MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt
vi
Danh mục bảng
vii
Danh mục biểu đồ
viii
Danh mục sơ đồ
viii
I ĐẶT VẤN ĐỀ
2.1.3 Nguyên tắc quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN
12
2.1.4 Phân cấp quản lý vốn đầu tư XDCB
13
2.1.5 Nội dung công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN ở cấp tỉnh
14
2.1.6 Quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN tại Ban QLDA các công trình
trọng điểm
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý vốn đầu tư XDCB nguồn NSNN
29
31
2.2.1 Yếu tố khách quan
31
2.2.2 Yếu tố chủ quan
32
2.3 Cơ sở thực tiễn
2.3.1 Bài học kinh nghiệm về quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN
3.1.3 Tổng quan về Ban QLDA các công trình trọng điểm tỉnh Hà Nam
46
3.1.4 Cơ cấu tổ chức Ban QLDA các công trình trọng điểm tỉnh Hà Nam
47
3.1.5 Ban lãnh đạo Ban QLDA
47
3.1.6 Các bộ phận trực thuộc Ban QLDA các CT trọng điểm tỉnh Hà Nam
48
3.2 Phương pháp nghiên cứu
51
3.2.1 Phương pháp tiếp cận vấn đề nghiên cứu
51
3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
51
3.2.3 Phương pháp thu thập tài liệu/thông tin
4.1.3 Quy định của Ban QLDA các công trình trọng điểm tỉnh Hà Nam
58
4.2 Thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư XDCB tại Ban QLDA các công
trình trọng điểm tỉnh Hà Nam
59
4.2.1 Đánh giá thực trạng công tác lập, thẩm định dự án, phê duyệt dự án ĐTXD
60
4.2.2 Đánh giá thực trạng công tác đấu thầu
60
4.2.3 Đánh giá thực trạng công tác Giải phóng mặt bằng
61
4.2.4 Đánh giá thực trạng công tác lập kế hoạch, huy động và quản lý nguồn vốn
đầu tư XDCB
4.2.5 Đánh giá thực trạng công tác tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư XDCB
62
64
4.2.6 Đánh giá thực trạng công tác lập báo cáo và thẩm tra, phê duyệt quyết toán
4.3.1 Cơ chế, chính sách về quản lý VĐT XDCB của Trung ương và địa phương
75
4.3.2 Năng lực, trình độ cán bộ quản lý vốn
76
4.3.3 Năng lực của tư vấn khảo sát, thiết kế BVTC, lập dự toán
76
4.3.4 Công tác thẩm tra, thanh tra, kiểm toán
77
4.4 Giải pháp quản lý vốn đầu tư XDCB nguồn NSNN tại Ban
4.4.1 Căn cứ đề xuất giải pháp
80
80
4.4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư
XDCB từ nguồn vốn NSNN
83
V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
91
CT
Công trình
DT
Dự toán
ĐTXD
Đầu tư xây dựng
GPMB
Giải phóng mặt bằng
HĐND
Hội đồng nhân dân
HTKT
Hạ tầng kỹ thuật
KBNN
Kho bạc Nhà nước
KDL
QLNN
Quản lý Nhà nước
TPCP
Trái phiếu Chính phủ
TW
Trung ương
UBND
Uỷ ban nhân dân
VĐT
Vốn đầu tư
XDCB
Xây dựng cơ bản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
61
4.4
Cơ cấu kế hoạch vốn đầu tư XDCB của các dự án
63
4.5
Kết quả thanh toán vốn XDCB dự án ĐTXD công trình HTKT KDL
Tam Chúc
4.6
66
Bảng điều tra về tính kịp thời của công tác tạm ứng, thanh toán vốn
đầu tư XDCB
4.7
4.8
68
Bảng điều tra đại diện chủ đầu tư và đơn vị thực hiện dự án công tác
tạm ứng, thanh toán vốn
68
Cơ cấu kinh tế tỉnh Hà Nam
45
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
10
2.1
Quy trình quản lý vốn đầu tư XDCB của Nhà nước
2.2
Quy trình lập kế hoạch và phân bổ nguồn vốn đầu tư XDCB theo quy
định của Nhà nước
19
2.3
Trình tự thẩm tra quyết toán vốn đầu tư XDCB
27
thiếu đồng bộ và luôn thay đổi như ở nước ta hiện nay.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của cả nước, tỉnh Hà
Nam đã luôn nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện của Chính phủ, từ TW đến địa
phương trên tất cả các mặt, các lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản
(XDCB). Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh hàng năm trên 13 nghìn tỷ
