MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề phòng, chống buôn lậu là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các cấp các
ngành, các địa phương trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu qua biên giới được
xác định là một nhiệm vụ cấp bách của hệ thống chính trị địa phương các xã biên giới và các tổ
chức lực lượng vũ trang đóng quân trên địa bàn, trong đó lực lượng Bộ đội Biên phòng có vai trò
làm nòng cốt.
Thực trạng của vấn đề buôn lậu, đặc biệt là buôn lậu qua biên giới hiện nay đang đặt ra
nhiều vấn đề bức xúc cần phải giải quyết. Thực tế cho thấy, buôn lậu hiện nay đang là một trở
lực lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của nước ta và được xác định là một trong những
hoạt động nguy hiểm không chỉ với nền kinh tế đất nước mà còn xâm hại trực tiếp đến chủ quyền
an ninh quốc gia. Hoạt động buôn lậu làm rối loạn thị trường, gây mất ổn định giá cả, đem lại
những khó khăn cho việc quản lý và điều hành nền kinh tế – xã hội; làm gia tăng tình trạng thất
nghiệp, đưa các doanh nghiệp sản xuất trong nước đứng trước nguy cơ bị thua lỗ và phá sản.
Mặt khác, buôn lậu còn ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh kinh tế, nó tạo ra kẽ hở cho các tổ chức,
cơ quan tình báo nước ngoài lợi dụng để chống phá công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Từ năm 1997 trở lại đây, Đảng, Nhà nước ta có nhiều chỉ thị, nghị quyết, chủ trương
chính sách và các biện pháp tích cực, kiên quyết chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy mạnh đấu tranh
phòng chống buôn lậu nói chung và buôn lậu qua biên giới nói riêng. Nhưng hoạt động buôn lậu
không giảm mà có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp kể cả tính chất và quy mô, với
những thủ đoạn tinh vi, táo tợn và quyết liệt nhằm đối phó lại các hoạt động tuần tra kiểm soát,
phát hiện bắt giữ của Bộ đội Biên phòng và các lực lượng chính trị xã hội khác ở tuyến biên giới.
Điển hình như vụ buôn lậu “Hang rơi” ở Lạng Sơn làm cho ngân sách Nhà nước thất thoát hàng
chục tỷ đồng. Mặt khác buôn lậu đã tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đây là
vấn đề đòi hỏi phải có sự nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn để nâng cao hiệu quả phòng,
chống buôn lậu trong tình hình mới.
Thực tiễn mấy năm vừa qua cho thấy, dọc theo tuyến biên giới, nơi nào Bộ đội Biên
chủ nghĩa. Song, việc tiếp cận và giải quyết một cách cơ bản có hệ thống dưới góc độ triết
học, xã hội học vấn đề: “Phát huy vai trò quần chúng nhân dân các xã biên giới trong nhiệm
vụ phòng, chống buôn lậu của Bộ đội Biên phòng hiện nay”, chưa có công trình nào đề cập
tới. Với đề tài nghiên cứu đã lựa chọn tác giả hy vọng góp phần nhỏ bé làm sâu sắc hơn
những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách đang đặt ra trong phát huy vai trò quần chúng
nhân dân các xã biên giới thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu của Bộ đội Biên phòng
hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ cơ bản và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục đích của luận văn:
Dưới góc độ triết học, luận văn nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
phát huy vai trò quần chúng nhân dân các xã biên giới trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống
buôn lậu của Bộ đội Biên phòng; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy
hơn nữa vai trò quần chúng nhân dân các xã biên giới trong nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu
của Bộ đội Biên phòng hiện nay.
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Làm rõ đặc trưng bản chất và một số vấn đề có tính quy luật phát huy vai trò quần
chúng nhân dân các xã biên giới trong nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu của Bộ đội Biên phòng.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng, nguyên nhân và các yêu cầu trong phát huy vai trò quần
chúng nhân dân các xã biên giới thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu của Bộ đội Biên
phòng hiện nay.
+ Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò quần chúng nhân dân các xã
biên giới trong nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu của Bộ đội Biên phòng hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Trong khuôn khổ luận văn cao học triết học, do điều kiện khảo sát, tác giả xin được giới
hạn việc nghiên cứu tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất của quá trình đấu tranh phòng,
chống buôn lậu trên tuyến biên giới Việt – Trung của Bộ đội Biên phòng từ năm 1999 đến nay.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận:
1.1.1. Đặc điểm nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu của Bộ đội Biên phòng
* Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ đội Biên phòng được quy định ở Chương II từ Điều 5 đến
Điều 17 của Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Nước cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX thông qua ngày 28 tháng 3 năm 1997. Tại Điều 9 của
Chương II quy định: “Bộ đội Biên phòng có nhiệm vụ trực tiếp và phối hợp với các đơn vị khác
của các lực lượng vũ trang nhân dân, các ngành chức năng của Nhà nước đấu tranh chống
buôn lậu, vận chuyển trái phép vũ khí, chất cháy, nổ, chất độc hại, ma tuý, văn hoá phẩm độc
hại, hàng hoá cấm xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới trên đất liền, các hải đảo, vùng biển theo
quy định của pháp luật”.
Đặc điểm nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng khác với nhiệm vụ của các tổ chức vũ trang
khác trong quân đội. Từ chức năng, nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng được quy định trong Pháp
lệnh Bộ đội Biên phòng và Nghị quyết 11/NQ-TƯ của Bộ Chính trị cho thấy nhiệm vụ của Bộ đội
Biên phòng rất toàn diện, trên nhiều lĩnh vực (có cả quốc phòng, an ninh, đối ngoại…); có liên
quan trực tiếp tới đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Bộ đội Biên phòng
phải trực tiếp đấu tranh với nhiều loại đối tượng (có đối tượng công khai, có đối tượng bí mật, có
đối tượng là địch, có đối tượng là bọn tội phạm các loại; có các phần tử là người trong nước, có
người nước ngoài…) mỗi đối tượng lại có chủ trương, đối sách giải quyết khác nhau. Việc giải
quyết đó, dù chỉ có một sai sót nhỏ cũng có thể đụng chạm đến những vấn đề rất nhạy cảm, nhất
là quan hệ quốc tế. Những nhiệm vụ trên đều phải được thực hiện thường xuyên, liên tục cả về
không gian và thời gian trong mọi hoàn cảnh.
Bộ đội Biên phòng là lực lượng vũ trang của Đảng, là một thành phần của Quân đội nhân
dân Việt Nam; nhưng khác với các lực lượng vũ trang khác ở chỗ: trong thời bình bên cạnh
nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, Bộ đội Biên phòng chủ yếu, thường xuyên là làm nhiệm vụ đấu
tranh chính trị, bảo vệ an ninh trật tự và quản lý Nhà nước về biên giới.
Do chức năng, nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng đặt ra yêu cầu hoạt động lãnh đạo của
các tổ chức đảng Bộ đội Biên phòng là rất rộng và nội dung công tác đảng, công tác chính trị có
nhiều vấn đề mang tính đặc thù. Là một tổ chức vũ trang của quân đội, cùng với thực hiện nhiệm
vụ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, trật tự an toàn xã hội, Bộ đội Biên phòng còn phải đại diện
nhuận, bọn buôn lậu không từ bỏ một hành vi, thủ đoạn nào kể cả lừa đảo, giết người… để vận
chuyển hàng hoá trái phép qua biên giới.
Trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay và
do nhu cầu của đời sống xã hội, các hoạt động buôn lậu đang diễn ra mọi lúc mọi nơi đối với mọi
mặt hàng hoá. Những chủng loại hàng hoá nào mang lại lợi nhuận cao thì hoạt động buôn lậu
của bọn chủ lậu càng liều lĩnh. Buôn lậu hiện nay diễn ra thông qua các hình thức rất đa dạng,
phức tạp với nội dung phong phú, đối với tất cả các chủng loại hàng hoá; lại diễn ra trên tất cả
các tuyến biên giới. Vì vậy, công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu của Bộ đội Biên phòng
càng gặp rất nhiều khó khăn.
Buôn lậu và chống buôn lậu hiện nay được hiểu theo hai góc độ.
