LUẬN văn THẠC sĩ CHẤT LƯỢNG bồi DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG và AN NINH CHO đối TƯỢNG 2 ở TRƯỜNG QUÂN sự QUÂN KHU 9 HIỆN NAY - Pdf 40

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
An ninh nhân dân
Bảo vệ tổ quốc
Bạo loạn lật đổ
Diễn biến hòa bình
Giáo dục quốc phòng
Kinh tế - xã hội

Chữ viết tắt
ANND
BVTQ
BLLĐ
DBHB
GDQP
KT - XH

Khu vực phòng thủ
Lực lượng vũ trang
Quân khu 9
Quốc phòng và an ninh
Quân đội nhân dân
Quân sự quốc phòng
Quốc phòng toàn dân
Trật tự an toàn xã hội
Trường Quân sự Quân khu 9
Xã hội chủ nghĩa

KVPT
LLVT
QK9

1.2.

Thực trạng chất lượng và một số kinh nghiệm nâng cao
chất lượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh
cho đối tượng 2 ở Trường Quân sự quân Quân khu 9
34

Chương 2 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC
PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 2 Ở
TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 9 HIỆN NAY
51
2.1.

Yếu tố tác động và yêu cầu nâng cao chất lượng bồi
dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng 2
ở Trường Quân sự Quân khu 9 hiện nay
51

2.2.

Những giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến
thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng 2 ở Trường
Quân sự Quân khu 9 hiện nay
57

KẾT LUẬN
87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
89

QSQP ở địa phương của một bộ phận cán bộ, công chức, lãnh đạo chủ chốt
thuộc đối tượng 2 chưa sâu sắc, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng
và BVTQ XHCN. Do đó, bồi dưỡng kiến thức QP&AN đảm bảo cho đội
ngũ cán bộ này có đủ kiến thức, năng lực tổ chức, thực hiện các nhiệm vụ
3


QSQP, nhất là công tác xây dựng khu vực phòng thủ; kết hợp kinh tế với
QP&AN; xây dựng thế trận QPTD, thế trận CTND địa phương; chuẩn bị
nhân tài, vật lực cho chiến tranh ngay từ thời bình... của từng địa phương
hiện nay là vấn đề cấp thiết.
Những năm qua, công tác bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 2
trên địa bàn QK9 đã được các cấp ủy, chính quyền và các cơ quan chức năng
của địa phương quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chặt chẽ,
nghiêm túc và đạt được những kết quả quan trọng, nhờ đó mà trình độ, kiến
thức QP&AN của đội ngũ này được nâng lên đáng kể, góp phần thúc đẩy công
tác QSQP, an ninh ở địa phương trên địa bàn Quân khu phát triển. Tuy nhiên,
trước yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, trước sự phát triển mới của tình
hình, nhiệm vụ chính trị của địa phương, nhất là công tác QSQP địa phương,
việc bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 2 trên địa bàn Quân khu vẫn
còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, cần phải xem xét nghiên cứu và khắc phục
kịp thời. Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Chất lượng bồi dưỡng kiến thức quốc
phòng và an ninh cho đối tượng 2 ở Trường Quân sự Quân khu 9 hiện nay”
là vấn đề cơ bản có ý nghĩa cấp thiết về lý luận và thực tiễn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Giáo dục QP&AN nói chung và chất lượng bồi dưỡng kiến thức
QP&AN cho đội ngũ cán bộ là vấn đề được Đảng, Nhà nước ta quan tâm và
đã ban hành nhiều chỉ thị, quy định để chỉ đạo thống nhất và có hiệu quả.
Trong những năm gần đây, vấn đề này đã được nhiều tác giả nghiên cứu, đề
cập ở nhiều góc độ, phạm vi khác nhau, phù hợp với từng giai đoạn, điều

kiến thức quốc phòng cho cán bộ các cấp của Đảng, Nhà nước và đoàn thể,
Nxb CTQG, Hà Nội, 2001.
Trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về giáo dục, giáo dục quốc
phòng, các công trình đi sâu luận giải làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của đề
tài. Các công trình đã làm rõ một số khái niệm liên quan như: giáo dục, bồi
5


