Giải pháp tăng cường liên kết trong tiêu thụ rau an toàn của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm hà nội - Pdf 41

MỤC LỤC
Lời cam đoan

1

Lời cảm ơn

iii

Danh mục các chữ viết tắt

vi

Danh mục bảng

vii

Danh mục hình

ix

PHẦN I MỞ ĐẦU

1

1.1

Tính cấp thiết của đề tài

1


4

2.1

4

Cơ sở lý luận về liên kết trong tiêu thụ RAT

2.1.1 Khái niệm về liên kết trong tiêu thụ RAT

4

2.1.2 Lý luận về liên kết và liên kết kinh tế

6

2.1.3 Các hoạt động nhằm tăng cường liên kết trong tiêu thụ RAT của
hộ nông dân

17

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong tiêu thụ RAT
2.2

20

Cơ sở thực tiễn về liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông
sản trên thế giới và Việt Nam

24


3.2

40

Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

40

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

41

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

43

3.2.4 Phương pháp phân tích

43

3.3

44

Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.3

Các yếu tố ảnh hưởng tới liên kết trong tiêu thụ RAT

84
95

4.3.1 Các yếu tố chủ quan

96

4.3.2 Các yếu tố khách quan

99

4.4

Định hướng và giải pháp nhằm tăng cường liên kết trong tiêu thụ
RAT trên địa bàn Huyện

104

4.4.1 Định hướng

104

4.4.2 Giải pháp chủ yếu

106


118

PHỤ LỤC

119
v


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATVSTP
BQ
BVTV
CC
CNCB
CNH-HĐH
DN
ĐVT
GT
GTSX

HĐND
HTX
KHKT

LK
LKKT
NN
NN&PTNT
RAT
SL


vi


DANH MỤC BẢNG
Số bảng

Tên bảng

Trang

3.1

Tình hình phân bố và sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm qua 3 năm

34

3.2

Tình hình biến động dân số và lao động của huyện Gia Lâm qua 3 năm

36

3.3

Tình hình phát triển kinh tế ở huyện Gia Lâm qua 3 năm

38

4.1


Giá một số loại rau của huyện Gia Lâm bán trên thị trường Hà Nội

54

4.7

Thông tin chung của các hộ nông dân ở các xã Văn Đức, Đặng Xá,
Đông Dư

55

4.8

Đặc điểm cơ bản của các hộ thu gom RAT

57

4.9

Đặc điểm cơ bản của các DN chế biến RAT

58

4.10

Thông tin chung về cửa hàng, siêu thị bán lẻ RAT

59


4.16

Liên kết của hộ với DN chế biến trong tiêu thụ RAT

69

4.17

Ý kiến đánh giá của hộ về liên kết với DN chế biến

70

4.18

Ý kiến của DN chế biến khi liên kết tiêu thụ RAT với hộ nông dân

71

4.19

Liên kết của hộ với cửa hàng bán lẻ trong tiêu thụ RAT

73

4.20

Ý kiến đánh giá của hộ về liên kết với cửa hàng bán RAT

74



79

4.26

Ý kiến của nông dân về lợi ích của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ

81

4.27

Khó khăn của nông dân trong liên kết sản xuất và tiêu thụ RAT

83

4.28

Lý do hộ nông dân không ký kết hợp đồng tiêu thụ RAT

84

4.29

Kết quả sản xuất RAT giữa các hộ LK và chưa LK của các hộ điều tra

85

4.30

So sánh lợi ích kinh tế giữa hộ LK và hộ chưa LK trong liên kết

92

95

Tiêu chí quan trọng nhất để lựa chọn siêu thị, cửa hàng/quầy
hàng bán RAT

98

4.36

Mức giá sẵn sàng chi trả cao hơn cho sản phẩm RAT so với rau thường

100

4.37

Thông tin về thu nhập bình quân hàng tháng của các hộ

101

4.38

Loại rau mà gia đình hay ăn nhất.

