1
MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VỚI SỰ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THEO TINH THẦN
NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG HAI KHOÁ VIII
MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu của thế giới xuất hiện vào những
năm cuối của thế kỷ XX. Toàn cầu hoá là quá trình diễn ra do sự thay
đổi về công nghệ, tăng trưởng dài hạn liên tục về đầu tư nước ngoài và
nguồn lực quốc tế và sự hình thành trên phạm vi rộng lớn với quy mô
toàn cầu những hình thức về các mối liên kết quốc tế giữa các công ty và
các quốc gia. Sự liên kết này làm tăng quá trình hội nhập giữa các quốc
gia và thay đổi bản chất của cạnh tranh toàn cầu.
Về mặt khoa học kỹ thuật, công nghệ, toàn cầu hoá là kết quả phát triển
nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông
tin và viễn thông toàn cầu. Khoảng cách về không gian và thời gian là không
còn ý nghĩa với các hoạt động của con người và các tổ chức.
Ngày nay, các quốc gia đều tiến hành xây dựng chiến lược phát triển
dựa trên cơ sở huy động tối đa năng lực nội sinh, tạo được những khả năng
cảm nhận (yếu tố tri thức, trí tuệ) và khả năng phản ứng thích nghi (yếu tố cơ
cấu và tổ chức xã hội) với môi trường toàn cầu hoá đầy biến động. Trong khi
khoa học và công nghệ có những bước phát triển nhảy vọt, khối lượng tri thức
nhân loại ngày càng lớn, đòi hỏi giáo dục phải thường xuyên cập nhật các
thành tựu mới đồng thời phải chuyển dần từ việc học để tiếp nhận tri thức
sang học để biết cách tìm kiếm và tích luỹ tri thức một cách nhanh chóng
nhất, chính xác nhất và hiệu quả nhất. Hiện nay nhiều nước trên thế giới đang
có xu hướng chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức - nền kinh tế mà các sản
phẩm của nó đều chứa đựng một hàm lượng chất xám cao. Muốn xây dựng
nền kinh tế tri thức phải dựa vào tiền đề phát triển giáo dục. Vì vậy, hầu hết
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia,
1996, tr. 107, Hà Nội.
3
chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá tiếp tục khẳng định: “Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân
tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư phát triển”2.
Đảng ta đã khẳng định giáo dục có vai trò quyết định trong sự phát triển
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đồng thời trước hết bản
thân giáo dục cũng phải được “Hiện đại hoá”; Giáo dục cần hiện đại hoá về mục
tiêu, về chương trình giáo dục, về đội ngũ, về cơ sở vật chất - sư phạm, vì
không thể có một nền giáo dục vừa là mục tiêu vừa là sức mạnh của nền kinh
tế, đưa đất nước vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nếu bản thân nó không
được đầu tư thích đáng, không được hiện đại hoá.
Như vậy, khoa học và công nghệ với giáo dục - đào tạo có mối quan
hệ khăng khít với nhau biện chứng với nhau và chế ước lẫn nhau, vừa là
nội dung vừa là hình thức của nhau trong việc góp phần thúc đẩy sự phát
triển đất nước nhanh và bền vững.
NỘI DUNG
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, coi như khởi đầu
vào giữa thế kỷ 20, đang phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy nhiều lĩnh vực có
những bước tiến vượt bậc và đang mở ra những triển vọng hết sức lớn
lao trong thế kỷ 21 này.
và giảng dạy của nhà trường”.
+ Davis (1971) : “Nhìn thấy trong công nghệ giáo dục hai công nghệ:
một là yếu tố vật chất và một là các phương tiện giảng dạy”.
- Công nghệ giáo dục nghĩa rộng
Từ những năm 1967 trở về đây, các nhà khoa học nghiên cứu vấn đề
này đã lần lượt đưa ra nhiều định nghĩa (hoặc quan điểm) với những thuộc
5
tính bản chất của khái niệm không chỉ đơn thuần là yếu tố phương tiện kỹ
thuật mà được mở rộng hơn nhiều và cũng rất đa dạng - Với lẽ đó đã xuất
hiện khái niệm công nghệ giáo dục nghĩa rộng. Một số đại diện của nhóm này
là:
+ Hội đồng quốc gia về công nghệ giáo dục - Anh (1967): Công nghệ
giáo dục là sự phát triển, ứng dụng và đánh giá các hệ thống kỹ thuật và hỗ
trợ nhằm cải thiện quá trình học tập của con người.