dưỡng kiến thức QP&AN đối với cán bộ công chức của Đảng, Nhà nước và
Đoàn thể; chỉ rõ vai trò, đặc điểm và những vấn đề có tính nguyên tắc đối với
công tác GDQP và tổ chức, phương pháp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng
cho cán bộ, công chức của Đảng, Nhà nước và đoàn thể; đánh giá thực trạng
và rút ra một số kinh nghiệm GDQP, tổ chức, phương pháp bồi dưỡng kiến
thức quốc phòng cho đội ngũ cán bộ. Từ đó, dự báo những nhân tố tác động,
xác định phương hướng, yêu cầu và những giải pháp chủ yếu nâng cao chất
lượng GDQP, tổ chức, phương pháp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho đội
ngũ cán bộ, công chức của Đảng, Nhà nước và đoàn thể.
Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự (2001), Công tác giáo dục
quốc phòng ở các trường trung học phổ thông thuộc tỉnh Hà Tây hiện nay, Đề
tài khoa học cấp Viện; Phạm Xuân Hảo (2002), Giáo dục quốc phòng cho
sinh viên đại học hiện nay, Chuyên đề khoa học cấp Viện Khoa học xã hội và
nhân văn quân sự.
Dưới góc độ tiếp cận khác nhau, các công trình khoa học nêu trên đã
phân tích, luận giải làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, đi
sâu làm rõ một số quan niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm và những vấn đề có tính
nguyên tắc trong giáo dục quốc phòng ở một số các nhà trường, địa bàn mà
đề tài nghiên cứu; trên cơ sở đó xác định phương hướng, yêu cầu và những
giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng trong giai đoạn
hiện nay. Các công trình khoa học trên là những tài liệu quan trọng, có giá trị

rút ra một số kinh nghiệm bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho đội ngũ cán bộ
này. Trên cơ sở dự báo những nhân tố tác động, các tác giả đã đề xuất những
giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho
cán bộ đầu ngành cấp tỉnh, thành phố và cán bộ chủ chốt cấp quận, huyện hiện
nay ở các địa bàn nêu trên, bảo đảm cho đội ngũ này có đủ phẩm chất, kiến
thức và năng lực quản lý nhà nước về QP&AN ở địa phương. Đây là những tài
liệu quan trọng, có giá trị cả về lý luận và thực tiễn để tác giả có thể nghiên
cứu, tham khảo, kế thừa, vận dụng vào quá trình thực hiện đề tài luận văn.
7


* Nhóm các bài báo, tạp chí, sách
Trong những năm gần đây có nhiều bài báo khoa học đã được công bố
đề cập đến vấn đề GDQP và bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho các đối tượng,
như: Hồ Quốc Toản, Bước phát triển trong công tác giáo dục quốc phòng của
Đảng và Nhà nước ta, Tạp chí QPTD, 8/2007; Ngô Xuân Thứ, Bồi dưỡng
kiến thức QP&AN cho chức sắc, chức việc tôn giáo ở Bắc Ninh - kết quả và
kinh nghiệm, Tạp chí QPTD, 9/2008; Hoàng Văn Thuận, Nâng cao chất
lượng bồi dưỡng kiến thức QP&AN ở Trường Quân sự thành phố Hồ Chí
Minh, Tạp chí QPTD, 3/2009; Nguyễn Xuân Hoè, Một số giải pháp nâng cao
chất lượng bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 2 ở Trường Quân sự
Quân khu 5, Tạp chí QPTD, 3/2010; Trần Đơn, Một số bài học 10 năm thực
hiện công tác giáo dục QP&AN ở Quân khu 7, Tạp chí QPTD, 5/2011; Phạm
Hồng Kỳ, Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục QP&AN cho học
sinh, sinh viên, Tạp chí QPTD, 4/2012; Nguyễn Tuấn Khanh, Trường Quân
sự Thành phố Cần Thơ thực hiện tốt công tác bồi dưỡng kiến thức QP&AN,
Tạp chí QPTD, 11/2012; Phạm Văn Bé Tư, Bồi dưỡng kiến thức QP, AN cho
chức sắc, chức việc các tôn giáo ở Vĩnh Long, Tạp chí QPTD, 5/2013; Tống
Thành Phong, Công tác Bồi dưỡng kiến thức QP, AN ở Trường Quân sự
Quân khu 9, Tạp chí QPTD, 8/2014.