102

4.39

Tiêu chí quan trọng để quyết định chọn mua RAT


4.4

Mối liên kết giữa hộ nông dân với các tác nhân trong tiêu thụ RAT

68

4.5

Liên kết trực tiếp giữa hộ nông dân với các đơn vị bán lẻ

72

4.6

Tình hình tiêu thụ RAT của hộ nông dân với các tác nhân liên kết

78

ix


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia Lâm là một huyện ngoại thành Hà Nội, có điều kiện tự nhiên thuận lợi
cho phát triển kinh tế, tốc độ đô thị hóa nhanh. Với lợi thế về vị trí địa lý, cơ sở
hạ tầng, điều kiện tự nhiên và đặc biệt là chủ trương quy hoạch phát triển sản
xuất RAT cung cấp cho thị trường các quận nội thành cho nên sản xuất rau của
huyện Gia Lâm những năm qua đạt hiệu quả cao. Một trong những lợi thế để

không chỉ là vấn đề tất yếu của sản xuất nông nghiệp hiện nay, mà còn góp phần
nâng cao tính cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở ra thị trường tiêu thụ rộng
rãi trong và ngoài nước, khuyến khích phát triển sản xuất. Việc tăng cường mối
liên kết kinh tế trong tiêu thụ RAT có vai trò rất quan trọng góp phần giải quyết
những vấn đề trên. Xuất phát từ tình hình thực tế trong việc tiêu thụ RAT của
huyện, tôi lựa chọn đề tài: “Giải pháp tăng cường liên kết trong tiêu thụ rau an
toàn của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Lâm - Hà Nội”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn các mối
liên kết trong việc tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện Gia Lâm - Hà Nội, từ đó đề
xuất các giải pháp phù hợp tăng cường thúc đẩy các mối liên kết tiêu thụ RAT có
hiệu quả hơn trên địa bàn huyện.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận, thực tiễn cơ bản về các mối liên
kết kinh tế trong tiêu thụ RAT.
- Đánh giá thực trạng liên kết trong tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mối liên kết trong tiêu thụ RAT trên
địa bàn huyện.
- Đề xuất một số định hướng và giải pháp tăng cường các mối quan hệ liên
kết trong tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội.

2


1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các tác nhân tham gia vào mối liên kết trong tiêu
thụ RAT trên địa bàn huyện: hộ nông dân, HTX, thương lái, DN/thương lái, siêu
thị, cửa hàng bán lẻ RAT, người tiêu dùng.

phép. Trong rau an toàn tồn tại dư lượng nhất định các chất độc hại, nhưng không
đến mức ảnh hưởng đến sức khoẻ của người tiêu dùng.
Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn: lá, củ, thân, hoa,
quả, hạt, các loại nấm thực phẩm) được sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bao gói, bảo
quản theo quy trình kỹ thuật bảo đảm tồn dư về vi sinh vật, hoá chất độc hại dưới
mức giới hạn tối đa cho phép (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2007).
Theo quyết định số 104/2009/QĐ-UBND của Thành phố Hà Nội ban hành
“Quy định về quản lý sản xuất và kinh doanh rau an toàn trên địa bàn Thành phố
Hà Nội” rau an toàn là sản phẩm rau tươi đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng về
hàm lượng kim loại nặng, hàm lượng Nitrat (NO3-), vi sinh vật, dư lượng thuốc
bảo vệ thực vật theo quy định hiện hành của nhà nước (Bộ Nông nghiệp và

