SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM một số kinh nghiệm làm tốt công tác chủ nhiệm lớp 4 - Pdf 40

SÁNG KIẾ N KINH NGHIỆ M

ĐỀ TÀI:
“MỘT SÔ KINH NGHIỆ M LÀM TỐT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆ M
LỚP 4”


MỤC LỤC NỘI DUNG
Phần A: Đặt vấn đề
Phần B: Nội dung nghiên cứu
I.

Mục đích nghiên cứu

II. Đối tượng phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
III.

Nội dung và biện pháp thực hiện.

1.

Điều tra phân loại chất lượng đầu năm.

2.

Những ứng dụng trong thực tế.

3.

Các giải pháp cụ thể.


Đề xuất kiến nghị,


PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm học 2009 - 2010 được xác định là "Năm học đổi mới quản lí và nâng cao chất lượng
giáo dục", giáo dục tiểu học tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau:
Tiếp tục triển khai các cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh”, "Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục", "Mỗi
thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" và phong trào thi đua
"Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" ở tất cả các trường tiểu học trong
phạm vi toàn quốc.
Tập trung chỉ đạo việc quản lý, tổ chức dạy học và đánh giá kết quả học tập của học sinh
theo chuẩn kiến thức, kĩ năng; tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, bước đầu thực hiện
tích hợp trong dạy học các môn học; đổi mới đánh giá, xếp loại học sinh; chú trọng giáo
dục đạo đức, kĩ năng sống cho học sinh; tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu
số; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lí; tiếp tục tổ chức
đánh giá sự phù hợp của chương trình, sách giáo khoa cấp Tiểu học.
Với chủ điểm trên tôi nhận thấy : Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm
đến sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo; Bác Hồ có dạy giáo dục là sự nghiệp “trồng
người”.Giáo dục - Đào tạo luôn góp phần gánh trọng trách đào tạo con người mới Xã Hội
Chủ Nghĩa “Vừa hồng, vừa chuyên”.
Năm nay là năm thứ ba ngành giáo dục thực hiện “ Hai không ” và cụ thể với “4 nội
dung”. Tất cả những hoạt động có chủ trương đó không ngoài việc nhằm đáp ứng mục
tiêu giáo dục, đào tạo thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước có “đủ đức đủ tài”, cho
nước nhà “sánh vai với các cường quốc Năm Châu”.
Bản thân tôi nghĩ: Muốn học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực hiện
theo lời dạy của Bác trong sự nghiệp giáo dục này thì học sinh phải tích cực chủ động,
gia đình và xã hội phải quan tâm đúng mực, người giáo viên (đặc biệt là giáo viên chủ
nhiệm lớp) phải chủ đạo phối kết hợp thúc đẩy các hoạt động tích cực trong các mối quan
hệ giáo dục này.


Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 4

2.

Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 4a2

3.

Thời gian nghiên cứu: Từ 01/9/2009 đến 31/5/2010

4.

Phương pháp nghiên cứu:

- Điều tra thực tế học sinh đúc rút kinh nghiệm qua giảng dạy và giáo dục.
- Tìm hiểu những thông tin lý luận của vai trò người giáo viên chủ nhiệm lớp trong công
tác giáo dục học sinh trên các tập san giáo dục.
- Học tập kinh nghiệm từ đồng nghiệp.
- Lập kế hoạch theo chủ đề năm học, tháng tuần, theo từng chủ điểm của tháng.
- Phương pháp quan sát:
+ Quan sát hoạt động học và sinh hoạt tập thể của học sinh.
+ Phương pháp điều tra : Trò chuyện trao đổi với GV chủ nhiệm cũ, học sinh , hội cha mẹ
học sinh.
II.NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.