lượng bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 2 ở Trường Quân sự
Quân khu 9 hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng: Chất lượng bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 2
ở TQSQK9 hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu hoạt động chất lượng bồi
dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 2 ở TQSQK9 với các tư liệu, số liệu
điều tra, khảo sát giới hạn chủ yếu từ năm 2012 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài là quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nền
QPTD, BVTQ XHCN; các chỉ thị, nghị quyết, quy định, hướng dẫn của

9


Đảng, Nhà nước, của Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham
mưu, Tổng cục Chính trị, của các bộ, ngành…về giáo dục QP&AN, về bồi
dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 2.
* Cơ sở thực tiễn
Cơ sở thực tiễn của đề tài là hiện thực hoạt động bồi dưỡng kiến thức
QP&AN cho đối tượng 2 ở TQSQK9; các tài liệu, báo cáo sơ kết, tổng kết về
công tác QSQP địa phương, về công tác giáo dục QP&AN cho các đối tượng,
trong đó có đối tượng 2 trên địa bàn QK9; các tư liệu, số liệu và kết quả điều
tra khảo sát thực tế bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 2 trên địa bàn
QK9 trong thời gian qua.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử dụng
tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và liên

lược, được thành lập ngày 10 tháng 11 năm 1945 tại bãi Khai Long, xã Đất
Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Ra đời trong lòng chiến trường miền
Tây Nam Bộ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Khu ủy, Đảng ủy - Bộ
Tư lệnh Quân khu 9; được sự đùm bọc, giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền,
đoàn thể nhân dân đồng bằng sông Cửu Long, Nhà trường từng bước xây
dựng, huấn luyện, chiến đấu và trưởng thành, lập nên nhiều thành tích đặc
biệt xuất sắc trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc.
Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu trưởng thành, Nhà trường đã đào
tạo, bổ túc, tập huấn trên 115.737 học viên, đáp ứng yêu cầu bổ sung cán bộ,
nhân viên cho lực lượng vũ trang Quân khu 9 và Quân đội qua các thời kỳ.
Nhiều đồng chí đã trưởng thành cán bộ cấp cao của Đảng, sĩ quan cao cấp
trong Quân đội. Hàng ngàn cán bộ, giáo viên, học viên đã trực tiếp chiến đấu
trên chiến trường miền Tây Nam Bộ, chiến trường Campuchia, gắn Nhà trường

11


với chiến trường, với đơn vị; góp công sức, xương máu cho thắng lợi của cách
mạng Việt Nam. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, Nhà trường đã được
phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân trong thời kỳ đổi mới
(02/7/2002), Anh hùng LLVT nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước (27/4/2012); 02 cá nhân được tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân
trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiều phần thưởng cao quý khác.
Tổ chức biên chế của Nhà trường hiện nay: Ban Giám hiệu và 15 đơn vị
trực thuộc, bao gồm: 04 Phòng, 05 Khoa giáo viên, 05 Tiểu đoàn quản lý học
viên, 01 Trung tâm Giáo dục quốc phòng, an ninh. Tương ứng với hệ thống tổ
chức hành chính quân sự, hệ thống tổ chức đảng ở Đảng bộ Nhà trường được
xác lập theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam và Quy định của Bộ Chính trị về
“Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân”. Do đặc điểm tổ chức, hoạt động và số
lượng đảng viên ở các phòng, khoa giáo viên, tiểu đoàn quản lý học viên không