4


PTNT, 2008); được sản xuất, sơ chế theo quy trình sản xuất, sơ chế rau an toàn;
tiến tới sản xuất, sơ chế theo quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho
rau quả tươi tại Việt Nam (VietGAP).
2.1.1.2 Khái niệm nghề trồng RAT
Theo Từ điển tiếng Việt về nghề và theo Nhà kinh tế học Thomas Robert
Malthus khái niệm về nghề thì: Nghề trồng RAT là một nghề trồng rau với phương
thức canh tác tiến bộ, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tổ chức sản xuất tiên tiến và
dựa trên những điều kiện sản xuất và quy trình kỹ thuật phù hợp nhằm sản xuất ra và
cung cấp cho người tiêu dùng sản phẩm RAT cho sức khỏe, mang lại lợi ích kinh tế
một cách bền vững cho bản thân người sản xuất và kinh doanh.
Nghề trồng RAT không chỉ bó hẹp trong các hoạt động sản xuất mà bao gồm
cả các khâu công nghệ sau thu hoạch (sơ chế, phân loại, bao gói, bảo quản), lưu
thông, phân phối (vận chuyển, bốc dỡ, lưu kho, cung cấp cho khách hàng). Nghề
trồng RAT ra đời trong điều kiện tư liệu sản xuất và quan hệ sản xuất đã phát triển ở
trình độ cao hơn trước đây, vì vậy nghề trồng RAT được hiểu từ khâu sản xuất đến

mua một loại nguồn lực hoặc một hàng hóa nào đó gặp gỡ nhau một cách tự do,
đưa tới một dòng thông tin tạo ra cơ hội cho mua bán và trao đổi nguồn lực hàng
hóa” (FAO, 1991).
Như vậy, thị trường có thể định nghĩa như là một khu vực hoặc một vị trí
(cả thực và ảo) nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng và họ có sự giao tiếp
với nhau, nơi mà điều kiện cung và cầu hoạt động, làm cho hàng hóa được dịch
chuyển tới vị trí được yêu cầu.
2.1.2 Lý luận về liên kết và liên kết kinh tế
2.1.2.1 Các khái niệm về liên kết và liên kết kinh tế
* Khái niệm liên kết
Theo Từ điển Ngôn ngữ học (năm 1992) thì: “Liên kết” là kết lại với nhau từ
nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ. Liên kết đề cập đến hai hay từ nhiều đối
tượng có tính độc lập tương đối với nhau cùng thực hiện một công việc khi một cá
nhân không thực hiện được hoặc cùng thực hiện để mang lại lợi ích tốt hơn hoặc
chia sẻ rủi ro.
* Khái niệm liên kết kinh tế
Theo Từ điển Thuật ngữ kinh tế học của Viện Nghiên cứu và Phổ biến tri
thức bách khoa thì: “Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác phối hợp hoạt động do
6


các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát
triển theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật của Nhà Nước”. Mục
tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra sự ổn định của các hoạt động kinh tế thông qua
các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất, khai thác tốt các tiềm
năng của các đơn vị tham gia liên kết để tạo ra thị trường chung, bảo vệ lợi ích
cho nhau.
Theo David W. Pearce (1999) cho rằng “Liên kết kinh tế chỉ tình huống
khi mà các khu vực khác nhau của một nền kinh tế thường là khu vực công
nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và

được hàng và thu được nhiều lợi nhuận, còn bên mua mong muốn mua được
hàng tốt, giá cả phù hợp để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cuối cùng hoặc nhu cầu
của các quá trình sản xuất - kinh doanh tiếp theo. Tiêu thụ sản phẩm là quá trình
gắn kết giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa vùng nguyên liệu với người sản xuất chế
biến và tiêu thụ, giữa người mua và người bán.
Liên kết kinh tế đã phát triển vô cùng mạnh mẽ ở nhiều cấp độ khác nhau
với nhiều loại hình đa dạng, bao gồm: Liên kết ngang, Liên kết dọc, Liên kết
nghiêng, Liên kết hình sao, DN liên doanh, Tập đoàn kinh doanh. Cho dù ở cấp
độ nào đi chăng nữa, liên kết kinh tế cũng sẽ mang lại những lợi ích nhất định
cho các bên tham gia trên nhiều mặt.
Liên kết kinh tế nhằm tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua hợp
đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động của từng tổ chức liên kết để tiến hành
phân công sản xuất chuyên môn hóa và hiệp tác hóa, nhằm khai thác tốt hơn tiềm
năng của đơn vị tham gia liên kết, góp phần nâng cao sản lượng, chất lượng sản
phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập của các bên tham gia liên
kết, cũng như tăng thu ngân sách cho Nhà nước.
Liên kết tạo ra thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng
đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm để bảo vệ lợi ích kinh tế của
nhau, tạo cho nhau có khoản lợi nhuận cao nhất.
Liên kết giúp đỡ nhau về kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh và quản lý, giúp
đỡ nhau về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật,
cũng như thực hiện cho nhau các công việc cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm, dịch
vụ vận chuyển, thông tin, xử lý thông tin v.v… (Quyết định số 38/1989/QĐ-HĐBT
ngày 10/4/1989 về liên kết kinh tế trong sản xuất lưu thông và dịch vụ của Hội đồng
Bộ trưởng).
8


