BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
------------------------o0o--------------------------
PHẠM VĂN PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ,
BỆNH LÝ LÂM SÀNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
BỆNH GIUN ĐŨA BÊ NGHÉ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÀ
TRUNG TỈNH THANH HOÁ
CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ: 60.64.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS-TS. NGUYỄN VĂN THỌ
HÀ NỘI, NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của tôi. Các kết quả
nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo
vệ một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm
ơn. Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.......................................................................... 2
3.1. Ý nghĩa khoa học .......................................................................................... 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn .......................................................................................... 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU................................................................... 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ............................................................................ 3
1.1.1 Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé................................ 3
1.1.2. Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé .............................................. 9
1.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé ............... 12
1.1.4. Chẩn đoán bệnh giun đũa bê, nghé.................................................... 15
1.1.5. Biện pháp phòng trị bệnh. ................................................................. 17
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .................................................. 19
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 19
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ....................................................... 20
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ..................................................................................... 24
2.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu ................................................................ 24
2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu. .................................................................. 24
2.3. Nội dung nghiên cứu .................................................................................. 25
2.3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sàng bệnh giun
đũa bê, nghé ở hai xã của huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa. .............. 25
2.3.2. Bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa............................. 25
iv
2.3.3. Nghiên cứu biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa bê, nghé.................... 25
2.4. Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu............................................. 26
2.4.1. Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AS :
cs
Ánh sáng
:
cộng sự
Nxb :
Nhà xuất bản
TT :
Thể trọng
TN :
Thí nghiệm
g :
gam
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
3.7
Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê và ghé ...........................................45
3.8
Tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê nghé ở chuồng trại và khu vực
xung quanh chuồng trâu, bò. .......................................................................46
3.9
Sự phát tán trứng giun đũa bê nghé ở khu vực bãi chăn thả trâu, bò ............47
3.10
Sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé trong phân thành trứng có
sức gây bệnh. ..............................................................................................48
3.11
Khả năng tồn tại của trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh trong
phân ............................................................................................................50
3.12
Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé bình thường và tiêu chảy ......... 51
3.13
Tên hình
Trang
1.1
Cấu tạo giun đũa bê nghé Neoascaris vitulorum .......................................... 4
3.1
Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê nghé theo mùa vụ trong năm ..................... 38
3.2
Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé theo lứa tuổi..................................... 40
3.3
Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê nghé theo tình trạng vệ sinh ...................... 44
3.4
Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê, nghé bình thường và tiêu chảy............... 52
viii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây việc phát triển đàn trâu , bò về cả số lượng lẫn
luật sinh tồn của ký sinh trùng, từ đó ảnh hưởng đến đặc điểm dịch tễ của bệnh.
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế chăn nuôi ở tỉnh Thanh Hóa và
những vấn đề đề cập ở trên, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đặc một số
đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sang và biện pháp phòng trừ bệnh giun đũa bê
nghé trên địa bàn huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa".
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu để bổ sung những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ học
của bệnh giun đũa bê nghé trong điều kiện sinh thái hiện nay.
- Xây dựng quy trình phòng chống bệnh giun đũa bê nghé để hạn chế tỷ lệ
nhiễm giun đũa, giảm thiệt hại do bệnh giun đũa gây ra, góp phần phát triển chăn
nuôi trâu bò.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài làm hoàn thiện hơn những thông tin khoa học về bệnh
giun đũa bê nghé tại một số địa phương của tỉnh Thanh Hóa, đồng thời là cơ sở
khoa học để xây dựng quy trình phòng trị bệnh giun đũa cho bê nghé.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi trâu bò áp dụng
biện pháp phòng trị bệnh giun đũa cho bê nghé, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm giun
đũa, hạn chế thiệt hại do giun đũa gây ra, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa.
2
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé
1.1.1.1. Phân loại vị trí giun đũa bê nghé trong hệ thống động vật.
3- Môi phía cạnh giáp bụng.
b) Đầu đuôi: 1- Đoạn đầu; 2- Gai giao hợp;
3- Đoạn đuôi con cái (phía cạnh). c)1. Đoạn thân trước; 2.3. trứng.