cấp tỉnh không giữ các chức vụ nêu trên bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh tại trường quân sự quân khu. Thường trực Tỉnh ủy, Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh, người đứng đầu cơ quan Trung ương có trụ sở trên địa bàn
quân khu quyết định triệu tập cán bộ thuộc quyền theo chỉ tiêu của quân
khu. Căn cứ số lượng cán bộ thuộc đối tượng 2, Tư lệnh quân khu quyết
định kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng kiến thức QP, AN tại Trường Quân sự
quân khu và Trường quân sự cấp tỉnh ”.
Đặc điểm học viên bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh đối tượng
2 ở Trường Quân sự Quân khu 9
Trước hết, học viên bồi dưỡng kiến thức QP&AN đối tượng 2 ở
TQSQK9 là đội ngũ cán bộ chủ trì, chủ chốt, là nòng cốt, trực tiếp tham mưu
và tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
cũng như thực hiện công tác QSQP ở cơ quan, địa phương cấp huyện và
tương đương.
Đây là những cán bộ chủ trì, chủ chốt của Đảng trong hệ thống chính trị
ở cấp huyện và tương đương trên địa bàn Quân khu, phụ trách một địa
phương, một lĩnh vực; là đội ngũ cán bộ nắm giữ chức vụ, quyền hạn, lãnh
đạo, quản lý quan trọng nhất trong tổ chức Đảng, chính quyền cấp huyện và
sở, ban, ngành, đoàn thể, doanh nghiệp và LLVT cấp tỉnh của các địa phương

13


và của trung ương đóng trên địa bàn Quân khu.
Chất lượng, hiệu quả công tác tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ
của lực lượng cán bộ chủ trì, chủ chốt này ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng, hiệu quả thực hiện công tác QP&AN ở địa phương, nhất là công tác
xây dựng khu vực phòng thủ, kết hợp kinh tế với QP&AN, QP&AN với kinh
tế và đối ngoại; xây dựng thế trận QPTD, thế trận CTND địa phương; xây
dựng LLVT địa phương, chuẩn bị nhân tài, vật lực cho chiến tranh ngay từ
thời bình... của từng cơ quan, địa phương hiện nay.

nông thôn, miền núi, hải đảo, biên giới …); đa dạng về trình độ học vấn, trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, tuổi đời, nguồn quy hoạch cán bộ…
Đặc biệt trong giai đoạn gần đây số lượng học viên là cán bộ trẻ, cán bộ nữ
tăng nhanh, đây là thuận lợi vì những cán bộ này được đào tạo cơ bản, có trình
độ cao (đa phần có trình độ thạc sỹ trở lên), kiến thức toàn diện, năng nổ nhiệt
tình, ham học hỏi. Tuy nhiên lực lượng này lại ít kinh nghiệm trong thực tiễn,
đặc biệt là kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực QP&AN.
Ba là, học viên bồi dưỡng kiến thức QP&AN đối tượng 2 ở Trường
Quân sự Quân khu 9 có trình độ, phẩm chất, năng lực cao nhưng đa phần hạn
chế về kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng.
Phần đông học viên bồi dưỡng kiến thức QP&AN đối tượng 2 ở
TQSQK9 có sức khỏe tốt, đúng độ tuổi qui hoạch, trình độ học vấn, chuyên
môn nghiệp vụ, lý luận cao, có kinh nghiệm thực tiễn phong phú, chuyên sâu
trên từng lĩnh vực mình phụ trách; có bản lĩnh và tư duy đổi mới, năng động,
sáng tạo, có kiến thức khoa học, kinh tế, văn hóa, xã hội, luật pháp và công
tác vận động quần chúng, thích ứng nhanh, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ;
một số đồng chí đã trãi qua chiến đấu, hoạt động thực tiễn phong phú trong
quân đội và công an, cho nên thuận lợi trong tiếp thu kiến thức QP&AN và
sẵn sàng chia sẽ kiến thức, kinh nghiệm cho mọi người.
Tuy nhiên đa phần học viên là những cán bộ trưởng thành trong điều kiện
thời bình, cán bộ trẻ, cán bộ trưởng thành từ thực tiễn công tác của địa phương,
15