Thứ nhất, buôn lậu hiểu theo góc độ kinh tế là “buôn bán hàng hoá trốn thuế hoặc hàng
quốc cấm” [47]. Ở khái niệm này chúng tôi hiểu hàng hoá xuất, nhập lậu thường không phải
chỉ là hàng quốc cấm mà còn là các loại hàng hoá có thuế xuất cao; vì vậy, buôn lậu tìm cách
trốn thuế. Hàng quốc cấm là tất cả các loại hàng hoá nghiêm cấm xuất, nhập khẩu dưới bất
cứ hình thức nào khi chưa được pháp luật Nhà nước Việt Nam cho phép, như: buôn bán vũ
khí, chất ma tuý, đồ cổ, động vật và tài nguyên quý hiếm. Hàng hoá có thuế xuất cao là
những mặt hàng hoá không cấm nhưng có thuế xuất cao, như: than đá, dầu khí, hồi, quế…
Thứ hai, buôn lậu hiểu theo góc độ pháp luật là “tội phạm nguy hiểm, xâm hại trực tiếp
đến nền kinh tế và an ninh quốc gia” [21]. Khái niệm này chỉ rõ tất cả các hành vi như buôn bán
hàng hoá trái phép, vận chuyển hàng hoá qua biên giới trái với quy định của hải quan, không
khai báo hoặc khai báo giả dối, không có giấy tờ hợp lệ của cơ quan có thẩm quyền (thương
mại, hải quan), không vận chuyển qua cửa khẩu mà cố tình trốn tránh sự kiểm soát của cơ quan
chức năng (hải quan, quản lý cửa khẩu); hành vi mang hàng hoá trái phép qua biên giới mục
đích không rõ ràng; hoặc tất cả các phương tiện tàu, thuyền chuyên chở hàng hoá xuất nhập
khẩu trái phép qua biên giới quốc gia (đường bộ, đường sông, đường biển) của Việt Nam đều
cấu thành tội buôn lậu hoặc vận chuyển hàng hoá trái phép.
Các hành vi buôn lậu trên là mục tiêu đấu tranh phòng, chống buôn lậu của các cấp, các
ngành, các lực lượng vũ trang. Phòng, chống buôn lậu là đấu tranh ngăn ngừa người và phương
núi nước ta, nhất là các xã biên giới có vị trí rất quan trọng về quốc phòng an ninh quốc gia. Xác
định biên giới là tuyến phòng thủ quan trọng của đất nước; Đảng và Nhà nước ta chủ động tăng
cường các hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội nhằm giữ vững ổn định về chính trị, đồng
thời tham gia phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn biên giới. Phối hợp thực hiện nhiệm vụ giữa
các lực lượng đóng quân trên biên giới có sự thống nhất và chỉ đạo chung của Đảng và Nhà
nước ta. Do điều kiện địa lý, các lực lượng đóng quân trên địa bàn biên giới chỉ có thể hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao khi phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác, nhất là các lực
lượng đóng quân trên địa bàn biên giới.
Bộ đội Biên phòng thực hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ trên địa bàn các xã biên giới.
Địa bàn xã biên giới thường là nơi xa xôi hẻo lánh, điều kiện kinh tế – xã hội kém phát
triển, trình độ dân trí thấp. Biên giới là nơi kẻ thù thường lợi dụng làm địa bàn hoạt động
chống phá cách mạng nước ta. Chúng dùng thủ đoạn “diễn biến hoà bình” nhằm chia rẽ
khối đại đoàn kết của dân tộc ta. Chúng tôi kéo, kích động quần chúng nhân dân các xã
biên giới du canh, du cư gây mất an ninh trật tự trên khu biên giới… Biên giới còn là nơi
thường xảy ra nhiều dịch bệnh, gây ra nhiều khó khăn do đời sống của quần chúng nhân
dân các dân tộc. Bộ đội Biên phòng phối hợp với lực lượng y tế địa phương xã biên giới
khám và chữa bệnh cho nhân dân; bước đầu hạn chế hiện tượng đồng bào dân tộc, cúng
bái để chữa bệnh.
Do điều kiện giáo dục kém phát triển, Bộ đội Biên phòng phối hợp với chính quyền địa
phương tổ chức nhiều đợt dạy chữ xoá mù cho quần chúng nhân dân các xã biên giới. Biên giới
là một trong những vùng có rừng đầu nguồn các con sông; Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng
cốt thực hiện Dự án 327 và 135 của Đảng và Nhà nước trên địa bàn các xã biên giới. Bộ đội
Biên phòng phối hợp với chính quyền địa phương các xã biên giới tổ chức quần chúng nhân dân
các dân tộc thực hiện chủ trương phát triển kinh tế – xã hội miền núi của Đảng và Nhà nước,
từng bước góp phần nâng cao đời sống cho quần chúng nhân dân các xã biên giới.