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978), Phan Địch Lân và cs
(2005), giun đũa Toxocara vitulorum (Goeze 1782) ký sinh ở bê nghé có kích
thước: Giun đực ở nghé dài 13 - 15 cm, đường kính 0,3 cm; ở bê dài 14 - 16 cm.
Giun cái ở nghé dài 19 - 23 cm, đường kính 0,5 cm, trứng 70 - 75 x 80 - 90 µm;
giun cái ở bê dài 20 - 26 cm, trứng 75 - 85 x 90 - 100 µm. Vị trí âm hộ của giun
cái là 1/8 phần trước thân.
Phan Lục (2005) cho biết, giun đũa có kích thước to , vàng nhạt , dài 13 - 22
cm,, trên đầu có 3 môi. Thực quản hình ống dài, phần cuối có chỗ phình to ra gọi là dạ
4
dày giả. Xung quanh lỗ hậu môn của giun đực có nhiều gai chồi, có hai gai giao hợp to
bằng nhau. Trứng có 4 lớp vỏ màu nhạt, lớp ngoài cùng lỗ chỗ Như tổ ong, trứng dài
0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,75 mm.
Các nghiên cứu trên phù hợp với các tài liệu mô tả của Orlov (1970), Euzeby
(1981) Nhưng có khác với tài liệu mô tả của Skrjabin (1950), Neveu - Lemaire
(1952), Soulsby (1965), Drozdz (1967) là âm hộ giun cái ở 1/6 trước thân.
Nguyễn Thị Lê và cs. (1996) đã mô tả cấu tạo của giun đũa: Giun đực dài
110 - 189 mm, rộng nhất 3,52 - 4,81 mm; đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon dần về
cuối mút; thực quản dài 4,49 mm; gai sinh dục dài 0,57 - 1,19 mm, có màng mỏng
bao bọc ; ở phía trước hậu môn có 20 - 27 nhú xếp thành 2 hàng, sau hậu môn có 5
đôi nhú, đôi nhú thứ nhất kép. Giun cái dài 151 - 200 mm, rộng 4,0 - 5,7 mm; đuôi
hình nón, phủ nhiều gai, dài 0,37 - 0,42 mm; gần mút đuôi có 2 nhú bên; lỗ sinh
dục nằm ở phần trước cơ thể, cách mút đầu khoảng 1/10 - 2/10 chiều dài cơ thể;
trứng hình cầu kích thước 0,076 - 0,095 x 0,065 - 0,080 mm.
Theo những nghiên cứu của Taira và Fujita (1991) từ năm 1982 - 1988, về
Chẩn đoán bằng cách xét nghiệm phân tìm trứng giun Toxocara vitulorum
hoặc trên cơ sở phát hiện thấy giun tự thải ra ở trong phân.
Phạm Sỹ Lăng (2005) cũng cho biết, bệnh giun đũa bê nghé lây
nhiễm qua 2 con đường:
- Qua đường tiêu hóa do bê nghé ăn phải trứng giun đũa cảm nhiễm.
- Ấu trùng từ máu trâu bò mang thai xâm nhập vào bào thai.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1962), trứng giun đũa ra ngoài thiên nhiên gặp
nhiệt độ nóng ẩm thích hợp thì phát triển thành phôi thai: ở nhiệt độ 15 – 170C thì
phải 38 ngày, ở nhiệt độ 19 – 220C thì phải sau 20 ngày. Nếu để phân khô đi hoặc
ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học thì trứng sẽ ngừng phát dục. Dưới ánh
nắng trực tiếp mùa hè thì một tuần, nếu ở sâu trong đất thì 12 - 15 ngày phôi chết,
mùa đông phân khô thì sau một tháng phôi bị diệt.
Vichitr Sukhapesna (1982) đã nghiên cứu 10 trâu bò mẹ nhiễm Strongyloides
papillosus và Toxocara vitulorum cùng với bê nghé kể từ khi bê nghé được sinh ra.
Tác giả cho rằng trâu bò mẹ là nơi chứa mầm bệnh chính làm cho bê nghé con bị
nhiễm S. papillosus và T. vitulorum. Bê nghé đã bị nhiễm S. papillosus qua bú sữa từ
trâu bò mẹ , và nhiễm T. vitulorum qua nhau thai.