chủ yếu học tập, nghiên cứu trên các lĩnh vực quản lý kinh tế, xã hội và các
lĩnh vực chuyên môn khác, ít có điều kiện nghiên cứu, tiếp xúc về lĩnh vực
QPTD, QSQP…do đó, nhận thức, kiến thức về lĩnh vực QSQP cũng như năng
lực, kinh nghiệm trong tham mưu và tham gia tổ chức thực hiện nhiệm vụ
quân sự, quốc phòng của tổ chức, cơ quan và cá nhân còn nhiều hạn chế. Đối
tượng này cũng gặp khá nhiều khó khăn khi được tổ chức học tập, bồi dưỡng

cường giáo dục quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ chung của Đảng, Nhà
nước và toàn xã hội, phải được chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ, thống
nhất từ trung ương đến địa phương” và: “Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng,
an ninh là tiêu chuẩn bắt buộc đối với cán bộ, đảng viên, là một trong những
tiêu chí để xem xét, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ”.
Bồi dưỡng, theo Từ điển tiếng Việt là “làm cho khỏe thêm, mạnh thêm,
làm cho tốt hơn, giỏi hơn”, còn theo từ điển Hán - Việt là “sự vun trồng, nuôi
dưỡng”. Trong công tác cán bộ, bồi dưỡng còn được hiểu theo nghĩa là hoạt
động trang bị, bổ túc thêm tri thức, kinh nghiệm, xây dựng những phẩm chất
nhân cách để người cán bộ được đáp ứng tốt hơn các yêu cầu hoạt động trong
mọi lĩnh vực xã hội.
Bồi dưỡng khác với giáo dục, giáo dục là hoạt động có mục đích, có ý thức,
diễn ra trong một không gian, thời gian cụ thể nhằm truyền thụ tri thức, kinh
nghiệm đến với một đối tượng cụ thể, làm cho đối tượng có phẩm chất, năng lực
theo mục tiêu, yêu cầu đặt ra. Bồi dưỡng là trên cơ sở kiến thức đã có, bổ sung
thêm kiến thức nhằm bảo đảm hệ thống, thống nhất và cập nhật những nội dung
mới, làm cho đối tượng hoàn thành tốt nhiệm vụ, chức trách được giao.
Quốc phòng, theo Khoản 1, Điều 3, Luật Quốc phòng qui định: “Quốc
phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong
đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt”
An ninh, có hai cách tiếp cận, nghĩa rộng và nghĩa hẹp. An ninh hiểu
theo nghĩa hẹp là an ninh trật tự, bao gồm những gì có liên quan đến trật tự an
toàn xã hội. Còn an ninh hiểu theo nghĩa rộng là an ninh chính trị, an ninh
17


quốc gia. Khoản 1, Điều 3, Luật An ninh Quốc gia qui định: “An ninh quốc
gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”.