Bộ đội Biên phòng thực hiện nhiệm vụ được giao trong điều kiện hết sức khó khăn. Biên
giới nước ta dài 7.927 km địa hình chủ yếu là rừng núi, biển đảo, không thuận tiện cho thực hiện
nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát của Bộ đội Biên phòng. Điều kiện địa lý nước ta rất khắc nghiệt,
chống Pháp, hoạt động buôn lậu vẫn diễn ra giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm. Trong kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tập trung trí tuệ, sức người, sức
của cho chiến trường thì bọn buôn lậu không quên tranh thủ làm giàu riêng cho mình; các hoạt
động buôn lậu thuốc phiện và hàng ngoại tuy chưa lớn nhưng không phải là ít.
Sau Đại hội VI của Đảng, nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa; với chính sách mở cửa, đã làm nảy sinh nhiều quan hệ mới,
tạo ra thách thức và cơ hội trong quá trình phát triển sản xuất. Động lực của nền kinh tế thị
trường là lợi nhuận; lợi nhuận vừa là mục tiêu vừa là thước đo hiệu quả của quá trình sản
xuất kinh doanh. Trong nền sản xuất xã hội, lợi nhuận có vai trò to lớn đối với quá trình sản
xuất, không có lợi nhuận và lợi ích với tính cách là động lực thì xã hội không thể phát triển
được. Song, do sự kích thích của lợi nhuận và lợi ích cá nhân cực đoan đã đưa tới hoạt
động buôn lậu và các tệ nạn xã hội khác có chiều hướng phát triển.
Từ sau vụ Nguyễn Xuân Trường (đường dây buôn lậu ma tuý) cho đến nay có thể
nói tình hình buôn lậu diễn ra ngày càng phức tạp và với quy mô ngày càng lớn hơn. Một
câu hỏi đặt ra, vì sao: nhiều năm nay, Chính phủ đã có những chủ trương, biện pháp tích
cực để tăng cường chống buôn lậu; các cấp, các ngành đã tập trung chỉ đạo công tác này
và đã thu được một số kết quả nhất định, nhưng tình hình buôn lậu vẫn chưa giảm mà còn
có nhiều hướng gia tăng ? Hàng lậu từ nhiều nước, bằng rất nhiều cách ồ ạt tràn vào nước
ta. Hoạt động buôn lậu đã phân chia lợi ích theo từng cung đoạn, hình thành những đường
dây buôn lậu bí mật, thầm lặng nhưng rất khẩn trương. Đây là cuộc đấu tranh gay gắt giữa
hàng nội và hàng ngoại trên thị trường nước ta. Thị trường bao giờ cũng vận động theo
quy luật cung – cầu và giá cả hàng hoá. Hàng hoá tốt, rẻ sẽ chiến thắng hàng hoá xấu, giá
thành cao. Đây là quy luật phổ biến vận hành trong bất kỳ nền kinh tế hàng hoá nào. Trong
những năm gần đây sản xuất của nước ta đã bước đầu phát triển, hàng hoá làm ra nhiều
hơn, phong phú hơn, phần nào đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong xã hội. Nhưng, do
hệ thống công nghệ trong nước, hầu hết trên các lĩnh vực, còn lạc hậu so với các nước
trong khu vực. Vì vậy, năng xuất và hiệu quả các ngành kinh tế còn thấp, chất lượng hàng
hoá không đáp ứng đầy đủ thị hiếu của người tiêu dùng; chưa đủ sức cạnh tranh với hàng
quan Nhà nước đã dẫn đến tình trạng đồng vốn của quốc gia bị sử dụng sai mục đích, không tạo
ra sản phẩm trong sử dụng vốn, làm kìm hãm phát triển sản xuất và kinh doanh trong nước.