Như vậy, liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm là cách thức tổ chức phân
công lao động xã hội, trong đó các hộ, DN phối hợp, gắn bó, phụ thuộc với nhau

Tác nhân tiêu thụ sản phẩm là DN, HTX,... đóng vai trò trung tâm của
liên kết như hướng dẫn, hỗ trợ người sản xuất trong cung ứng vật tư, vay vốn và
bao tiêu sản phẩm.
Như vậy, nội dung liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ RAT thể hiện mối
quan hệ phân công và hợp tác lao động giữa các chủ thể tham gia liên kết. Nó
quy định những hoạt động, trách nhiệm, chức năng và việc làm cụ thể về kinh tế kỹ thuật mà mỗi bên thực hiện đều cùng nhau hợp tác tạo ra thành quả lao động
chung của liên kết.
2.1.2.5 Hình thức liên kết kinh tế
Từ những quan điểm về liên kết, các hình thức và mục tiêu của liên kết
kinh tế cho thấy các liên kết trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các tác
nhân rất đa dạng, gồm cả liên kết dọc và liên kết ngang đan xen lẫn nhau. Cơ chế
liên kết cũng rất đa dạng, thể hiện sự phát triển của cung cách sản xuất từ sản
xuất đơn lẻ, manh mún sang dạng hàng hoá và mức độ phức tạp của việc cung
cấp tiếp cận thị trường, cung cấp nguồn lực và công tác tổ chức quản lý sản xuất
kinh doanh và để đánh giá mức độ liên kết, mức độ quan hệ chặt chẽ giữa các tác
nhân khi tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Sự thoả thuận hay cam kết giữa các tác nhân trong quá trình sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm thể hiện sự hợp tác giúp đỡ nhau vì lợi ích chung cho cả hai
bên, dựa trên nguyên tắc tự nguyện bình đẳng và phát triển của cả hai bên.
Các cam kết, thoả thuận phải có các điều kiện ưu đãi, các ưu đãi này phải
được xây dựng thông qua bàn bạc, thống nhất vì lợi ích của cả hai bên và dựa
trên quan hệ cung cầu thị trường.
Các thoả thuận, cam kết phải thể hiện trách nhiệm của mỗi bên khi thực
hiện cam kết và các hình thức phạt nếu một bên không thực hiện đúng, đủ theo
thoả thuận, cam kết. Các mối liên kết này thể hiện thông qua các hình thức liên
kết với các nội dung như sau:
• Mua bán tự do trên thị trường
Mua bán tự do trên thị trường là hình thức giao dịch trực tiếp giữa người
mua và người bán. Người mua thấy được số lượng và chất lượng hàng hoá mình
10