+ Báo cáo của CERI Pháp (1971): Dựa trên công việc của trung tâm
nghiên cứu và cải cách giáo dục thì “công nghệ giáo dục phải được hiểu như
một phần tích hợp của một hoạt động thường xuyên và tổ hợp nhằm làm xích
lại gần nhau một cách có kết quả giữa người dạy - người học và các phương
tiện kỹ thuật”.
+ Januszkiewiez - Balan (1971): “Công nghệ dạy học là hệ thống các
chỉ dẫn sử dụng các phương pháp, phương tiện hiện đại, kết quả phải đào tạo
được người tốt nghiệp theo mong muốn trong thời gian có thể ngắn nhất với
sự chi phí phương tiện một cách tối ưu”.
+ Hội thảo ở Genève (10-16/5/1970), của tổ chức giáo dục UNESCO
định nghĩa: “Công nghệ giáo dục là khoa học về giáo dục xác lập các nguyên
tắc hợp lý của công tác dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến
hành quá trình giáo dục cũng như các phương pháp và phương tiện có kết quả
thành tựu hiện đại của các khoa học giáo dục và các khoa học liên quan như
sinh học, tâm lý học, điều khiển học, lý thuyết tổ chức, logic học, kinh tế giáo
dục học...Công nghệ giáo dục tổ chức một cách khoa học quá trình đào tạo
con người bằng cách xác định một cách chính xác và sử dụng một cách tối ưu
đầu ra (mục tiêu giáo dục), đầu vào (học sinh), nội dung dạy học, các điều
kiện và phương tiện kỹ thuật dạy học, các tiêu chuẩn đánh giá, hệ phương
pháp tích cực hóa, chương trình hóa, qui trình hóa và cá thể hóa quá trình dạy
7
học, nhằm đạt được mục đích giáo dục với sự chi phí tối ưu thời gian, sức lực,
tiền của của giáo viên, học sinh, nhân dân và Nhà nước, nhằm đáp ứng kịp
thời những yêu cầu của thời đại.
Tác giả Nguyễn Đức viết: Khảo sát hiện trạng, nguồn gốc hình thành,
qui luật vận động và xu thế phát triển của công nghệ giáo dục, cho phép đi
đến nhận thức bản chất của nó như sau: công nghệ giáo dục xuất hiện và hình
thành trên cơ sở tích hợp những thành quả tiên tiến của các khoa học giáo dục
với những khoa học khác như: thông tin, tâm lý, ngôn ngữ học...xác lập nên
các nguyên tắc hợp lý cho việc tổ chức khoa học quá trình đào tạo, trong đó
sử dụng rộng rãi các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại, tích hợp tối ưu và
hiện đại hóa nội dung đào tạo, thay đổi hệ phương pháp chuyển từ hệ thông
tin sang hệ phương pháp luận và tạo nên những định chuẩn đánh giá chính
xác kết quả đào tạo (từng phần và toàn bộ), điều chỉnh, điều khiển kịp thời,
lặp lại kết quả trong đào tạo, theo mục tiêu đã định.
Giáo sư Hồ Ngọc Đại nghiên cứu và thực nghiệm nhiều năm về giáo
dục bậc tiểu học, đã quan niệm về công nghệ giáo dục (được viết là CGD)
theo một số ý sau, có thể là quan trọng nhất, trong khi tác giả chưa đưa ra một
định nghĩa về công nghệ giáo dục:
- Tâm lý học hiện đại coi hoạt động tinh thần và hoạt động vật chất là
tác có thể kiểm soát được để đưa quá trình giáo dục đạt tới mục tiêu. Có nghĩa
là sử dụng các thiết bị kỹ thuật và các qui trình chặt chẽ về nội dung, về
phương pháp đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt tới độ tin cậy khách quan.