Buôn lậu còn gây ra những hậu quả phức tạp và nặng nề về mặt văn hoá - xã hội; nó làm
cho đạo đức, lối sống bị tha hoá, ảnh hưởng xấu đến truyền thống văn hoá dân tộc. Đây là một
yếu tố phi pháp, làm gia tăng chênh lệch giữa kẻ giàu và người nghèo; tạo đà cho việc thuê
mướn, bóc lột sức lao động. Một số lớn thuộc các thành phần lao động bị thuê mướn, cám dỗ,
trong đó có cả trẻ em vị thành niên bỏ học hành để đi làm “cửu vạn” cho bọn đầu nậu; không ít
đối tượng chính sách cũng tham gia hoặc tiếp tay cho buôn lậu, gây phiền phức cho các ngành
chức năng trong đấu tranh chống buôn lậu.
Trong bối cảnh thế giới như hiện nay, cuộc đấu tranh giành giật “ai thắng ai” về vấn đề thị
trường không kém phần gay go, quyết liệt. Chiến tranh thị trường một kiểu xâm lược thực dân
mới, một hình thức bóc lột mới. Đây là một cuộc “chiến tranh biên giới mềm” đang diễn ra hàng
ngày, hàng giờ trên thế giới. Chủ quyền lãnh thổ hiện nay bị đe doạ không chỉ bằng lưỡi lê và xe
tăng mà bằng hàng hoá, tiền và công nghệ. Hàng hoá đến đâu là biên giới tới đó, cũng đồng
nghĩa là thị trường đến đó, khi đó có thể vơ vét được tài nguyên của những nước nghèo kém
phát triển, khiến cho các nước này rơi vào tình trạng “quốc gia còn nguyên vẹn” mà chủ quyền
thì mất.
Hàng lậu tràn vào nước ta, ngoài động cơ về kinh tế, kẻ thù dùng thủ đoạn này để làm
mất ổn định về kinh tế, kích động về chính trị gây rối an ninh trật tự, như vụ việc xảy ra ở Tây
Nguyên vừa qua. Hiện nay ở nước ta không rơi nào là không bày bán hàng ngoại; và cũng có
thể nói, không nơi nào là nơi không có hàng lậu được bày bán công khai. Thật là nguy hiểm !
chiến tranh thông thường và kể cả chiến tranh hiện đại xảy ra có thể giết chết nhiều người,
nhưng xét về lâu dài khó có thể giết chết được nền độc lập của một dân tộc. Nhưng chiến tranh
kinh tế “gặm nhấm” hàng ngày thì đã làm cho không ít quốc gia có sức mạnh về quân sự cũng
mất chủ quyền và sụp đổ, như: Liên Xô và Đông Âu trong những năm cuối thế kỷ qua.
Cuộc chiến chống buôn lậu đòi hỏi phải làm quyết liệt, có phương án lâu dài; không chỉ có
các cơ quan chức năng được Chính phủ giao nhiệm vụ như Hải quan, Thuế, Cảnh sát Kinh tế,
Bộ đội Biên phòng… và không chỉ có ở biên giới, hải đảo, biển, sông… mà phòng, chống buôn
an ninh xã hội ở nhiều đoạn biên giới. Đấu tranh phòng, chống buôn lậu qua biên giới đạt hiệu
quả cao sẽ hạn chế tối đa các vụ ẩu đả giữa “đường dây” buôn lậu này với “đường dây” buôn
lậu khác. Để nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh này, Bộ đội Biên phòng đã từng bước phối hợp
với chính quyền địa phương làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát, trạm trú, tạm vắng con người
ở khu vực biên giới. Nhờ có sự hiệp đồng linh hoạt và hiệu quả giữa Bộ đội Biên phòng với
chính quyền địa phương đã góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu biên
giới; các vụ tranh chấp gây mất trật tự tại khu vực biên giới năm 2003 đã giảm đáng kể so với
năm 2002.
Do đó Bộ đội Biên phòng phải phối hợp kịp thời với các cơ quan chức năng kiên quyết
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phòng và chống buôn lậu qua biên giới. Việc đấu tranh phòng,
chống buôn lậu có hiệu quả sẽ góp phần tạo ra môi trường chính trị – xã hội ổn định và tác động
tích cực đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và địa phương các xã biên giới.