Nghé đẻ ra sau 14 ngày đã có trứng giun trong phân (tức là có giun
trưởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai.
6
Giun đũa có chu kỳ phát triển trực tiếp, không qua ký chủ trung gian. Giun
trưởng thành sống trong ruột non của bê nghé đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, gặp
điều kiện thuận lợi thì phát triển thành phôi thai trong trứng.
Trứng có phôi thai là trứng đã có sức gây bệnh. Sau đó trứng này lại vào cơ
thể con vật theo thức ăn, nước uống. Khi mới theo phân ra ngoài trứng không phân
chia. Tuỳ theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài, thời gian trứng phát triển
thành trứng cảm nhiễm có khác nhau.
Refuerzo và Jemenez (1954) đã làm thí nghiệm về sức đề kháng của trứng
giun đũa ở Philippin, thấy trứng có sức đề kháng kém dưới ảnh hưởng trực tiếp
của ánh nắng mặt trời. Trứng trong phân thì tồn tại lâu hơn và còn phụ thuộc vào
khối lượng cục phân. Nước nóng có tác dụng diệt phôi thai rất nhanh, nếu ở trong
phân thì tác dụng hạn chế; trong nước nóng 90 – 1000C, trứng đã phân lập ra bị
hỏng sau 2 giây, phôi bị huỷ, Nhưng nếu ở trong phân thì chỉ ở lượt ngoài trứng
bị hỏng.
Đối với một số chất sát trùng thông thường như: Lysol 2%, Zyphen 4 - 5%,
sau 17 - 20 giây phôi bị huỷ hoàn toàn, nhưng ở trong phân thì phôi không bị diệt.
Phạm Chức (1980) cũng cho biết, Lysol 5% diệt trứng giun đũa trong 1 giờ; Axit
phêníc 5% diệt trứng trong thời gian 45 phút đến một giờ.
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978), trứng giun đũa phát dục
thành phôi thai trong khoảng 20 ngày ở nhiệt độ 19 – 220C, Nhưng phải cần 38
ngày ở nhiệt độ 15 - 17oC.
Dương Công Thuận và cs. (1986) đã lấy phân của bê nghé bị nhiễm giun
đũa có nhiều trứng, trộn với nước để giữ ẩm, cho vào đĩa Pettri, để ở nhiệt độ
trong phòng khoảng 15 – 220C (tháng 10 - 11), thấy trứng phát triển thành phôi
thai sau 20 ngày, ở nhiệt độ 15 – 170C phôi hình thành sau 38 ngày.
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1999) cho biết, con cái đẻ trứng ở ruột
8
non, theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp trứng phát triển thành trứng có
khả năng gây bệnh (nhiệt độ 15 – 170C cần 38 ngày, 19 – 220C cần 20 ngày, 250C
cần 10 - 12 ngày, 28 – 300C cần 65 ngày, nhưng khi nhiệt độ đến 34 – 350C thì
trứng không phát triển).
Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và cs. (2008), trứng giun đũa bê, nghé có sức
đề kháng với điều kiện ngoại cảnh, chỉ bị diệt ở nhiệt độ 450C trở lên và ánh nắng
mặt trời chiếu trực tiếp.
Toxocara vitulorum, có con có tới 400 giun trong ruột. Tripathi J.C. (1967) cũng
cho biết, bê nghé ở Ấn Độ thường bị giun đũa ký sinh.
Theo Vichitr Sukhapesna (1981), bê, nghé nhiễm giun đũa Toxocara
vitulorum chủ yếu qua bào thai và sữa.
Ranatunga (1960) điều tra ở Srilanka, tại nông trại Ridiyagana, thấy nhiều
nghé có trứng giun trong phân ở lứa tuổi 10 - 26 ngày sau khi đẻ. Theo tác giả, tỷ lệ
nghé chết về bệnh này còn cao hơn bệnh do cầu trùng gây ra.
Muangyai M. (1989) thông báo rằng, giun đũa bê, nghé Toxocara
vitulorum là một trong những ký sinh trùng chủ yếu gây bệnh cho bê, nghé.