đồng trong đó phần lớn là Ngân sách nhà nước (NSNN). Nhiều dự án hoàn thành
đưa vào khai thác, sử dụng đã phát huy được hiệu quả góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong tỉnh. Tuy nhiên,
công tác quản lý vốn đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh thời gian qua vẫn còn những
tồn tại, tình trạng thất thoát, lãng phí kém hiệu quả trong đầu tư XDCB từ nguồn
vốn NSNN vẫn thường xuyên xảy ra. Các nguyên nhân chủ yếu làm công tác quản
lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn tỉnh còn tồn tại là: việc quy hoạch, lập
kế hoạch, bố trí vốn đầu tư XDCB còn phân tán, dàn trải...Thêm vào đó, do đặc thù
của vốn đầu tư XDCB là rất lớn, thời gian đầu tư dài nên dễ xảy ra tình trạng thất
thoát vốn đầu tư XDCB của Nhà nước. Vậy vấn đề đặt ra là cần thiết phải nghiên
cứu để đưa ra những giải pháp nhằm quản lý có hiệu quả vốn đầu tư XDCB từ
nguồn NSNN trên địa bàn tỉnh (nhất là đối với các dự án, công trình trọng điểm),
góp phần khắc phục những tồn tại, bất cập để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
XDCB nói chung và nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho XDCB nói riêng.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Quản lý vốn
đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách Nhà nước tại Ban quản lý dự án các
công trình trọng điểm tỉnh Hà Nam”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản
- Về thời gian: Đề tài sử dụng thông tin, số liệu liên quan từ năm 2012 đến
năm 2014. Thời gian thực hiện đề tài từ năm 2014 - 2015.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Khái quát về đầu tư XDCB và nguồn vốn đầu tư XDCB
2.1.1.1. Khái niệm đầu tư XDCB
Xây dựng cơ bản là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản
xuất mở rộng các tài sản cố định có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuất
các ngành kinh tế thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây
dựng lại, hiện đại hoá hay khôi phục các tài sản cố định (Lê Hùng Sơn, 2013). Đầu
tư XDCB là một loại hình đầu tư trong đó việc bỏ vốn được xác định rõ và giới hạn
trong phạm vi tạo ra những sản phẩm công trình xây dựng. Đó là cơ sở vật chất kỹ
thuật hoặc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế như hệ thống giao thông vận tải, hồ, đập
thuỷ lợi, trường học, bệnh viện,…
Bên cạnh những vai trò đã nêu trên về đầu tư, đầu tư XDCB là hoạt động có
vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, là nhân tố
quan trọng làm thay đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia,
thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
2.1.1.2. Đặc điểm của đầu tư XDCB
Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của đầu tư phát triển do vậy nó
cũng mang những đặc điểm của đầu tư phát triển, đó là:
+ Đầu tư XDCB là một hoạt động bỏ vốn, đòi hỏi một số lượng vốn lao
động, vật tư lớn, có thể ứ đọng trong thời gian dài do vậy quyết định đầu tư thường
động đầu tư xây dựng cơ bản là các công trình xây dựng sẽ được khai thác ở ngay
nơi mà nó được tạo dựng, cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh hưởng
lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả đầu tư (Nguyễn
Văn Chọn, 2008). Vì vậy cần được bố trí hợp lý địa điểm xây dựng đảm bảo các
yêu cầu về an ninh quốc phòng, phù hợp với kế hoạch, quy hoạch tổng thể để khai
thác lợi thế so sánh của vùng, quốc gia, địa phương.
+ Hoạt động đầu tư XDCB rất phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh
vực, diễn ra không chỉ ở phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau.