11


• Hợp đồng bằng văn bản (hợp đồng)
Theo Eaton and Shepherd (2001), hợp đồng là sự thỏa thuận giữa nông
dân và các cơ sở chế biến hoặc tiêu thụ nông sản về việc tiêu thụ sản phẩm trong
tương lai và thường với mức giá đặt trước. Liên kết theo hợp đồng là quan hệ
mua bán chính thức được thiết lập giữa các tác nhân trong việc mua nguyên liệu
hoặc bán sản phẩm.
Theo Michael Boland (2002), liên kết dạng hợp đồng là hình thức một
công ty mua hàng hoá từ một nhà sản xuất với một mức giá được xác định trước
khi mua. Mối quan hệ hợp đồng giữa nhà sản xuất và nhà chế biến chỉ sự điều
chỉnh của những văn bản thỏa thuận cá nhân mang tính pháp lý, những giao dịch
này có thể là giá mua bán, thị trường, chất lượng và số lượng nguyên vật liệu đầu
vào, các dịch vụ kỹ thuật, cung cấp tài chính… được thỏa thuận trước khi bán.
Liên kết hợp đồng tạo ra sự linh hoạt trong việc chia sẻ rủi ro và quyền kiểm soát giữa
các chủ thể tham gia hợp đồng (Humphrey, J; and Schmitz, H. (2009). “Govemance in
Global Value Chains”, IDS Bulletin, 3) (Gereffi G; and Korzeniewicz, M. (1994).
Hợp đồng được ký kết giữa các DN, tổ chức, ngân hàng tín dụng, trung
tâm khoa học kỹ thuật,... và hộ theo các hình thức:
- Ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và mua lại nông sản
hàng hóa.
- Bán vật tư mua lại sản phẩm.
- Trực tiếp tiêu thụ sản phẩm, thuê mướn tư vấn kỹ thuật, mua vật tư, thiết
bị, nguyên liệu đầu vào, vay vốn,...
- Liên kết sản xuất bằng việc góp vốn cổ phần, liên doanh liên kết với các
DN hoặc cho DN thuê đất, diện tích mặt nước, sau đó hộ được sản xuất trên diện
tích đó hoặc cho thuê, bán lại sản phẩm cho DN tạo sự gắn kết bền vững giữa hộ
và DN (Thủ tướng chính phủ, Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/06/2002

Trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh
(hộ, HTX, DN) đều thực hiện một chuỗi các hoạt động từ cung cấp, dịch vụ đầu
vào và đầu ra; mỗi công đoạn lại có những đầu vào khác nhau, quy trình công
nghệ khác nhau và mang tính đặc thù, hơn nữa để sản xuất một loại sản phẩm
đầu ra nào đó lại yêu cầu chủng loại vật tư, nguyên liệu đầu vào khác nhau mà
bản thân đơn vị sản xuất (hộ, HTX, DN) không tự sản xuất ra tất cả, mà đó là kết
quả của quá trình phân công lao động, liên kết hợp tác của hai hay nhiều bên
13


nhằm phát huy lợi thế so sánh, giảm chi phí sản xuất và chủ động, ổn định sản
xuất kinh doanh.
Trong một chuỗi các hoạt động sản xuất kinh doanh mỗi hộ, cơ sở đều có
một hoặc một số lĩnh vực hoạt động chủ đạo, mang tính đặc thù, chuyên biệt.
Bên cạnh những hoạt động chính, còn một loạt các hoạt động phụ mà bản thân cơ
sở không thể thực hiện được, nhưng nó lại không thể thiếu đối với cả chuỗi dây
chuyền chính. Ví dụ, trong sản xuất RAT người ta sử dụng các vật tư nông
nghiệp chính là giống, phân đạm, thuốc BVTV,… Các vật tư này nằm ở nhiều
vùng miền khác nhau do nhiều chủ thể khác nhau đang quản lý; người ta sẽ vận
chuyển các vật tư này đến các nơi trồng RAT. Tại đây, người sản xuất sẽ sử dụng
các vật tư nông nghiệp này để sản xuất ra sản phẩm. Các sản phẩm này là kết quả
hoạt động của nhiều lĩnh vực, nhiều chủ thể khác nhau mà mỗi hộ, DN khó có
thể đảm nhận hết, hơn nữa nếu có làm được thì ảnh hưởng đến giá thành sản
phẩm. Chính vì vậy, các liên kết giúp các hộ, DN khắc phục hạn chế về quy mô
và lĩnh vực hoạt động theo hướng hiệu quả hơn. Hình thức kinh doanh này xuất
hiện từ lâu và hiện đang rất thịnh hành ở nhiều nước trên thế giới.
- Liên kết kinh tế giúp các tác nhân phản ứng nhanh với những thay đổi
của thị trường.
+ Nhu cầu của thị trường luôn thay đổi, điều đó buộc các nhà sản xuất vừa
phải luôn thay đổi mẫu mã của các sản phẩm hiện có, vừa phải tìm cách đa dạng