phương tiện cho quá trình này. Như vậy, thực chất quá trình bồi dưỡng kiến
thức QP&AN cho đối tượng 2 là quá trình truyền thụ và lĩnh hội tri thức,
một bộ phận của hoạt động sư phạm nói chung, chức năng của nó là trang bị
kiến thức QP&AN.
Nội hàm bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 2 ở TQSQK9 đã
chỉ rõ mục đích, chủ thể, đối tượng, lực lượng tham gia hoạt động bồi dưỡng:
Mục đích bồi dưỡng: nhằm trang bị, bổ sung, phát triển, hoàn thiện tri
thức, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm về QP&AN cho đối tượng 2, đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ QP&AN xây dựng, bảo vệ địa phương và góp phần xây
dựng, BVTQ trong tình hình mới.
Chủ thể bồi dưỡng: Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu, Đảng ủy, Ban
Giám hiệu Nhà trường, các cơ quan, đơn vị, đội ngũ giáo viên. Trong đó
Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường Quân sự Quân khu trực tiếp lãnh đạo, chỉ
đạo, quản lý điều hành; các cơ quan chuyên môn các cấp làm tham mưu, triển
khai tổ chức thực hiện và làm công tác bảo đảm mọi mặt, hiệp đồng phối hợp
hoạt động; đội ngũ giáo viên trực tiếp làm công tác giảng dạy bồi dưỡng kiến
thức quốc phòng và an ninh.
Đối tượng bồi dưỡng: hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường đại
học, cao đẳng và các chức danh tương đương có trụ sở trên địa bàn quân
khu. Bí thư, Phó Bí thư, Thường vụ Huyện ủy, Quận ủy, Thị ủy, Thành
ủy thành phố thuộc tỉnh; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân huyện, quận (sau đây gọi là cấp huyện). Người đứng đầu
và cấp phó của người đứng đầu các Sở, Ban, ngành và chức danh tương
đương ở cấp tỉnh. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh không giữ các
chức vụ nêu trên.
Lực lượng tham gia: các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ cán
bộ, đảng viên của địa phương. Trong đó, lực lượng tham gia trực tiếp là Hội
19





trang bị vào giải quyết các công việc theo chức trách, vừa gây nên những khó
khăn, hạn chế đến chất lượng bồi dưỡng kiến thức QP&AN, do họ chi phối
bởi nhiều công việc khác nhau.
Ba là, số lượng khóa bồi dưỡng và số lượng học viên từng khóa trong
các năm không đồng đều (có năm tổ chức được 8 khóa bồi dưỡng, có năm chỉ
03 khóa) mặc dù nhu cầu bồi dưỡng và số lượng cán bộ đối tượng 2 trên địa
bàn rất cao và khả năng đảm bảo của Trường Quân sự Quân khu có thể tổ
chức mỗi năm từ 08 đến 10 khóa. Đặc điểm này là do tính đặc thù của đối
tượng 2 và đặc thù hoạt động kinh tế - xã hội mọi mặt của các địa phương trên
địa bàn Quân khu quy định, nhất là trong những giai đoạn như năm cuối và
năm đầu của nhiệm kỳ đại hội Đảng các cấp, giai đoạn đầu và cuối năm ...
Những đặc điểm cơ bản trên đây tác động ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng, hiệu quả bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 2 ở TQSQK9,
đòi hỏi các chủ thể bồi dưỡng cần nắm vững để xác định nội dung, biện pháp
bồi dưỡng cho phù hợp, nhằm làm cho hoạt này đạt kết quả cao.
Vai trò của bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh:
Một là, bồi dưỡng kiến thức QP&AN trực tiếp trang bị, bổ sung những tri
thức cần thiết về QSQP cho đối tượng 2 để họ có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu
thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ QSQP của địa phương trong tình hình hiện
nay.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của người cán bộ muốn
đạt hiệu quả cao phải được tiến hành dựa trên cơ sở những tri thức khoa học.
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của địa phương, đặc biệt là nhiệm vụ QPQS,
lĩnh vực có sự biến đổi nhanh chống và đòi hỏi rất cao, cán bộ đối tượng 2
phải được trang bị những tri thức cần thiết, đồng thời, những tri thức đó phải
luôn được cập nhật, bổ sung phù hợp với sự vận động biến đổi của thực tiễn.
Từ trước đến nay, Đảng ta xác định: xây dựng và BVTQ là hai nhiệm vụ
chiến lược của cách mạng Việt Nam. Cả lý luận, thực tiễn đều cho thấy sự cần

lượng, hiệu quả thấp.
Ba là, bồi dưỡng kiến thức QP&AN trực tiếp góp phần nâng cao năng
lực tiến hành công tác QSQP địa phương cho đội ngũ cán bộ đối tượng 2.
Thông qua hoạt động bồi dưỡng kiến thức QP&AN, đối tượng 2 được
22