Cấu trúc của công nghệ giáo dục vẫn gồm hai phần: phần cứng là phần
kỹ thuật (phương tiện, thiết bị dạy học…); Phần phương pháp là phần mềm
(thông tin, con người, quản lý…).
9
Mục đích công nghệ giáo dục là nghiên cứu chuyển hoá vào thực tiễn
giáo dục những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật và khoa học giáo
dục nhằm thiết kế được những hệ dạy học và giáo dục tối ưu vận hành theo
nguyên lý mới đó là hướng vào việc phân hoá, cá thể hoá theo nhịp độ riêng
của từng đối tượng giáo dục.
* Đặc trưng của công nghệ giáo dục:
Thứ nhất, công nghệ giáo dục phải định lượng hoá được mục tiêu giáo
dục, biến mục tiêu giáo dục thành đối tượng có thể đo lường được. Mục tiêu giáo
dục nào được xác định đủ rõ để chỉ đạo được việc tổ chức quá trình đào tạo
thành qui trình ổn định và để làm chuẩn đo được kết quả đào tạo, qua đó đánh
giá được hiệu quả đào tạo, thì mục tiêu đó thường là lượng hoá được, đo đạc
được, quan sát được, và do đó có khả năng xây dựng được công nghệ giáo dục.
Những mục tiêu có thể lượng hoá được, đo đạc được, quan sát được,
thường là những mục tiêu thể hiện yêu cầu về kiến thức, về kỹ năng, về thái
độ; cũng nên chú ý là không phải mọi yêu cầu về những mặt này đều đo đạc
được, quan sát được.
Để hình thành công nghệ giáo dục ổn định, có thể kiểm soát được,
chuyển giao được, đảm bảo thực hiện mục tiêu, cần có ba điều kiện tối thiểu là:
- Mục tiêu được xác định rõ, tức là làm được hai chức năng: chỉ đạo tổ
chức quá trình đào tạo và làm chuẩn đo kết quả đào tạo (tức là lượng hoá
Thứ ba, nội dung giáo dục có thể lắp ghép được. Nội dung giáo dục
được phân chia thành những bộ phận vừa tuân theo hệ thống logic vừa có tính
độc lập tương đối, có thể lắp ghép cơ động dọc hoặc ngang theo tình huống cụ
thể.
Thứ tư, sử dụng các phương pháp, hình thức giáo dục tiên tiến theo
hướng phân hoá, cá thể hoá phát triển năng lực sáng tạo của người học.
Từ những vấn đề cơ bản của “Công nghệ giáo dục” cho chúng ta thấy
công nghệ giáo dục là một hướng cơ bản nâng cao hiệu quả giáo dục trên
11
những quan niệm cơ bản là: Tổ chức khoa học quá trình giáo dục; sử dụng
hợp lý các phương tiện kỹ thuật trong quá trình giáo dục; Coi người học là
chủ thể, tích cực chủ động và sáng tạo thực hiện qui trình giáo dục dưới sự
hướng dẫn, cố vấn, trọng tài của người thầy…
Công nghệ giáo dục còn đang là một hướng mới còn nhiều vấn đề về
lý luận và thực tiễn chưa được giải quyết, cần được khai phá, nhưng dù sao
cũng là hướng tích cực trong cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang
xâm nhập vào mọi lĩnh vực, cần được khuyến khích ở ước ta, trong phạm
trù “cải cách mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục”. Đó là một phạm
trù hiện đại của giáo dục.
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VỚI SỰ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THEO TINH THẦN
NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG HAI KHOÁ VIII
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp
hành Trung ương khoá VIII đã quyết định và định hướng chiến lược, mục
tiêu, nhiệm vụ của nước ta trên hai lĩnh vực có ý nghĩa hết sức quan trọng
trước mắt cũng như lâu dài là giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ.
các giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục.
- Giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của
toàn dân. Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời. Phê phán thói
lười học. Mọi người chăm lo cho giáo dục. Các cấp uỷ và tổ chức đảng, các
cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế xã hội, các gia
đình và các cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp
giáo dục - đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục đào tạo. Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội,
tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập
thể.
- Phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh. Coi
13
trọng cả ba mặt; mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát triển hiệu quả. Thực
hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lý luận gắn với
thực tế, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội.
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo. Tạo điều kiện để
ai cũng được học hành. Người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để
học tập. Bảo đảm điều kiện cho những người học giỏi phát triển tài năng.
- Giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hoá
các loại hình giáo dục - đào tạo, trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý, từ
nội dung chương trình, quy chế học, thi cử, văn bằng, tiêu chuẩn giáo viên,
tạo cơ hội cho mọi người có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và
hoàn cảnh của mình. Phát triển các trường bán công, dân lập ở những nơi có
điều kiện, từng bước mở các trường tư thục ở một số bậc học như: mầm non,
phổ thông trung học (cấp III), trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, đại học.
Mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa, từng bước hiện
đại hoá hình thức giáo dục”.3
nghiên cứu cơ bản, làm chủ và cải tiến các công nghệ nhập từ bên ngoài, tiến
tới sáng tạo ngày càng nhiều công nghệ mới ở những khâu quyết định đối với
sự phát triển của đất nước trong thế kỷ 21.
- Nâng cao năng lực nội sinh, xây dựng, phát triển tiềm lực khoa học và
công nghệ của nước nhà: đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ khoa
học và công nhân lành nghề, trẻ hoá và phát triển đội ngũ cán bộ khoa học và
công nghệ, kiện toàn hệ thống tổ chức, tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật,
mở rộng các nguồn cung cấp thông tin, từng bước hình thành một nền khoa
học và công nghệ hiện đại của Việt Nam.
* Nhiệm vụ của các lĩnh vực khoa học và công nghệ:
- Khoa học xã hội và nhân văn: Vận dụng sáng tạo lý luận, phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu
phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học; nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa tư bản
hiện đại, những biến đổi trong các quan hệ quốc tế; dự báo xu hướng phát
15
triển của thế giới, khu vực và đất nước. Xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.
Nghiên cứu sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp. Nghiên cứu lý luận và
chính sách quản lý kinh tế - xã hội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị; nghiên
cứu vấn đề đảng cầm quyền và xây dựng đảng trong điều kiện nền kinh tế
nhiều thành phần và cơ chế thị trường theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Tổng kết thực tiễn sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, tham khảo
kinh nghiệm phát triển của thế giới, đề xuất luận cứ khoa học về mô hình và
các giải pháp của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta.
Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm các cuộc chiến tranh cứu
nước, giữ nước trong lịch sử dân tộc; xây dựng, phát triển khoa học và nghệ
động của tất cả các ngành, các cấp, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế và củng cố quốc phòng - an ninh. Khoa học và công nghệ gắn với giáo
dục và đào tạo, khoa học tự nhiên và kỹ thuật gắn với khoa học xã hội và nhân
văn.
Ba là, phát triển khoa học và công nghệ là sự nghiệp cách mạng của toàn
dân. Phát huy cao độ khả năng sáng tạo của quần chúng, của các tập thể khoa
học và công nghệ, của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, các tổ chức
chính trị - xã hội và của mỗi công dân trong hoạt động khoa học, công nghệ.
Bốn là, phát huy năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ kết hợp
với tiếp thu thành tựu khoa học, công nghệ thế giới.
Năm là, phát triển khoa học, công nghệ gắn liền với bảo vệ và cải thiện
môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.
Nghị quyết cũng xác định những giải pháp chủ yếu cho phát triển khoa
học công nghệ, bao gồm:
- Tạo lập thị trường cho khoa học và công nghệ;
- Chính sách đối với cán bộ khoa học và công nghệ;
- Phát động phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học phát huy
sáng kiến, cải tiến kỹ thuật;
17
- Tăng đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ từ nhiều nguồn;
- Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ;
- Tăng cường kiểm soát, giám định công nghệ và chất lượng sản phẩm;
- Đổi mới hệ thống tổ chức quản lý hoạt động khoa học và công nghệ;
- Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ cập kiến thức
khoa học và công nghệ.