Vì vậy khi tiến hành hoạt động này cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các
cấp trong quản lý quá trình đầu tư, bên cạnh đó phải quy định rõ phạm vi trách nhiệm
của các chủ thể tham gia đầu tư, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được tính tập trung dân
chủ trong quá trình thực hiện đầu tư (Nguyễn Mạnh Đức, 2004).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
2.1.1.3. Vai trò của đầu tư XDCB
Xây dựng cơ bản giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Vai
trò và ý nghĩa của xây dựng cơ bản có thể nhìn thấy rõ từ sự đóng góp của lĩnh vực
này trong quá trình tái sản xuất tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân thông qua
các hình thức xây dựng mới, cải tạo sửa chữa lớn hoặc khôi phục các công trình hư
hỏng hoàn toàn. Cụ thể hơn, xây dựng cơ bản là một trong những lĩnh vực sản xuất
vật chất lớn của nền kinh tế quốc dân, cùng các ngành sản xuất khác, trước hết là
ngành công nghiệp chế tạo và ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, nhiệm vụ của
ngành xây dựng là trực tiếp thực hiện và hoàn thành khâu cuối cùng của quá trình
hình thành tài sản cố định (thể hiện ở những công trình nhà xưởng bao gồm cả thiết
bị và công nghệ lắp đặt kèm theo) cho toàn bộ các lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế
quốc dân và các lĩnh vực phi sản xuất khác (Nguyễn Văn Chọn, 2013). Ở đây nhiệm
vụ chủ yếu của các đơn vị xây dựng là kiến tạo các kết cấu công trình để làm vật
thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước. Đặc trưng của XDCB là
một ngành sản xuất vật chất đặc biệt có những đặc điểm riêng, khác với sản phẩm
hàng hóa của các ngành sản xuất vật chất khác và vốn đầu tư XDCB cũng có những
đặc trưng riêng khác với vốn kinh doanh của các ngành khác. Theo điều 5 Điều lệ
quản lý XDCB kèm theo Nghị định 385-HĐBT ngày 7/11/1990 thì: “Vốn đầu tư
XDCB là toàn bộ chi phí để đạt được mục đích đầu tư bao gồm chi phí cho việc
khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, chi phí về thiết kế và xây dựng, chi
phí mua sắm và lắp đặt thiết bị và các chi phí khác ghi trong tổng dự toán”
Vốn đầu tư XDCB là một bộ phận trong chi đầu tư phát triển của ngân sách
nhà nước. Như vậy, có thể hiểu vốn đầu tư XDCB là nguồn tiền được huy động đầu
tư cho xây dựng cơ bản. Hay nói cách khác vốn đầu tư XDCB là tổng chi phí bằng
tiền để tái sản xuất tài sản cố định có tính chất sản xuất hoặc phi sản xuất.
Ở mọi quốc gia, nguồn vốn đầu tư XDCB trước hết và chủ yếu được tích lũy từ
nền kinh tế, tức phần tiết kiệm sau tiêu dùng (của cá nhân và Chính phủ) từ GDP. Nguồn
tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế xét về lâu dài là nguồn đảm bảo cho sự tăng trưởng ổn định,
là điều kiện đảm bảo tính độc lập tự chủ quốc gia. Tuy nhiên, ngoài nguồn tích luỹ nội
bộ, các quốc gia có thể huy động nguồn vốn nước ngoài cho đầu tư XDCB.
Phân loại nguồn vốn đầu tư XDCB:
Căn cứ vào yêu cầu nghiên cứu và quản lý, vốn đầu tư xây dựng nói chung
được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau như theo nguồn vốn, theo loại hình
xây dựng, theo công dụng đầu tư, theo cấu thành vốn đầu tư hoặc theo giai đoạn đầu
tư... Từ đó có thể thấy nguồn vốn cho đầu tư phát triển nói chung và đầu tư XDCB
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
nói riêng bao gồm những nguồn sau:
i) Nguồn vốn trong nước: Đây là nguồn vốn có vai trò quyết định tới sự phát
triển kinh tế của đất nước, nguồn này chiếm tỷ trọng lớn và được quản lý chặt chẽ,
thao, phúc lợi công cộng, quản lý Nhà nước, khoa học kỹ thuật, bảo vệ môi trường sinh
thái khu vực, vùng, lãnh thổ;
ii) Các dự án quốc phòng, an ninh không có khả năng thu hồi vốn;
iii) Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần thiết có
sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
iv) Các dự án được bố trí bằng vốn chi sự nghiệp trong dự toán NSNN để
sửa chữa, cải tạo, mở rộng, nâng cấp các cơ sở vật chất hiện có, có giá trị từ 100
triệu đồng trở lên, nhằm phục hồi hoặc tăng tài sản cố định (bao gồm cả việc xây
dựng mới các hạng mục công trình trong các cơ sở đã có của các cơ quan, đơn vị
hành chính sự nghiệp).