Theo Pandey V.S. và cs. (1990), kiểm tra phân của 20 bê nghé
trong giai đoạn 15 - 20 ngày tuổi ở đồng cỏ Zimbabwe, thấy trứng giun có trong
phân, số trứng đếm được từ 257 - 19821 trứng /gam phân.
Akyol C.V. (1993) cho biết, bê ở khu vực Barsa (Thổ Nhĩ Kỳ) bị nhiễm
Toxocara vitulorum phổ biến qua việc kiểm tra trứng trong phân. Ấu trùng cũng
được tìm thấy trong mẫu sữa. Đồng cỏ là nơi có nhiều trứng giun nên làm bê,
nghé bị nhiễm bệnh nhanh. Tỷ lệ nhiễm bệnh giữa các vùng sinh thái khác nhau là
khác nhau.
Một thông báo khác cho biết, ở Braxin nghé bị nhiễm giun đũa với tỷl ệ 58%
ở tuần tuổi thứ nhất ; 87,5 % ở tuần tuổi thứ 2; 96 % ở tuần tuổi thứ 3 và 100% ở
tuần thứ 4. Hầu hết bị nhiễm qua bào thai, một số ít truờng hợp nhiễm qua sữa. Bê,
nghé phát bệnh trong độ tuổi 3 - 17 tuần tuổi (Barbosa và Correa, 1989).
Starke W.A., Machado R.Z., Becchara G.H. và Zocoller M.C. (1996) đã
kiểm tra 75 mẫu phân bê, nghé từ 9 - 115 ngày tuổi, thấy có 86,7% bê, nghé nhiễm
giun đũa. Số lượng trứng cao nhất khi 45 ngày tuổi.
Wen Y.L. và cs, (1986) đã phát hiện 99 con nghé nhiễm giun đũa trong số
245 nghé ở 7 làng của tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Tỷ lệ nhiễm giun đũa của
nghé đực cao hơn nghé cái (43,02% so với 38,03%).
10
Phùng Quốc Quảng và cs. (2006) cho biết, bệnh giun đũa ở bê phổ biến ở
11
lứa tuổi 20 - 25 ngày sau khi đẻ. Bệnh phân bố khắp nơi trên thế giới .Ở nước ta,
bệnh thường phát vào mùa rét, tại các vùng nuôi bò thuộc đồng bằng trung du,
miền núi. Bệnh phổ biến hơn ở miền núi vì bê thường thả rông đi theo mẹ đi ăn.
Tô Du (2005) cho biết, bệnh giun đũa ở bê, nghé hay mắc từ 15 - 60 ngày
tuổi vì trong đất nền chuồng , hoặc ngoài bãi cỏ có dính trứng giun đũa , bê nghé
khi gặm cỏ liếm phải rồi mắc bệnh. Bệnh thường gặp nhiều ở nghé đẻ vào vụ
Đông - Xuân.
Bệnh giun đũa bê, nghé thường thấy ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi ở các
vùng chăn nuôi trâu bò thuộc miền núi, trung du, đồng bằng và ở các cơ sở chăn
nuôi trâu bò sữa (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 1999).
Nguyễn Hùng Nguyệt và cs. (2008) cho biết bê ng hé nuôi ở vùng núi bị
bệnh giun đũa nhiều hơn so với vùng trung du và đồng bằng. Ở nước ta bê nghé
thường bị bệnh vào tháng 12, 1, 2 hàng năm (vụ Đông - Xuân), do trâu bò thường
đẻ vào các tháng 11, 12, 1. Bê, nghé mắc bệnh giun đũa sớm nhất là 14 ngày tuổi,
nhiều nhất ở lứa tuổi 30 - 45 ngày tuổi và muộn nhất ở 65 ngày tuổi, trâu bò không
mắc bệnh.