Đấu tranh phòng, chống buôn lậu của Bộ đội Biên phòng có hiệu quả góp phần bảo vệ
nguồn nhân lực, vật lực, tài lực phục vụ cho việc phát triển của nền kinh tế xã hội nước ta.
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không chỉ thôn tính các dân tộc thông qua các
cuộc chiến tranh đẫm máu mà còn thực hiện các thủ đoạn tinh vi và thâm độc, như “diễn biến
hoà bình” trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế, sau đó gây kích
động về chính trị, tạo cớ gây bạo loạn lật đổ… nhằm làm cho chế độ chính trị của nước ta mất ổn
định và đưa tới nguy cơ sụp đổ. Các thế lực thù địch hiện nay đang tìm cách móc nối xây dựng
cơ sở trong nội địa, khai thác, chế biến các tài nguyên quý hiếm của nước ta, như: nguyên liệu
gỗ, khoáng sản than, nhiên liệu dầu thô và các mặt hàng quốc cấm khác. trong nhiều năm qua,
chúng đã làm cho tiềm lực kinh tế của đất nước bị suy giảm, ngoại lệ trong nước chạy ra nước
ngoài. Bằng lợi ích vật chất và sự kích động về chính trị, chúng thu hút lôi kéo lực lượng lao động
và nhân tài đất nước chạy ra nước ngoài, làm mất nội lực phát triển kinh tế – xã hội trong nước;
sức lao động của nhân dân bị bóc lột và tước đoạt; làm mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng,
ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế quốc dân, đến thành tựu trong công cuộc đổi mới
của Đảng ta.
Nguy hại hơn, buôn lậu đã làm tha hoá một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có
Nhân lực lao động chính bị thiếu hụt trong sản xuất. Tình trạng nghiện hút, cờ bạc, trộm cắp gia
tăng trên tuyến biên giới. Các tệ nạn xã hội trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân
là buôn lậu. Buôn lậu không chỉ tạo ra lợi nhuận cao mà còn tạo ra điều kiện gây ra nghiện hút.
Quần chúng nhân dân các xã biên giới đấu tranh phòng, chống buôn lậu góp phần hạn
chế hiện tượng vận chuyển hàng hoá lậu qua biên giới. Quần chúng nhân dân các xã biên giới là
“tai mắt” cung cấp các nguồn tin có giá trị kịp thời về buôn lậu cho Bộ đội Biên phòng hoặc các
cơ quan chức năng khác. Quần chúng nhân dân các xã biên giới trực tiếp giáo dục con, em mình
thực hiện tốt các chủ trương, biện pháp chống buôn lậu của Đảng, Nhà nước ta.
Quần chúng nhân dân các xã biên giới tham gia đấu tranh phòng, chống buôn lậu triệt để
sẽ tạo ra vành đai biên giới chắc chắn chống buôn lậu. Đời sống kinh tế – xã hội các xã biên giới
phát triển không còn là môi trường thuận lợi cho các tệ nạn, như: Ma tuý, cờ bạc, trộm cắp, tham
nhũng… tồn tại và phát triển .
Buôn lậu qua biên giới trong giai đoạn hiện nay đang gây ra mất an ninh, trật tự trên địa
bàn biên giới. Hiện tượng tranh giành hàng hoá giữa các chủ buôn lậu đã gây ra các vụ “ẩu đả”
lẫn nhau; làm hư hỏng nhiều hàng hoá và gây ra nhiều thương tích cho cửu vạn. Hiện tượng
buôn lậu diễn ra suốt ngày đêm; người mang vác hàng hoá thuê qua biên giới diễn ra cả đêm,
lẫn ngày. Tình trạng lộn xộn qua lại trên biên giới là điều kiện thuận lợi cho các lực lượng thù
địch hoạt động chống phá ta. Chúng “lôi kéo” quần chúng nhân dân, đặc biệt đối với quần chúng
nhân dân là người Mông ở vùng cao, tuyên truyền và kích động gây mất đoàn kết giữa các dân
tộc đang sinh sống trên địa bàn biên giới.
Buôn lậu thuốc phiện và các chất gây nghiện, đã gây ra hậu quả không nhỏ cho đời sống
xã hội, nhất là ở khu vực biên giới. Hiện tượng nghiện hút, cờ bạc, trộm cắp, đục khoét tài sản
của Nhà nước hiện nay có chiều hướng gia tăng… gây mất an ninh, trật tự trên địa bàn biên giới
và toàn xã hội. Các cấp, các ngành phải đấu tranh chặn đứng các hành vi buôn lậu, nhất là các
hành vi buôn lậu các chất gây nghiện.
Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta đã xác định tiếp tục công cuộc đổi mới sâu
rộng, đồng bộ, thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội” và “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2010” trong đó nhiệm vụ quốc
nhất” của giai cấp công nhân. Tuy nhiên để giành thắng lợi, cách mạng nhất định phải do giai cấp
công nhân lãnh đạo, nhất định phải thực hiện được khối liên minh công nông. Vì công nông có
liên hiệp thì cách mạng mới thắng lợi được [46]. Khẳng định vai trò và sức mạnh to lớn của hai
giai cấp công nhân, nông dân, của liên minh công nông, lãnh tụ Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh đến
nhân tố thường xuyên đảm bảo cho cách mạng Việt Nam thắng lợi là Mặt trận dân tộc thống
nhất. Người chỉ rõ ý nghĩa chiến lược của khối đoàn kết toàn dân trong cách mạng Việt Nam là
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.
Theo định hướng đó, Đảng ta tập trung nỗ lực cao nhất cho mặt trận đoàn kết (giai
đoạn đầu là tổ chức mặt trận Việt Minh, sau đó là Mặt trận Liên Việt; nay là Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam) và nhất quán thực hiện trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. Đó là quá trình
đoàn kết toàn dân, hoạt động vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy
rằng: Đảng dựa vào dân để làm cách mạng, giành và giữ chính quyền, thì chính quyền đó là
của dân, do dân và vì dân. Cho nên, “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng
đều là đầy tớ của dân” [44]. Người nhấn mạnh, trong điều kiện Đảng cầm quyền, thì Đảng
cần phải chăm lo và có thái độ chịu trách nhiệm trước đời sống của quần chúng. “Nếu dân
đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là
Đảng và Chính phủ có lỗi” [35]. Người nhắc nhở cán bộ chính quyền và đảng viên phải liên
hệ mật thiết với quần chúng, tin tưởng vào sức mạnh và khả năng sáng tạo của quần chúng;
gần gũi, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, học hỏi kinh nghiệm của
quần chúng… phải tiền phong gương mẫu trước quần chúng; “phải xứng đáng là người lãnh
đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
Nét đặc trưng trong hơn mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là
luôn phải đứng trước kẻ thù ngoại xâm mạnh hơn mình rất nhiều về kinh tế và quân sự; đồng
thời thường xuyên phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt. Trong hoàn cảnh đó, để tồn tại và
phát triển, nhân dân ta đã phải sớm cố kết để tạo ra sức mạnh to lớn chung của cả cộng đồng.
Dựa vào sức dân, thực hiện “thu phục lòng dân”, Đảng ta tổ chức và huy động đến mức cao nhất
ý chí và sức mạnh của toàn dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
ban hành; nhằm huy động sức mạnh cả nước vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Nhà Trần đã tổng kết bài học có tính nguyên tắc lớn nhất trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc
là: “vua tôi cùng lòng, anh em hoà mục, nước nhà góp sức”, “quân lính một lòng như cha con” và
“khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách để giữ nước” [14].
Ở thế kỷ XV giai cấp phong kiến, vua quan của triều đình đã chấp nhận phải quan tâm
đến đời sống của nhân dân để bảo vệ lợi ích của chúng. Vì vậy vai trò của nhân dân được đề
cao thể hiện tập trung trong luận thuyết: “Dân vi quý, xã tắc thử chi, quân vi khinh” nghĩa là: “Dân
là quý nhất, rồi mới đến Nhà nước, còn vua là nhẹ”. Đặc biệt Nguyễn Trãi người cùng Lê Lợi 10
năm lãnh đạo cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đánh đuổi giặc Minh, đã có những quan niệm
rất thực tế về vai trò và sức mạnh của nhân dân. Ông cho rằng: “Mến người có nhân là dân, mà
chở thuyền và lật thuyền cũng là dân… thuyền bị lật mới biết sức dân như nước…”. [9].