trang bị, bổ sung không chỉ những kiến thức QSQP mà còn kinh nghiệm,
phương pháp và kỹ năng tiến hành công tác QSQP địa phương cần thiết. Có
những hiểu biết, kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết về QSQP thì người cán bộ
mới có đủ khả năng quản lý, lãnh đạo, chỉ đạo công tác QSQP ở địa phương,
ngành mình phụ trách, tham mưu đề xuất với cấp ủy địa phương những chủ
trương, kế hoạch, nội dung, biệp pháp lãnh đạo công tác QSQP địa phương,
kế hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng, an ninh với kinh tế một
cách đúng đắn và hiệu quả; mới có khả năng đề xuất những hình thức,
phương pháp phù hợp; huy động tốt nhất các lực lượng, công cụ, phương tiện,
cơ sở vật chất phục vụ cho công tác QP&AN đạt hiệu quả cao.
Chương trình, nội dung bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho
đối tượng 2 ở Trường Quân sự Quân khu 9
Căn cứ vào Thông tư số 38/2014/TT-BQP về Ban hành chương trình, nội
dung; chương trình khung bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh, nội
dung bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 2 khối lượng kiến thức 120
tiết; cấu trúc chương trình gồm các chuyên đề: Đường lối, quan điểm của Đảng
Cộng sản, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về QP&AN; Đường
lối, quan điểm của Đảng Cộng sản, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt
Nam về phát triển KT - XH gắn với tăng cường, củng cố QP&AN và hoạt động
đối ngoại trong tình hình mới; Chiến lược QP&AN một số nước có liên quan
đến QP&AN của Việt Nam; Đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản,
chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về xây dựng nền QPTD, thế
trận QPTD gắn với thế trận ANND trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ

tập. Tùy tình hình cụ thể, Quân khu có thể mở lớp tại các trường quân sự
tỉnh hoặc phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương mở lớp. Căn cứ đối tượng
từng khóa và chương trình của Bộ, Quân khu xác định nội dung, thời gian
phù hợp, lớp trưởng, lớp phó, tổ trưởng, tổ phó do Quân khu chỉ định trong
số học viên dự học.
Hình thức, phương pháp, phương tiện bồi dưỡng: tập trung giảng những
chuyên đề chính; giới thiệu nghiên cứu các chuyên đề quan trọng; lên lớp tập
trung tại giảng đường bằng phương pháp trình chiếu, hướng dẫn nghiên cứu

24


các nội dung bổ trợ, thảo luận từng cụm kiến thức theo từng tổ học tập có
giáo viên điều khiển; hội thảo toàn lớp các vấn đề then chốt do Ban Giám
hiệu chủ trì, nghiên cứu thực tế tại địa phương, đơn vị và nghiên cứu các nội
dung bổ trợ qua băng hình; viết thu hoạch cuối khóa học.
1.1.2. Những vấn đề cơ bản về chất lượng bồi dưỡng kiến thức quốc
phòng và an ninh cho đối tượng 2 ở Trường Quân sự quân Quân khu 9
* Quan niệm về chất lượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh
cho đối tượng 2 ở Trường Quân sự Quân khu 9
Chất lượng: theo Đại từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Văn hóa thông
tin, năm 1998: “Chất lượng: 1. Cái làm nên phẩm chất giá trị của con
người, sự vật; 2. Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự
vật kia” [55, tr 331]. Tuy nhiên, do cấu trúc, chức năng, tính chất đặc thù mà
có quan niệm cụ thể về chất lượng của sự vật, hiện tượng, quá trình. Chẳng
hạn chất lượng của một sản phẩm hàng hoá có thể sử dụng các thiết bị kỹ
thuật hiện đại để đo đếm dựa trên các thông số, chỉ tiêu kỹ thuật và kiểm
định trong quá trình sử dụng. Nhưng đối với các hoạt động của con người và
tổ chức xã hội, mà kết quả hoạt động chịu sự tác động của các yếu tố khách
quan và chủ quan thì khó có thể dùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status