Qua điều tra liên tục 6 vụ đông xuân (từ 1954 - 1960) trên hàng nghìn nghé
tại xã Hoà Phú, Phúc Thịnh (Chiêm Hoá - Tuyên Quang), xã Minh Sơn (Ngọc Lặc
- Thanh Hoá), xã Phượng Tiến (Định Hoá - Thái Nguyên), Đỗ Dương Thái và
Trịnh Văn Thịnh (1978) thấy, tỷ lệ nghé ốm do giun đũa chiếm tới 38 - 44% so
với số nghé đẻ ra, số nghé chết về bệnh chiếm tới 25 - 50% số nghé ốm.Như vậy,
mỗi năm số nghé chết về giun đũa chiếm 20% số nghé đẻ ra.
1.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé
1.1.3.1. Cơ chế sinh bệnh.
Khi bê nghé nuốt phải trứng giun đũa có sức gây bệnh, sau 43 ngày có thể
non bê, nghé sẽ gây ra các tác động:
- Tác động cơ giới : Ấu trùng di hành làm tổn thương gan, phổi. Giun
trưởng thành dùng các lá môi vào niêm mạc ruột và gây tổn thương niêm mạc
ruột, viêm cata, ảnh hưởng đến tiêu hóa, sữa không tiêu hóa bị vón lại.
Sữa này bị vi khuẩn lên men phân hủy, sinh ra nhiều sản phẩm của quá trình
phân hủy protit. Vì vậy, khi phân ra ngoài có màu trắng sữa, lỏng và có mùi thối
khắm. Số lượng giun đũa nhiều sẽ gây tắc, thủng ruột, gây viêm phúc mạc.
- Tác động do độc tố: giun đũa ký sinh ở bê, nghé sẽ tiết độc tố làm cho con
vật trúng độc.
13
- Tác động chiếm đ oạt chất dinh dưỡng: giun đũa lấy dinh dưỡng làm
Cho bê, nghé gầy còm.
1.1.3.2. Biểu hiện lâm sàng và bệnh tích.
Bệnh tiến triển ngắn nhất là 5 ngày, dài nhất là 48 ngày, phổ biến là 11
- 30 ngày. Nghé thường chết vào 7 - 16 ngày sau khi phát bệnh. Thời gian tiến triển
của bệnh dài hay ngắn phụ thuộc vào tuổi, sức khỏe của gia súc, cách nuôi dưỡng.
Theo Nguyễn Văn Thiện và cs. (1977), bê, nghé bị bệnh giun đũa có dáng
đi lù đù, đầu cúi, lưng cong đuôi cụp, bụng ỏng, có khi con vật nằm một chỗ
không theo mẹ. Bệnh nặng bê, nghé gầy rạc, xù lông, mắt lờ đờ, chảy nước mắt có
nhử, mũi khô, thân nhiệt khoảng 40 - 410C. Con vật mệt mỏi, đứng lên nằm
xuống, ỉa phân lúc đầu táo hoặc lổn nhổn, màu đen, dần dần chuyển thành màu
trắng, lỏng.
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978), con vật ăn kém, ỉa chảy,
đôi khi táo bón, chướng hơi, đi lại không yên, đau bụng, ho, co giật. Trường hợp
tự thải giun hay được điều trị thì các triệu chứngsẽ mất đi, ở thể mãn tính bệnh kéo
dài 2 - 3 tháng.
Phạm Xuân Dụ (1971) cho biết, bệnh ỉa chảy ở bê một phần do giun đũa và
ỉa chảy và mất nước.
Aumont và cs. (1991) cho biết, giun đũa Toxocara vitulorum là ký sinh
trùng chính của bê trong 2 tháng tuổi và làm giảm khối lượng từ sơ sinh đến giai
đoạn cai sữa khoảng 10,5kg.
Theo Srivastava A.K., Sharma D.N. (1981), ở Muthura - Ấn Độ, 16 trong
90 nghé 1 tháng tuổi đã có 500 - 700 trứng giun đũa trong 1 gam phân, có những
triệu chứng biếng ăn, gày còm, xù lông, táo bón, ỉa chảy, phân hôi thối, lưng
cong, đau bụng và dáng đi cứng nhắc.