1. Điều tra phân loại chất lượng đầu năm.
Đầu năm học 2009 – 2010, được phân công chủ nhiệm lớp 4a2, trường Tiểu học Bế Văn
Đàn. Hiện nay, lớp tôi chủ nhiệm có 33 học sinh, hầu hết các em đều ở Thành Phố Điện


26

78,8% 7

TL

21,2% 25

TL

75,8% 8

TL
24,2%

- 21,2 % học sinh yếu toán ở đây là những em chưa thạo phép nhân và phép chia.
- 24,2 % học sinh yếu Tiếng Việt ở đây đa số là do các em sai chính tả, mà trong đó nhiều
em viết chữ chưa đạt yêu cầu về chữ viết.
Đó là chất lượng trên bài kiểm tra,còn giờ học trên lớp, phần đông các em học thiếu tích
cực, tôi dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm rất khó khăn và chưa mang lại
hiệu quả thiết thực. Cả lớp chưa có học sinh vở sạch chữ đẹp.
Qua tìm hiểu tình hình học sinh trên đường đi học, tôi phát hiện có một số em la cà trên
đường đến trường (tụ tập chơi ở nhà bạn, hoặc chơi trò chơi điện tử ở những điểm dịch
vụ ).
Nếu không có giải pháp tích cực để kịp thời điều chỉnh thực trạng trên thì trong lúc học
sẽ có một số em ngồi bên lề tiết học, các em tiếp tục hụt hẫng kiến thức. Và rồi tương lai
không xa là các em sẽ nghỉ học.
Muốn điều chỉnh hệ quả phải biết được nguyên nhân. Tôi đã tìm hiểu và phân tích thực
trạng trên là do những nguyên nhân chủ quan và khách quan sau:



tập và có quyết tâm học tập tiến bộ - Mục tiêu lớn hơn là các em tiến bộ thực sự về năm
mặt giáo dục mà mục tiêu giáo dục của ngành đã đề ra và hoàn thành chương trình bậc
tiểu học theo chuẩn kiến thức và kỹ năng yêu cầu.
Bản thân tôi đã đặt vấn đề và cũng lấy đó để làm căn cứ xây dựng những giải pháp trong
việc thực hiện chuyên đề công tác chủ nhiệm của mình.
III.Các giải pháp cụ thể :
Qua kinh nghiệm nhiều năm làm công tác chủ nhiệm lớp 4, và trước tình hình thực tế của
lớp, bản thân tôi đã chắt lọc và thực thi những giải pháp sau:
1. Tố chất để làm nên một giáo viên chủ nhiệm lớp tốt.
Vì GVCN là cán bộ quản lý lớp cho nên người dạy giỏi và người chủ nhiệm giỏi
không nhất thiết là một. Có đồng thuận, có lệch pha trong thực tế là bình thường. Tố chất
quan trọng của GVCN là tố chất của một con người hành động. Cũng như hiệu trưởng,
chủ nhiệm lớp phải nghiêm túc và cần một bộ óc kế hoạch hoá. Đối tượng quản lý trường
học, lớp học là con người phải giáo hoá do đó không thể có một chương trình cài đặt sẵn.
Phải lao vào làm. Thấy đúng thì tổng kết và áp dụng tiếp, thấy sai phải điều chỉnh kế
hoạch kịp thời hoặc huỷ bỏ theo quy trình: xây dựng kế hoạch - thực hiện kế hoạch kiểm tra kế hoạch - tổng kết và vạch kế hoạch mới. Rất cần ở chủ nhiệm lớp các phẩm
chất nhiệt tình, sâu sát, cần cù trí nhớ tốt, quan sát tinh, tâm lí giỏi, có khả năng xây dựng
đội ngũ cán bộ HS. GVCN phải vừa là thầy, vừa là bạn của học trò.
2. Giáo viên chủ nhiệm lớp là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.
Trong lớp học, GVCN là người để các em noi theo. Cách hành động, suy nghĩ, cư
xử của GV sẽ ảnh hưởng rất nhiều về quan niệm của học sinh và phụ huynh về GV. Bản
thân tôi vừa là GVCN. Vì vậy, khi đến trường hoặc lên lớp, tôi đều có những tác phong
làm gương cho học sinh,những khó khăn trong đời sống, những khó khăn ở trường... giúp
các em giải quyết những khó khăn này. Trong lớp học hay ngoài lớp học, thầy cô còn
phải đóng vai người anh, người chị mà các em có thể tin tưởng, nhờ cậy được. Qua đó
các em sẽ biết sống nhẫn nại, kiên trì và giàu lòng nhân ái.
3. Rèn nền nếp:
- Đây là công tác đóng vai trò quan trọng, có thể quyết định đến học tập và mọi

được kẹo thì phải cố gắng phấn đấu...