Từ nhận thức đúng đắn và sâu sắc về vai trò và sức mạnh của trận tuyến lòng dân, dân
là gốc nước (“dân vi bang bản”) của các vương triều phong kiến Việt Nam dưới những mức độ
khác nhau đều thực hiện những chính sách “thân dân” để “an dân”.
Tuy nhiên, tư tưởng về vai trò quần chúng nhân dân của các vương triều và quý tộc phong
kiến về cơ bản là một phương kế giữ nước, thực chất là vì lợi ích của giai cấp thống trị. Vai trò và
sức mạnh của quần chúng nhân dân ở Việt Nam chỉ được đánh giá đúng, đủ và phát huy được vai
trò ấy đến mức cao nhất khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; khi đó nhân dân Việt
Nam mới thực sự là chủ đất nước, làm chủ xã hội và bản thân mình.
Chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp sáng tạo sinh động của đông đảo quần chúng nhân dân,
Đảng chỉ là Người lãnh đạo không thể thay thế nhân dân thực hiện sự nghiệp này.
Đảng Cộng sản Việt Nam là “Người” lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động Việt Nam. Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động; Đảng được dân bầu ra, chịu sự kiểm tra của nhân dân; không phải Đảng
“đứng” trên nhân dân. Đảng là hạt nhân lãnh đạo, còn mọi quyền lực đều nằm trong tay nhân
dân. Nhân dân có thực sự nắm quyền hay không ? đó là một tiêu chuẩn cơ bản nói lên trình độ
và kết quả lãnh đạo của Đảng. Chính quyền nhân dân mạnh, quyền lực nhà nước của dân mạnh
là điều chứng tỏ Đảng mạnh; đây cũng là cơ sở đảm bảo cho sự tồn tại vai trò và sức mạnh của
nảy nở. Do vậy: Phát huy vai trò quần chúng nhân dân là quy tụ, khơi dậy được sức mạnh bên
trong, khả năng tiềm tàng của nhân dân trên các mặt và biến sức mạnh bên trong ấy thành hành
động cách mạng thiết thực nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc [50]. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa hiện nay không chỉ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ mà còn là sự bảo vệ mọi mặt, mọi lĩnh
vực của đời sống kinh tế – xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Phòng, chống buôn lậu hiện nay là một mặt trận đấu tranh rất quyết liệt và phức tạp. Đấu
tranh phòng, chống buôn lậu đạt hiệu quả cao sẽ bảo vệ và tạo ra môi trường thuận lợi cho các
thành phần kinh tế trong nước tăng trưởng và phát triển. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta mà trực tiếp nhất là vận dụng phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chúng tôi quan niệm:
Phát huy vai trò quần chúng nhân dân các xã biên giới trong nhiệm vụ phòng, chống buôn
lậu của Bộ đội Biên phòng là tổng hợp các hình thức, biện pháp tác động nhằm khơi dậy sức
mạnh bên trong của quần chúng nhân dân các xã biên giới và chuyển biến sức mạnh đó thành
hành động cách mạng hiện thực để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu trên địa
bàn các xã biên giới hiện nay.
Như vậy, phát huy vai trò quần chúng nhân dân các xã biên giới trong nhiệm vụ phòng,
chống buôn lậu của Bộ đội Biên phòng là khơi dậy và phát huy chủ nghĩa yêu nước của nhân
dân; tuyên truyền giáo dục các chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về
phòng, chống buôn lậu để nhân dân các xã biên giới tự giác tham gia thực hiện nhiệm vụ phòng,
chống buôn lậu trên địa bàn các xã biên giới.
Phát huy vai trò quần chúng nhân dân các xã biên giới trong nhiệm vụ phòng, chống buôn
lậu của Bộ đội Biên phòng một mặt là phát huy vai trò quần chúng nhân dân cả nước nói chung,
quần chúng nhân dân các xã biên giới nói riêng trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Tuy nhiên, phát huy vai trò quần chúng nhân dân các
xã biên giới trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu của Bộ đội Biên phòng có đặc thù
riêng. Do tính chất của hoạt động buôn lậu ngày càng phức tạp và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ
chính trị của Đảng trong phòng, chống buôn lậu đề ra. Do đó, phát huy vai trò quần chúng nhân
dân các xã biên giới còn là phát huy khả năng của quần chúng tham gia tuần tra quản lý và bảo