2.1.2.2. Quy trình quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN
i) Trách nhiệm quản lý đối với một dự án
Cấp quyết định đầu tư:
Cấp quyết định đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định dự án trước khi phê
duyệt, ra quyết định đầu tư, bố trí vốn thực hiện dự án theo tiến độ, điều chỉnh tổng
mức đầu tư, quyết định phát sinh ngoài dự án và hình thức quản lý dự án, phê duyệt
giá trị quyết toán.
Chủ đầu tư:
Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao quản lý sử dụng vốn để đầu
tư xây dựng công trình. Chủ đầu tư có trách nhiệm tiếp nhận và sử dụng vốn đúng
mục đích, đúng đối tượng, tiết kiệm và có hiệu quả. Chấp hành đúng quy định của
pháp luật về chế độ quản lý tài chính. Chủ đầu tư là người chịu trách nhiệm toàn
diện trước người quyết định đầu tư và pháp luật về chất lượng, tiến độ, chi phí vốn
đầu tư xây dựng công trình và các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
Chủ đầu tư có quyền thành lập ban quản lý dự án (theo quyết định thành lập ban
quản lý dự án) hoặc thuê tư vấn quản lý dự án (theo hợp đồng ký kết với nhà thầu tư
vấn quản lý dự án). Chủ đầu tư có trách nhiệm chỉ đạo, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc
thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn đó nhằm đảm bảo dự án được thực hiện đúng
ii) Nội dung quy trình quản lý vốn đầu tư XDCB
Quản lý vốn đầu tư XDCB ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, lập dự toán đầu tư
Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, chủ đầu tư cần tập trung quản lý tổng chi
phí của công trình xây dựng thể hiện bằng chỉ tiêu tổng mức đầu tư. Tổng mức đầu
tư là tổng chi phí dự tính để thực hiện toàn bộ quá trình đầu tư và xây dựng và là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
giới hạn chi phí tối đa của dự án được xác định trong quyết định đầu tư.
Các chỉ tiêu chính dùng để xác định tổng mức đầu tư:
-Chỉ tiêu suất vốn đầu tư XDCB
-Giá chuẩn của các công trình và hạng mục công trình XD thông dụng
-Đơn giá dự toán tổng hợp
-Mặt bằng giá thiết bị của thị trường cung ứng máy móc thiết bị hoặc giá
thiết bị tương tự đã được đầu tư
-Các chi phí khác tính theo % quy định của Nhà nước (thuế, chi phí lập và
thẩm định dự án đầu tư....)
* Quản lý vốn đầu tư XDCB ở giai đoạn thực hiện dự án đầu tư
Trong giai đoạn thực hiện đầu tư, quản lý vốn đầu tư XDCB tập trung vào
việc quản lý giá xây dựng công trình được biểu thị bằng chỉ tiêu: Tổng dự toán công
trình, dự toán hạng mục công trình và các loại công tác xây lắp riêng biệt.
Tổng dự toán công trình là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây
dựng công trình thuộc dự án được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật hoặc
thiết kế kỹ thuật thi công.
Quản lý việc giải ngân vốn đầu tư XDCB theo tiến độ thi công công trình,
đây là nhân tố quan trọng bảo đảm công trình thi công đúng tiến độ. Đồng thời theo
dõi kiểm soát chi phí phát sinh trong quá trình thi công (Nguyễn Văn Chọn, 2008).
* Quản lý vốn đầu tư XDCB ở giai đoạn kết thúc đưa dự án vào khai thác, sử dụng
minh bạch ở đây là công khai việc phân bổ vốn đầu tư hàng năm cho các dự án đầu
tư; công khai về tổng mức đầu tư, tổng dự toán được duyệt, kết quả lựa chọn nhà
thầu, số liệu quyết toán,...
- Tập trung thống nhất. Vốn đầu tư XDCB từ NSNN cần có sự tập trung ưu
tiên cho các công trình trọng tâm, trọng điểm QG. Theo nguyên tắc này, Nhà nước
cần có thứ tự ưu tiên cho các dự án. Việc sắp xếp thứ tự ưu tiên phụ thuộc vào điều
kiện cũng như mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của từng thời kỳ.