Mổ khám thấy ruột non viêm cata, có nhiều giun đũa ký sinh, có thể tạo
thành búi làm tắc ruột. Sữa bị vón cục, màu trắng, có mùi khó chịu, gạt lớp sữa,
chất chứa và giun đũa ra thấy niêm mạc có nhiều vết loét. Có trường hợp bị thủng
ruột, chất chứa lọt ra xoang bụng gây viêm phúc mạc. Ngoài ruột non, có thể thấy
giun đũa ở các bộ phận: dạ cỏ, dạ múi khế. Biến đổi hoại tử ở gan, thấy giun ở
trong ống dẫn mật, viêm có mủ ở vỏ thận và viêm do tổn thương ở phổi.
1.1.4. Chẩn đoán bệnh giun đũa bê, nghé
Chẩn đoán bệnh giun đũa Toxocara vitulorum ở bê nghé dựa vào triệu
chứng lâm sàng, các thông tin về dịch tễ học, xét nghiệm mẫu phân bê nghé bằng
15
phương pháp Fulleborn để tìm trứng giun đũa, kết hợp mổ khám kiểm tra bệnh
tích ở ruột non cho phép chẩn đoán chính xác bệnh.
* Đối với bê nghé sống:
Theo nhiều tác giả, việc chẩn đoán bệnh giun đũa Toxocaras vitulorum ở
bê nghé có thể căn cứ vào những đặc điểm dịch tễ học: vùng và mùa phát bệnh, tỷ
lệ nhiễm bệnh, tuổi mắc bệnh...
Phạm Văn Khuê và cs. (1996) Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [9] cho
biết, bệnh giun đũa bê nghé thường mắc nhiều nhất ở miền núi, bệnh thường phát
nhiều vào tháng 12, 1, 2. Tuổi mắc bệnh sớm nhất là 14 ngày, tuổi càng cao thì tỷ lệ
trong một buổi sáng. Khi uống bắt bê nghé nhịn đói.
- Cho bò mẹ ăn uống tốt để có đủ sữa cho con bú, kết hợp vệ sinh chuồng
trại, môi trường, cho uống nước sạch, giữ chuồng nuôi ấm và khô ráo. Tập trung
phân ủ để diệt trứng giun.
Theo Phạm Sỹ Lăng và Lê Thị Tài (1997), Piperazin, Mebendazol,
Tetramisol, Thiabendazol có tác dụng rất tốt khi sử dụng để tẩy giun đũa cho
bê, nghé.
Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) cho biết, trong bệnh giun đũa
Toxocara vitulorum của bê, người ta dùng Santonin với liều 0,02 g/kg TT, cho
uống thuốc tẩy kèm theo.
Balabakian X.P. (1956) đã ứng dụng có kết quả dung dịch Natri sunfat 10%
với liều 4,0 g cho 1 kg thể trọng để tẩy giun đũa cho bê, cho uống qua ống cao su
và phễu.
Theo Robert J.A. (1989), hiệu quả tẩy giun đũa bê, nghé của Pyrantel là
100%; Febentel là 100%; Levamisol (7,5 mg/kg TT cho uống) là 83%, Levamisol
tiêm (0,1 ml/kg TT) là 73%, Piperazine là 57%.
Nguyễn Văn Thiện và cs. (1977) đã dùng 8 hạt cau tươi giã nhỏ, trộn với
20 gam bột diêm sinh, hoà với 1/3 lít nước hơi ấm, cho uống vào buổi sáng trong
3 ngày liền; hoặc một nắm vỏ xoan (50 gam) giã nhỏ, trộn với 2 gam muối, hoà
với 1/3 lít nước ấm, để lắng, gạn lấy nước cho uống vào buổi sáng, 3 ngày liền;
hoặc 2 đến 3 lá đu đủ non giã nhỏ, hoà với 1/3 lít nước, cho uống vào buổi sáng ba
ngày liền. Có thể cho uống 3 ml tinh dầu giun trộn với 60 ml dầu đu đủ, cho uống
một lần vào buổi sáng. Cũng có thể cho uống Phenothiazine 1,5 - 2,0 gam/ngày
trong ba ngày, hoặc Piperazin 0,2 - 0,3 gam/kg TT.
Lê Đăng Đảnh và cs. (2004) cho biết, để chủ động phòng trị bệnh giun đũa bê
nghé ngay sau khi sinh , chúng ta dùng một số thuốc đặc trị bệnh giun đũa cho bê, nghé
17