyến tụy, thận, dạ dày tuyến và màng treo ruột đôi khi có thể dƣới dạng các ổ
hoại tử tròn, màu trắng hoặc màu vàng.
2.1.3.6. Chẩn đoán
* Với gà còn sống
Chẩn đoán lâm sàng: hiện nay, ở các cơ sở chăn nuôi, việc chẩn đoán
đối với gà còn sống chủ yếu dựa vào các triệu chứng của bệnh (xù lông, đứng

Đơn bào từ nguyên liệu tƣơi (manh tràng gà bệnh) có thể đƣợc nuôi và
nhân lên trong môi trƣờng Dwyertr, giúp cho việc quan sát H. meleagridis dễ
dàng hơn dƣới kính hiển vi.
Chẩn đoán bằng phản ứng PCR (phản ứng chuỗi polymerase) cho kết
quả nhanh chóng và chính xác. Với phản ứng PCR, ngƣời ta có thể chứng
minh ADN của H. meleagridis trong phân hoặc ruột. Kỹ thuật PCR cũng giúp
tìm ra ADN của ký sinh trùng H. meleagridis trong các cơ quan khác nhƣ
trong não, hoặc tuyến ức …, nơi mà các phƣơng pháp thông thƣờng không thể
chẩn đoán đƣợc sự có mặt ký sinh trùng này (Huber và cs. 2005) [17].
Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác


18

* Bệnh cầu trùng
Bệnh cầu trùng do Eimeria tenella gây ra cũng có các biến đổi giống
nhƣ các biến đổi bệnh do Histomonas gây ra. Nhìn từ ngoài vào qua thành
ruột ở bệnh cầu trùng ta thấy rõ các nốt đỏ xen lẫn các điểm trắng, khi tách
ruột ra thì thấy chất chứa bị lẫn máu hoặc toàn cục máu đông, thậm chí máu
tƣơi, trong khi đó chất chứa do Histomonas gây ra lúc đầu cũng lẫn máu khó
đông giống nhƣ bệnh cầu trùng, nhƣng về giai đoạn cuối tạo thành kén đông
đặc, gạt lớp phủ niêm mạc thấy niêm mạc ruột bị viêm hoại tử rất nặng, thành
ruột thừa dầy và rắn chắc.
* Bệnh do Trichomonas
Các triệu trứng và biến đổi bệnh lý do Trichomonas gây ra trong một số
trƣờng hợp cũng rất giống với bệnh đầu đen. Điểm khác là do bệnh
Trichomonas gây ra tìm thấy biến đổi ở ruột thừa, luôn kèm theo các biến đổi
ở 1/3 cuối ruột non. Các biến đổi ổ viêm hoại tử trên bề mặt gan có kích thƣớc
nhỏ hơn và lồi lên khỏi bề mặt gan giống nhƣ các ổ lao gà, trong khi đó các ổ
viêm loét hoại tử ở bệnh đầu đen lại bị lõm trũng ở giữa (tâm của ổ loét hoại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status