- Phân định rõ chức năng quản lý của Nhà nước và chức năng sản xuất kinh
doanh, phân cấp quản lý về đầu tư xây dựng phù hợp với từng loại nguồn vốn đầu tư và
chủ đầu tư. Phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý Nhà nước, của
chủ đầu tư, của tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quá trình thực hiện dự án đầu tư.
- Việc quản lý sử dụng nguồn vốn đầu tư luôn đi đôi với công tác kiểm tra,
giám sát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt phải áp dụng nghiêm các
chế tài của pháp luật (Chính phủ, 2009).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
2.1.4. Phân cấp quản lý vốn đầu tư XDCB
Cấp Trung ương
Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư các dự án quan trọng Quốc gia theo
Nghị quyết của Quốc hội và các dự án quan trọng khác.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ quyết định đầu tư các dự án nhóm A,
B, C. Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan cấp Bộ được ủy quyền hoặc phân cấp quyết
định đầu tư các dự án nhóm B, C cho cơ quan cấp dưới.
Bộ Kế hoạch đầu tư đóng vai trò chủ trì trong lập kế hoạch đầu tư và phân bổ
vốn. Bộ Tài chính có trách nhiệm tham gia phối hợp và kiểm soát thanh toán. Bộ Xây
dựng là cơ quan quản lý Nhà nước về đơn giá, định mức, chi phí đầu tư xây dựng,
phù hợp với các quy định hiện hành của Nhà nước và điều kiện cụ thể của từng địa
phương (Chính phủ, 2015).
2.1.5. Nội dung công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN ở cấp tỉnh
Công tác quản lý, sử dụng vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN ở cấp tỉnh
gồm những nội dung cơ bản sau đây:
2.1.5.1. Công tác lập báo cáo đầu tư, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư
i) Lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình (Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi)
và xin phép đầu tư:
Đối với các dự án trọng điểm quốc gia, Chủ đầu tư phải lập Báo cáo đầu tư
xây dựng công trình trình Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định về
chủ trương đầu tư. Đối với dự án khác, Chủ đầu tư không phải lập Báo cáo đầu tư.
Nội dung Báo cáo đầu tư xây dựng công trình bao gồm:
- Sự cần thiết phải đầu tư xây dựng công trình, các điều kiện thuận lợi và khó
khăn; chế độ khai thác và sử dụng tài nguyên quốc gia nếu có;
- Dự kiến quy mô đầu tư: Công suất, diện tích xây dựng; các hạng mục công
trình thuộc dự án; dự kiến về địa điểm xây dựng công trình và nhu cầu sử dụng đất;
- Phân tích lựa chọn sơ bộ về công nghệ, thông số kỹ thuật; các điều kiện cung
cấp vật tư thiết bị, nguyên liệu, năng lượng, dịch vụ, hạ tầng kỹ thuật, phương án
GPMB, tái định cư nếu có; các ảnh hưởng của dự án đối với môi trường sinh thái,
phòng chống cháy nổ, an ninh quốc phòng;
- Hình thức đầu tư, xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, thời hạn thực hiện dự án,
phương án huy động vốn theo tiến độ và hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án và phân
kỳ đầu tư nếu có.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
Chủ đầu tư có trách nhiệm gửi Báo cáo đầu tư xây dựng công trình tới cấp
Page 15
đầu tư làm cơ sở để bố trí kế hoạch hàng năm do các Bộ, địa phương thực hiện.
* Điều kiện được ghi kế hoạch vốn hàng năm của các dự án
Hiện tại, các cơ quan có thẩm quyền phân bổ vốn đầu tư phải căn cứ theo
từng dự án. Các dự án chỉ được ghi kế hoạch vốn đầu tư hàng năm của Nhà nước
khi có đủ các điều kiện sau:
- Đối với các dự án quy hoạch: có đề cương hoặc nhiệm vụ dự án quy hoạch
được duyệt theo thẩm quyền.
- Đối với các dự án ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư: phải phù hợp với quy hoạch
phát triển ngành và lãnh thổ được duyệt theo thẩm quyền.
- Đối với các dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư: phải có Quyết định đầu tư
từ thời điểm trước 31/10 năm trước năm kế hoạch.
- Đảm bảo thời gian và vốn bố trí để thực hiện các dự án nhóm B không quá
4 năm, dự án nhóm C không quá 2 năm.
* Điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư năm
Định kỳ, các Bộ, địa phương rà soát tiến độ thực hiện và mục tiêu đầu tư của
các dự án trong năm để điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư theo thẩm quyền hoặc trình
Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư, chuyển vốn từ các dự án
không có khả năng thực hiện sang các dự án vượt tiến độ, còn nợ khối lượng, các dự
án có khả năng hoàn thành vượt kế hoạch trong năm.
ii) Phân bổ vốn đầu tư XDCB:
* Nguyên tắc phân bổ vốn đầu tư XDCB cho các dự án trong kế hoạch năm:
- Bố trí tập trung vốn cho các dự án theo chỉ đạo của Quốc hội và Chính phủ
về điều hành kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán NSNN; bố trí đủ vốn để
thanh toán cho các dự án đã đưa vào sử dụng và đã được phê duyệt quyết toán vốn
đầu tư dự án hoàn thành mà còn thiếu vốn; bố trí vốn để thanh toán chi phí kiểm
toán, thẩm tra phê duyệt quyết toán của các dự án hoàn thành nhưng chưa được
cho từng dự án thuộc phạm vi quản lý đã đủ các điều kiện quy định, đảm bảo khớp
đúng với chỉ tiêu được giao về tổng mức đầu tư; cơ cấu vốn trong nước, vốn ngoài
nước, cơ cấu ngành kinh tế; mức vốn các dự án quan trọng của Nhà nước, dự án
nhóm A và đúng với Nghị quyết Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ về điều hành kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN hàng năm.
Các Bộ và Uỷ ban nhân dân các cấp phân bổ chi tiết vốn đầu tư phát triển
cho từng dự án theo mã dự án đầu tư và ngành kinh tế (loại, khoản) theo Phụ lục số
02 ban hành theo Quyết định số 33/2008/QĐ-BTC ngày 2/6/2008 của Bộ trưởng Bộ
Tài chính về Hệ thống mục lục ngân sách nhà nước và các văn bản sửa đổi, bổ sung.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 17
* Định mức phân bổ vốn đầu tư:
Để đảm bảo sự công bằng, công khai, minh bạch trong phân bổ vốn đầu tư giữa
Trung ương và địa phương, giữa các vùng miền trong cả nước, ngày 30/9/2010 Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg về nguyên tắc, tiêu chí
và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn NSNN giai đoạn 2011-2015.
Theo đó, định mức phân bổ vốn đầu tư trong cân đối được tính toán trên các
tiêu chí về dân số, trình độ phát triển, diện tích tự nhiên, đơn vị hành chính và các tiêu
chí bổ sung (tiêu chí thành phố đặc biệt; thành phố trực thuộc TW; thành phố loại 1
thuộc tỉnh; các tỉnh, thành phố, các vùng kinh tế trọng điểm; các trung tâm phát triển
của vùng và tiểu vùng).
* Thẩm quyền phân bổ vốn đầu tư
UBND các cấp lập phương án phân bổ vốn đầu tư trình HĐND cùng cấp
quyết định. Theo Nghị quyết của HĐND, UBND phân bổ và quyết định giao kế
hoạch vốn đầu tư cho từng dự án thuộc phạm vi quản lý đã đủ các điều kiện quy
định, đảm bảo khớp đúng với các chỉ tiêu được giao.
Riêng đối với các dự án được đầu tư bằng các nguồn vốn để lại theo Nghị
đất hoặc thuê đất theo các quy định của pháp luật về đất đai. Việc giải phóng mặt
bằng xây dựng công trình phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Việc giải phóng mặt bằng xây dựng công trình phải lập thành phương án.
Phương án giải phóng mặt bằng xây dựng công trình được thể hiện trong dự án đầu
tư xây dựng công trình và được phê duyệt đồng thời với phê duyệt dự án đầu tư xây
dựng công trình.
- Đối với dự án có nhu cầu tái định cư thì phải lập phương án tái định cư và
phải thực hiện trước khi giải phóng mặt bằng xây dựng.
- Phạm vi giải phóng mặt bằng xây dựng phải phù hợp với quy hoạch chi tiết
xây dựng và dự án đầu tư xây dựng công trình đã được phê duyệt.
- Thời hạn giải phóng mặt bằng xây dựng phải đáp ứng theo yêu cầu tiến độ thực
hiện dự án đã được phê duyệt hoặc quyết định đầu tư của người có thẩm quyền.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 19