- Để làm tốt được những việc trên không thể ngày một ngày hai mà các em có thể
thực hiện được tốt, do vậy tôi luôn phải nhắc nhở đến khi các em quen dần, đặc biệt trong
một, hai tháng đầu Giáo viên phải chỉ dẫn tỉ mỉ cho học sinh từng tí một để các em có cái
chuẩn để thực hiện theo.
4, Học tập
- Ngay từ đầu năm học, tôi điều tra học lực của các em, phân loại học sinh để có
biện pháp giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng, luôn ưu tiên đến các học sinh yếu
trong lớp, giành cho các em này những câu hỏi đơn giản để các em cảm thấy tự tin khi
phát biểu ý kiến.
- Tôi cũng luôn tạo ra trong lớp một không khí thi đua học tập tốt, sôi nổi trong
mọi tiết dạy.
- Duy trì thi đua cho những HS hăng hái, thưởng điểm cho những HS trả lời đúng
và cho tổ có nhiều em phát biểu ý kiến, nhiều khi là một tràng pháo tay tuyên dương cho
những em trả lời đúng sẽ khích lệ các em rất nhiều.
- Khi xếp chỗ ngồi, tôi luôn chú ý xếp xen kẽ HS kém với HS khá, giỏi để các em
tự giúp đỡ nhau trong học tập, cuối tuần luôn có bình bầu đôi bạn nào tiến bộ nhất trong
tuần đó.
- Ngay trong đầu năm học phải cho các em hiểu các ký hiệu về học tập và được
thống nhất khi ở trong lớp như cách giơ tay, lấy đồ dùng học tập phải được sắp xếp như
thế nào, cách đứng trả lời ... từ đó rèn cho HS tác phong nhanh nhẹn trong mọi hoạt động.
- Duy trì nền nếp truy trao bài đầu giờ và kiểm tra bài của nhau trong các tiết dạy
giúp GV tiết kiệm được thời gian và hướng các em vào mục tiêu tự đánh giá kết quả của
mình.
- Luôn có kế hoạch kèm cặp các em yếu kém.trong lớp chủ động gọi các em nhút
nhát để các em tự tin và bạo dạn hơn.
5. Những kỹ năng cần đạt:
Trong công tác chủ nhiệm, đầu năm, việc đầu tiên mà tôi cần biết là nắm tình hình và

đến bảng nhân 3; em Nguyễn Quang Trung yếu Tiếng Việt cụ thể là sai chính tả âm “ch”


âm “tr” và đấu huyền, dấu sắc; em Nguyễn Văn Lam đọc rất yếu nên không hiểu nổi một
đề toán có lời văn.
b. Thu thập thông tin về sinh hoạt ,giao tiếp của học sinh:
Bản thân đã tìm hiểu qua bạn học chung lớp, tìm hiểu trong cuộc họp phụ huynh, phụ
huynh gần nhà, nắm được nếp sinh hoạt hằng ngày ở gia đình và trên đường đi học của
những em học sinh cần lưu tâm.
Qua đó tôi biết được những em ngoài giờ học ở trường, khi về nhà là các em thường
xuyên đi chơi; hoặc những em thường xuyên la cà trên đường đi học từ đó dẫn đến xao
lãng việc học ở nhà và khi đến trường học tập thụ động nên kết quả học tập rèn luyện
không cao.
Có thể chỉ ra một vài em như: em Vũ Điện Biên đi học, trên đường về em thường vào
chơi game video; hay như em Nguyễn Minh Hiếu la cà dọc đường bắn bi với các bạn
khác trên đường về nhà…..Đặc biệt những em la cà chơi dọc đường này hầu hết là có cha
mẹ bán rau ở chợ nên đa số phụ huynh chưa quan tâm đến việc học tập của con em mình.
Đã chuẩn bị tốt bằng các hoạt động nắm thông tin về kiến thức, kỹ năng, hành vi đạo đức
của từng em, trên cơ sở đó tôi tiến hành giải pháp kế tiếp.
6. Giáo dục thông qua tập thể và đôi bạn cùng tiến.
Với tâm lí học sinh tiểu học tập thể là vô cùng quan trọng, chúng ta thấy đấy em
học sinh nào mà bị cô lập chỉ chơi một mình là một điều tủi hổ nên giáo viên cần phát
huy tối đa sức mạnh của tập thể lớp.
Tôi xin được nêu một ví dụ về một học sinh ở lớp: Em Yến luôn đi học trễ và ăn mặc
không đúng đồng phục quy định. Có một hôm thứ 2 em Yến ăn mặc tươm tất và dự
chào cờ đầu tuần cùng toàn trường vào lớp tôi khen ngợi sự tiến bộ của Yến và đề nghị cả
lớp biểu dương bằng một tràng pháo tay, em Yến hơi ngượng nhưng trong lòng tràn ngập
niềm vui vì được cô giáo và các bạn tin tưởng đó cũng là niềm cổ vũ lớn cho Yến có
được sự tự tin, tự điều chỉnh hành vi của mình.
Mặt khác tôi còn quan tâm đến xây dựng đôi bạn (ngồi cùng bàn) cùng tiến: Học tốt