trường, kể cả việc sáp nhập để tạo nên độc quyền nhóm (Lê Xuân Bá, 2003 và
Dương Đình Giám, 2007).
Như vậy, Nhà nước cần khuyến khích các cơ sở sản xuất đầu tư mở rộng
sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao và phục vụ nhu cầu đa dạng
của xã hội nhưng mặt khác, Nhà nước cũng cần có giải pháp chính sách quản lý
vĩ mô nhằm hạn chế độc quyền dẫn đến lũng đoạn thị trường và lũng đoạn nền
kinh tế, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của dân cư.
2.1.2.7 Các nguyên tắc cơ bản của liên kết kinh tế
Để các chủ thể tham gia liên kết đạt được mục tiêu phát triển bền vững các
liên kết kinh tế phải đảm bảo một số nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thứ nhất: Tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, đây chính là
mục tiêu của mọi hoạt động sản xuất của các cơ sở, việc mở rộng quy mô sản
xuất, thay đổi các phương thức sản xuất của từng thành viên khi ra nhập tổ chức
15


kinh tế hợp tác nói riêng hay khi thiết lập các mối quan hệ với các đối tác khác
phải đạt mục tiêu hiệu quả.
Nguyên tắc thứ 2. Liên kết phải được hình thành trên tinh thần tự nguyện
tham gia của các bên:
Các liên kết chỉ thành công và hiệu quả khi được xây dựng trên cơ sở tự
nguyện của các bên tham gia để giải quyết những khó khăn hoặc tìm kiếm lợi ích
cao hơn thông qua liên kết. Chỉ khi tự nguyện tham gia, các chủ thể liên kết mới
phát huy hết năng lực nội tại của mình, xây dựng nên mối quan hệ hiệu quả, bền
chặt vì lợi ích chung đồng thời đem hết khả năng cùng chịu trách nhiệm về
những thất bại hay rủi ro trong liên kết. Mọi liên kết kinh tế được thiết lập mang
tính hình thức hay là kết quả của những quyết định mang tính chủ quan, áp đặt sẽ
không thể tồn tại và không thể đem lại lợi ích cho các bên tham gia.
Nguyên tắc thứ 3: Các bên tham gia được dân chủ, bình đẳng trong các quyết
định của liên kết:

và phát triển của nền kinh tế nước nhà theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2.1.3 Các hoạt động nhằm tăng cường liên kết trong tiêu thụ RAT của hộ nông dân
2.1.3.1 Tham gia hiệp hội sản xuất tiêu thụ RAT
Để việc tiêu thụ sản phẩm RAT có tổ chức nhằm giải quyết ách tắc trong
tiêu thụ sản phẩm cần phải hướng vào tiêu thụ có tổ chức, hình thành hiệp hội
những người trồng rau, HTX tiêu thụ, tổ hợp tác tiêu thụ để giúp nông dân tiêu
thụ sản phẩm. Các tổ chức này sẽ đảm nhận việc thu gom, hoàn thiện sản phẩm,
đóng gói các sản phẩm đủ tiêu chuẩn tươi bán buôn cho thương thương lái
chuyến, hoặc có điều kiện sẽ vận chuyển đến thị trường bán buôn ở các thành
phố, các cơ sở chế biến, siêu thị. Xây dựng cơ sở vật chất cần thiết cho hoạt động
tiêu thụ sản phẩm: nhà tập kết sản phẩm, bao bì đóng gói, phương tiện bốc
dỡ,…Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ vốn để khuyến khích hình thành các tổ
chức kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp cũng như tiêu thụ RAT.
2.1.3.2 Hoạt động tạo dựng quan hệ liên kết với các cơ sở tiêu thụ sản phẩm RAT
Tổ chức gặp gỡ, giao lưu, liên hệ qua điện thoại, email, các trang web để gắn
chặt tình đoàn kết giữa các cơ sở tiêu thụ với hộ nông dân nhằm giúp hộ nông dân
có thêm các cơ sở tiêu thụ mới thông qua các cơ sở cũ và giúp các hộ nông dân, các
cơ sở tiêu thụ gắn bó với nhau hơn để nâng cao uy tín, chất lượng sản phẩm và chất
lượng phục vụ.
17


2.1.3.3 Tăng cường ký kết hợp đồng, thỏa thuận cung ứng sản phẩm với các đơn
vị tiêu thụ
Liên kết kinh tế là một hình thức đảm bảo đem lại lợi ích chắc chắn cho các
bên liên quan. Khác với mọi liên kết lỏng lẻo trước đây liên kết kinh tế thông qua
hợp đồng loại bỏ vai trò của các tầng lớp mua bán trung gian nên trực tiếp bảo vệ
được người sản xuất, nhất là người nghèo khi bán sản phẩm. Liên kết kinh tế giữa
các DN chế biến và hộ nông dân cho phép xoá bỏ độc quyền đối với các DN trong
việc ép giá khi mua sản phẩm của người nông dân. Mặt khác, thực hiện liên kết

- Đa dạng hoá thành phần tham gia tiêu thụ sản phẩm RAT nhưng phải có
chứng nhận và kiểm soát chất lượng sản phẩm.
2.1.3.4 Các hoạt động chăm sóc khách hàng, xây dựng uy tín, chất lượng,
thương hiệu sản phẩm.
Để sản phẩm RAT sản xuất ra được tiêu thụ tốt nhất cần phải có các
hoạt động chăm sóc khách hàng và xây dựng uy tín như:
- Nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời đáp ứng được yêu cầu số
lượng, chất lượng sản phẩm RAT đến người tiêu dùng.
- Có chính sách chiết khấu, giảm giá cho các tác nhân tham gia vào quá
trình tiêu thụ sản phẩm.
- Cơ chế thanh toán hợp lý, nhanh gọn.
- Tổ chức hội nghị khách hàng cho các công ty, trường học, các quán ăn
đóng trên địa bàn huyện nhằm giới thiệu sản phẩm RAT của huyện và qui trình
sản xuất rau mà các xã đang áp dụng. Thông qua đó các đơn vị sẽ đặt hàng và tạo
điều kiện cho thông tin mở rộng thị trường.
- Cần tăng cường truyền tin, tuyên truyền quảng cáo nâng cao nhận thức
cho người tiêu dùng, bảo hộ người tiêu dùng trong tiêu dùng RAT, tạo ra lớp
người tiêu dùng mới, tuyên truyền tác hại của rau không an toàn và tác dụng của
RAT đối với sức khoẻ con người.
- Việc xây dựng và quảng bá thương hiệu có vai trò rất quan trọng không
những đối với các cơ sở kinh doanh mà còn đối với người tiêu dùng. Thông qua
việc xây dựng và quảng bá thương hiệu, các cơ sở kinh doanh tạo lập được uy tín
của mình đối với khách hàng. Thương hiệu mà cơ sở kinh doanh tạo lấp được
càng lớn thì uy tín của doanh nghiệp càng cao. Uy tín của cơ sở kinh doanh sẽ

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status