3. Mối quan hệ giữa sự phát triển khoa học và công nghệ với sự
phát triển giáo dục và đào tạo
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người mới Việt Nam; góp phần
phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống
của nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
* Mối quan hệ giữa sự phát triển khoa học và công nghệ với sự phát
triển giáo dục và đào tạo
Từ tổng quan về “Công nghệ giáo dục”, bản chất của cách mạng
khoa học và công nghệ , chúng ta thấy được mối quan hệ mật thiết giữa khoa
học và công nghệ, giữa khoa học và công nghệ với các lĩnh vực của đời sống
kinh tế - xã hội đặc biệt sự tác động biện chứng giữa sự phát triển khoa học
và công nghệ với giáo dục và đào tạo đó là:
- Sự kết hợp gắn bó giữa khoa học và công nghệ ngày càng cao. Sự
liên kết khoa học và công nghệ đã tác động đến nhiều ngành, làm thay đổi cả
phương thức, cả con người đặc biệt là chất xám, tức là làm cho vai trò chất
xám phát triển cao (biểu hiện là hàm lượng chất xám ngày càng tăng cao
trong các sản phẩm lao động), tri thức khoa học được khẳng định. Điều đó đòi
hỏi giáo dục phải đặt mục tiêu phát triển trí tuệ con người, vì vậy phải đào tạo
nguồn lực lao động chất lượng cao, đào tạo nhân tài, phải tạo sự gắn bó khoa
học và công nghệ trong giáo dục. Khoa học công nghệ làm cho công nghệ
giáo dục phát triển, công nghệ giáo dục phát triển lại thúc đẩy khoa học và
công nghệ phát triển, đó là tác động biện chứng.
19
- Khoa học và công nghệ phát triển tách con người ra khỏi máy móc.
Giai đoạn công nghệ mới phát triển cao tách con người ra khỏi máy móc thì
xuất hiện nhiều xí nghiệp, nhà máy ít công nhân, vai trò con người có khác đó
là chỉ điều khiển, tổ chức trong quá trình sản xuất và đối với giáo dục thì
đổi công nghệ, những biến động của việc làm, sự dịch chuyển cơ cấu kinh
tế, sự giao lưu văn hoá, sự chuyển đổi giá trị trong phạm vi khu vực và
thế giới mà vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc và cá tính. Giáo dục đào
tạo phải cung cấp một nền tảng tri thức và giá trị rộng. Toàn cầu hoá và
sự phát triển của khoa học và công nghệ tạo ra cơ hội cho giáo dục - đào tạo
nước ta hội nhập với giáo dục - đào tạo thế giới, bắt kịp với giáo dục - đào tạo
các nước tiên tiến hơn và cơ hội sử dụng kho tàng tri thức nhân loại, nhưng
toàn cầu hoá và sự phát triển của khoa học và công nghệ cũng tạo ra nguy cơ
mai một nền văn hoá dân tộc, những bản sắc văn hoá giáo dục có từ ngàn xưa.
- Cách mạng khoa học công nghệ làm thay đổi cơ cấu kinh tế thế giới,
làm tăng nhanh đầu tư khu vực 2 và khu vực 3 (khu vực chế biến và dịch vụ) ;
tỷ lệ tăng dân số giảm. Đối với giáo dục cũng thay đổi từ giáo dục hàn lâm (cơ
bản dài hạn) chuyển sang giáo dục mang tính thực tiễn, thực hành nhiều hơn.
Cơ chế quản lý giáo dục cũng chuyển từ bao cấp sang hạch toán, tăng cường
quyền tự chủ cho các nhà trường ; chuyển phương pháp dạy học nặng về tính
cơ bản sang dạy học ứng biến trong các tình huống, trong một xã hội đang
ngày một biến động mau lẹ.