Trong lần trao đổi đó tôi thông báo cụ thể con em họ còn khiếm khuyết kiến thức kỹ năng
cơ bản nào, cần phải vun đắp cái gì và mức độ quan tâm ra sao ở tại gia đình. Đồng thời
tôi đề nghị phụ huynh đưa các học sinh yếu học phụ đạo một buổi thứ sáu trong tuần –


vào những tuần không sinh hoạt tổ khối (Lịch học này tôi có xin và thông qua Ban Giám
Hiệu trường).
Có thể nêu ra một vài trường hợp tiêu biểu như: Tôi đưa cho phụ huynh của em Nguyễn
Văn Hồng xem bài viết chính tả của em để gia đình nhận ra chữ em quá yếu và chính tả
em còn sai nhiều lắm; và cũng tương tự như vậy với trường hợp của các em Hoàng,
Hồng, Lam.… yếu về môn Tiếng Việt. Sau đó, tôi đề nghị phụ huynh sắp xếp cho các em
đi học phụ đạo bằng lịch học cụ thể và đề nghị phụ huynh quản lí giờ giấc của các em.
3. Tổ chức học phụ đạo đúng đối tượng ở trường :
Theo chân lí của giáo dục là người dạy phải biết mình “dạy ai” và khi dạy phải xác định
mình “dạy cái gì” thì khi phụ đạo học sinh yếu tôi xác định quan điểm đó rất cần được
vận dụng - Nếu phụ đạo cho các em mà phụ đạo chung chung trên nền kiến thức cơ bản
là không đạt hiệu quả. Vì mỗi em có mức độ yếu khác nhau – về từng môn và ngay trong
mỗi phân môn. Có bù đắp đúng mạch kiến thức mà em khiếm khuyết thì mới mong hình
thành kĩ năng cơ bản cần đạt theo chương trình lớp học, bậc học .
Vì vậy khi vào học tôi chia các em ra thành từng nhóm nhỏ phù hợp với từng nội dung
cần vun đắp cho các em và tổ chức dạy như dạy một lớp ghép.
Trong cùng một buổi phụ đạo tôi đã chia thành ba nhóm :
-

Hoàng, Yến, Gia Long là nhóm yếu về toán phân số và toán chia.

- Tiến, Lam, Trung là nhóm cần phụ đạo về chính tả và rèn chữ viết.
- Hồng, Yến, Hoàng, Trung, là nhóm rất yếu về đọc viết và tính toán cơ bản về cộng
trừ, nhân chia.
Phần D. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

* Xếp loại đạo đức:

Thực hiện đầy đủ

Đầu năm

Cuối học kì I

30 em đạt : 90,9 %

33 em đạt 100 %


Thực hiện chưa đầy đủ

3 em đạt:

9, 1 %

* Ở cuối học kì I, kết quả học tập của lớp có tiến bộ rõ rệt. Kết quả thi kiểm tra cuối
học kì I như sau:
THỐNG KÊ ĐIỂM KIỂM TRA CUỐI HỌC KỲ I MÔN TOÁN VÀ TIẾNG VIỆT
TSHS Môn

33
em

Giỏi

Khá


5

15,2
%

0

0

T.Việt 17

51,5
%

11

33,3
%

5

15,2
%

0

0

Toán

TL

20

60,6
%

9

27,2
%

4

12,2
%

0

0

T.Việt 22

66,6
%

11

33,3
%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status