- Cách mạng khoa học hiện đại làm thay đổi quy trình lao động sản xuất,
hình thành con người lao động kiểu mới. Toàn cầu hoá và sự phát triển của
khoa học và công nghệ cũng tạo ra sự di chuyển lao động tự do. Khi nền giáo
dục - đào tạo có chuẩn mực thấp, nhân lực đào tạo sẽ khó cạnh tranh trên thị
trường lao động với nhân lực các nước có chuẩn mực đào tạo cao hơn. Do sự
thấp kém về chất lượng và sự chênh lệch về chuẩn mực, giáo dục - đào tạo của
nước ta sẽ gặp những khó khăn rất lớn trong quá trình toàn cầu hoá và sự phát
triển của khoa học và công nghệ. Điều này đặt ra cho giáo dục và đào tạo phải
đào tạo ra một nguồn nhân lực năng động, tự chủ trong hoạt động của mình;
21
các ngành, các cấp, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và củng
cố quốc phòng - an ninh. Khoa học và công nghệ gắn với giáo dục và đào tạo,
khoa học tự nhiên và kỹ thuật gắn với khoa học xã hội và nhân văn.
Từ vai trò quan trọng của mối quan hệ sự phát triển của khoa học và
công nghệ với giáo dục - đào tạo đã phân tích trên chúng ta nhận thức rằng:
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại là đòn bẩy tác động đến
mọi quốc gia, cộng đồng thế giới, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, là đặc
điểm là nhân tố phát triển của thời đại, là động lực bên trong thúc đẩy xã hội
loài người phát triển. Vì vậy, phải gắn bó chặt chẽ giữa phát triển khoa học và
công nghệ với phát triển giáo dục và đào tạo, hai lĩnh vực này vừa là nội
dung vừa là hình thức của nhau.
Tích cực nghiên cứu và nhận thức đúng đắn về sự tác động của
cuộc cách mạng khoa học công nghệ đến sự phát triển xã hội; coi trọng
đúng mức sự phát triển của khoa học công nghệ từ đó không ngừng nâng
cao chất lượng giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học trong tình hình
hiện nay đáp ứng yêu cầu của thời đại.
Gắn bó chặt chẽ sự phát triển của khoa học và công nghệ với quốc
phòng an ninh với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa xây dựng Quân đội “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và
từng bước hiện đại”. Tứ đó, xác định, trách nhiệm của nhà trường quân sự
đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo, xây dựng các nguồn nhân lực cho
đất nước và quân đội khi khoa học và công nghệ phát triển.
Toàn cầu hoá và sự phát triển của khoa học và công nghệ tác động
sâu sắc đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội nhưng không thể thay thế được
con người trong cuộc đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội trong tình
hình phức tạp hiện nay. Đói với giáo dục cho dù công nghệ giáo dục phát
triển như thế nào cũng không thể thay thế nhân tố con người, không thể
23
24
vụ, đặc biệt là dịch vụ xử lý thông tin và dịch vụ tri thức tăng nhanh; sự cách
biệt giàu nghèo về thực chất là sự cách biệt về tri thức và năng lực tạo ra tri
thức. Các nước đang phát triển chỉ có thể bằng con đường phát triển khoa học
và công nghệ, giáo dục và đào tạo nhằm tăng nhanh vốn tri thức mới có thể
rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới dang diễn ra
mạnh mẽ. Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất rực tiếp như Mác
dự đoán, còn công nghệ được đổi mới hết sức nhanh chóng. Trình độ
dân trí và tiềm lực khoa học, công nghệ đã trở thành nhân tố quyết định
sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới. Đảng ta nhận định :
cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, cùng với xu thế quốc tế
hoá đời sông kinh tế thế giới là thời cơ thuận lợi để phát triển, đồng
thời cũng là một thách thức gay gắt đối với các nước, nhất là những
nước còn chậm phát triển kinh tế như nước ta. Vì vậy, cùng với việc
nâng cao nhận thức đối với giáo dục, đào tạo, chúng ta cần phải hiểu
sâu sắc vai trò của khoa học và công nghệ trong việc phát huy nhân tố
con người.
Như vậy, ngày nay thời đại đang bước vào kỷ nguyên toàn cầu
hoá, kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế. Giáo dục đang giữ vai trò đặc biệt
quan trọng cho sự phát triển xã hội, sự phát triển cá nhân, động lực của
sự phát triển kinh tế xã hội, Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem là
phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho sự phát triển. Vì vậy các quốc
gia, từ những nước đang phát triển đến những nước phát triển đều nhận
thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổi mới giáo
dục kết hợp với kinh tế để có thể đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu
quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước.