Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các tổ chức được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất tại huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang - Pdf 41

MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục viết tắt

vii

Danh mục bảng

viii

Danh mục hình

ix

MỞ ĐẦU

1

1 Sự cần thiết của đề tài


1.1.4 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức

17

1.1.5 Khái quát tình hình quản lý và sử dụng đất của các tổ chức trên địa
bàn tỉnh Bắc Giang

22

1.1.6 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
1.2 Đánh giá chung về công tác quản lý, sử dụng
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

25
27
29

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

29

2.2 Nội dung nghiên cứu

29

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc
Giang

29



31

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

32

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Lục Ngạn

32

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

32

3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội

37

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và môi
trường

42

3.2 Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất trên địa bàn huyện Lục Ngạn

43

3.2.1 Đánh giá tình hình quản lý đất đai huyện Lục Ngạn



3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất
của các tổ chức được giao đất không thu tiền sử dụng đất trên địa
bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
3.4.1 Giải pháp về chính sách pháp luật
v

65
65


3.4.2 Giải pháp về kinh tế

65

3.4.3 Giải pháp về khoa học công nghệ

66

3.4.4 Giải pháp về tăng cường quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
trong thời gian tới

66

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

69

Kết luận


TT bảng

Tên bảng

Trang

3.1

Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bắc Giang năm 2014

23

3.2

Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của huyện Lục Ngạn qua một số năm

38

3.3

Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Lục Ngạn qua một số năm

38

3.4

Hiện trạng sử dụng đất huyện Lục Ngạn năm 2014

48



55

3.10 Phân loại tổ chức chưa được cấp GCNQSDĐ

56

3.11 Thống kê diện tích sử dụng đúng mục đích của các tổ chức

58

3.12 Tình hình cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng trái phép của các tổ
chức

60

3.13 Tình hình tranh chấp, bị lấn chiếm diện tích do tổ chức sử dụng năm
61

2014

viii


DANH MỤC HÌNH
TT hình
Hình 3.1

Tên hình
Sơ đồ vị trí địa lý của huyện Lục Ngạn

tế, trên tổng quỹ đất nhất định của đất nước. Đây là vấn đề được Đảng và Nhà nước
hết sức quan tâm, chú trọng giải quyết. Sự quan tâm đó được thể hiện qua Luật Đất
đai và hàng loạt các văn bản của Chính phủ và các Bộ, Ngành có liên quan với mục
đích là quản lý, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững tài nguyên đất.
Do vậy việc quản lý, sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất
không thu tiền sử dụng đất là nội dung quan trọng trong quản lý Nhà nước về đất
1


đai và được quy định cụ thể tại các điều 166, 170, 173 của Luật đất đai 2013 (NXB
Tài nguyên- Môi trường và Bản đồ Việt Nam, 2013). Quản lý, sử dụng đất của các
tổ chức để quản lý đối tượng tổ chức sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả.
Hiện nay diện tích đất các tổ chức đang quản lý, sử dụng chưa chặt chẽ, hiệu
quả thấp, xảy ra nhiều tiêu cực: sử dụng không đúng diện tích, sử dụng không đúng
mục đích, bị lấn chiếm, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn trái phép...
Nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn khách quan, việc đánh giá thực trạng quản
lý, sử dụng đất của các tổ chức là việc làm có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng
cường vai trò quản lý Nhà nước đối với nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng là đất
đai nói chung và đối với diện tích mà các tổ chức đang quản lý sử dụng nói riêng.
Vì vậy việc đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức để kịp thời
đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao việc sử dụng đất, tránh lãng phí là việc làm
hết sức cần thiết.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, tôi xin tiến hành nghiên cứu đề tài
“Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các tổ
chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất tại huyện Lục Ngạn,
tỉnh Bắc Giang”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng quản lý sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước
giao đất không thu tiền sử dụng đất trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất của

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (NXB Chính trị Quốc gia Hà
Nội, 2013) quy định “Điều 53: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản,

nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà
nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện
chủ sở hữu và thống nhất quản lý; Điều 54: 1. Đất đai là tài nguyên đặc biệt của
quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật; 2.
Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng
đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và
nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ; 3. Nhà
nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết
do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích
quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi
thường theo quy định của pháp luật; 4. Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp
thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong
tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai”.
Việc quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên đất đai đúng mục đích, hợp lý, có
hiệu quả, bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái sẽ phát huy tối đa nguồn lực của
đất đai, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.

4


1.1.1.2. Khái quát về đất tổ chức và tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền
sử dụng đất
Tổ chức sử dụng đất, quản lý đất (còn gọi là đối tượng sử dụng, quản lý đất)
là tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng hoặc được Nhà nước
công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang được sử dụng, được Nhà nước giao
đất để quản lý, quy định trong Luật Đất đai năm 2013 (NXB Chính trị Quốc gia Hà

Căn cứ Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính
phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai;
Căn cứ Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường Quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khách gắn liền với đất;
Căn cứ Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2015 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường Quy định về hồ sơ địa chính;
Căn cứ Quyết định số 124/QĐ-UBND ngày 08/12/2012 của UBND tỉnh Bắc
Giang Về việc đề phê duyệt quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011- 2020, kế hoạch
sử dụng đất kỳ đầu 2011- 2015 huyện Lục Ngạn.

1.1.2. Tình hình quản lý đất đai ở một số nước trên thế giới:
Hiện nay trên thế giới ngoài ý thức và tính pháp chế thực thi pháp luật của
chính quyền nhà nước và mọi công dân, chính sách pháp luật về lĩnh vực đất đai của
các quốc gia đang ngày càng được hoàn thiện. Trên cơ sở chế độ sở hữu về đất đai,
ở quốc gia nào cũng vậy, nhà nước đều có những chính sách, nguyên tắc nhất định
trong việc thống nhất chế độ quản lý, sử dụng đất đai. Một trong những chính sách
lớn được thực hiện tại nhiều quốc gia là chính sách giao đất cho người sử dụng đất
nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bình ổn chính trị, tạo sự công
bằng trong xã hội.
Mục tiêu chính trong các chính sách về giao đất cho người sử dụng đất ở bất
kỳ quốc gia nào giúp chính quyền nắm chắc, quản chặt và sử dụng hợp lý nguồn tài
nguyên đất. Hiện nay trên thế giới tồn tại chủ yếu 3 hình thức sở hữu về đất đai là
sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước. Ở đa số các quốc gia đều có các
hình thức sở hữu về đất đai ở trên , hiện tại còn có 1 số quốc gia như Lào, Triều
Tiên, Việt Nam và Cu Ba chỉ tồn tại duy nhất một hình thực sở hữu về đất đai là sở
hữu Nhà nước (hay sở hữu toàn dân ở Việt Nam) và ở các nước này việc giao đất
cho người sử dụng đất thông qua 3 hình thức như: giao đất có thu tiền sử dụng đất,


- Thực hiện phép “Quân điền” (bắt đầu từ năm 1429) theo đó các làng xã phải
thực hiện việc chia cấp ruộng công cho các dân định sử dụng theo thời gian, nhân

7


khẩu và quy chế của Nhà nước.
- Có chính sách cự thể về xác định quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai.
Hệ thống địa chính thời Hậu Lê đã góp phần tăng cường quyền lực cho nhà
nước phong kiến, tăng cường quyền lực cho bộ máy hành chính, điều chỉnh được
mối quan hệ giữa đất đai của nhà vua và đất đai tập thể của làng xã và đất đai tư
nhân của giai cấp địa chủ, gia tăng thuế cho quốc gia, phát triển kinh tế và sức sản
xuất phong kiến (Đặng Hùng Võ, Nguyễn Đức Khả, 2007).
1.1.3.3. Hệ thống địa chính của Nhà Nguyễn
Bắt đầu từ Gia Long (1802-1820) và hoàn chỉnh vào thời Minh Mạng (18201840) là sự tiếp nối và nâng cao hệ thống thời Hậu Lê, nội dung chính bao gồm:
Ban hành “Hoàng Việt luật lệ” hay còn gọi là “Luật Gia Long” vào năm 1815
gồm 398 điều trong đó có 14 điều về ruộng đất.
- Thực hiện phép “Quân điền” mới vào năm 1804, trong đó có chính sách thu
hẹp quỹ đất công, quan lại từ nhất phẩm trở xuống cũng được phân cấp đất công
theo định kỳ và nhân khẩu do nhà nước quy định.
- Thực hiện cải cách ruộng đất vào thời Minh Mạng với nội dung xác lập
quyền sở hữu tuyệt đối của Nhà vua về đất đai, thiết lập chế độ hạn điền, giảm bớt
quyền lực kinh tế của địa chủ (nhưng chỉ được thực hiện ở tỉnh Bình Định, không
triển khai được ra quy mô rộng do trở ngại ở tầng lớp địa chủ, quan lại).
- Phát triển mạnh mẽ quỹ đất đai toàn quốc thông qua khai khẩn đất hoang, tổ
chức dồn điền và dinh điền (Đặng Hùng Võ, Nguyễn Đức Khả, 2007).
1.1.3.4. Thời kỳ thực dân Pháp
Người Pháp điều chỉnh mối quan hệ đất đai ở Việt Nam theo 3 chế độ cai trị
cho Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ.
Ở Nam Kỳ, dưới chế độ thuộc địa trực trị (colonie), Thực dân Pháp điều

được tổ chức thành các lâm trường quốc doanh thuộc sở hữu Nhà nước.
Năm 1959, Hiến pháp lần thứ hai đươc ban hành đã xác nhận 3 hình thức sở hữu
đất đai: Sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Sở hữu nhà nước được ưu
tiên, sở hữu tập thể được bảo hộ và khuyến khích, sở hữu tư nhân bị hạn chế.
Đất nước thống nhất năm 1975, Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được thành lập, hiến pháp lần thứ 3 được ban hành vào năm 1980, theo hiến pháp
này quyền sở hữu tập thể và quyền sở hữu tư nhân về đất đai bị xóa bỏ, toàn bộ đất
đai thuộc sở hữu toàn dân.
9


Đồng thời vào năm 1980, Theo Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/01/1980 của Ban
bí thư Trung ương Đảng, sản xuất hợp tác xã và nông lâm trường quốc doanh dần
không hiệu quả đã thể hiện rõ rệt. Trung ương Đảng đã ban hành chính sách khoán
sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp.
Vào năm 1980, Tổng cục Quản lý ruộng đất được thành lập đã đẩy mạnh việc
điều tra lập bản đồ giải thửa để nắm chắc quỹ đất đai toàn quốc, được thể hiện thông
qua Chỉ thị 299/TTg (Thủ tướng Chính phủ, 1980).
Tư duy đổi mới được bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng khóa VI
(1986) đã đưa vấn đề lương thực- thực phẩm trở thành một trong ba chương trình
muc tiêu để đổi mới kinh tế.
Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị là văn kiện quyết
định nhằm đổi mới chế độ sử dụng đất nông nghiệp, khẳng định việc chuyển nền
nông nghiệp tự cung tự cấp theo hướng sản xuất hàng hóa.
Năm 1987, Quốc hội thông qua Luật Đất đai lần thứ nhất (gọi là luật đất đai
1987) với nội dung chủ yếu là thực hiện chính sách giao đất của hợp tác xã cho hộ
gia đình cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài, người không sử dụng đất phải trả lại
nhà nước để giao cho người khác sử dụng, các chủ sử dụng đất chưa được chuyển
quyền sử dụng đất đai, đất không có giá.
Năm 1992, Hiến pháp lần thứ tư được ban hành trong đó tiếp tục khẳng định

phố”.
Thứ ba, đối với chủ thể là cơ sở tôn giáo bổ sung thêm cơ sở “nhà nguyện”
và “niệm phật đường”.
Thứ tư, đối với chủ thể là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sửa đổi
theo hướng bỏ quy định điều kiện là phải “về đầu tư, hoạt động văn hóa, hoạt động
khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn định tại Việt Nam được Nhà nước Việt
Nam giao đất, cho thuê đất, được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở” mà
dẫn chiếu đến quy định của pháp luật về quốc tịch để xác định.
Thứ năm, đối với chủ thể là tổ chức, cá nhân nước ngoài, trước đây quy định
các chủ thể này đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư nhưng trên thực tế khi
các chủ thể này vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và thành lập doanh nghiệp theo
quy định của pháp luật về đầu tư. Vì vậy, chủ thể này được sửa đổi lại tên gọi trong
Luật Đất đai năm 2013 là “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”. Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài,
11


doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ
phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư.
1.1.4. Tình hình sử dụng đất đai ở nước ta
1.1.4.1. Hiện trạng sử dụng đất
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2014 (Tổng cục Thống kê, 2014), diện tích
đất tự nhiên của nước ta (bao gồm cả đất liền và các đảo nổi) là 33.115.052 ha.
Với tổng diện tích đất tự nhiên trên 33,11 triệu ha, nước ta có ¾ diện tích
lãnh thổ là đồi núi, được phân bố ở các tỉnh phía Bắc 15,80 triệu ha, (2,30 triệu ha ở
đồng bằng, tập trung tại hạ lưu các dòng song, các dải đất ven biển). Các tỉnh phía
Nam có 17,20 triệu ha diện tích đất tự nhiên với 6,70 triệu ha đất bằng chủ yếu ở
Đồng bằng sông Cửu Long.
Trên địa bàn cả nước, diện tích đất đang được khai thác sử dụng vào các mục
đích nông nghiệp và phi nông nghiệp là 28.592.216 ha, chiếm 86,34% diện tích đất

hàng năm và bằng 22,28% diện tích đất sản xuất nông nghiệp của cả nước; tập trung
chủ yếu ở vùng Tây Nguyên (599.892 ha), Duyên hải Nam Trung Bộ (375.720 ha).
+ Đất trồng cây lâu năm: có 3.312.221 ha, chiếm 34,53% đất sản xuất nông
nghiệp của cả nước, phân bổ tập trung ở 3 vùng: Đông Nam Bộ (1.009.128 ha), Tây
Nguyên (900.031 ha) và Đồng bằng sông Cửu Long (537.453 ha).
- Đất lâm nghiệp: có 14.767.106 ha đất lâm nghiệp, chiếm 44,59% diện tích
đất tự nhiên và 58,76% diện tích đất nông nghiệp. Vùng có diện tích đất lâm nghiệp
lớn nhất là Đông Bắc với 3.704.964 ha, chiếm 25,09% đất lâm nghiệp cả nước, tiếp
đó là Tây Nguyên có 3.081.781 ha chiếm 20,87%, vùng Bắc Trung Bộ 2.955.395 ha
chiếm 20,01% … Trong tổng diện tích đất lâm nghiệp, có 12.514.066 ha đất có
rừng đủ tiêu chuẩn và tạo độ che phủ của rừng đạt 37,79%, diện tích mới được
khoanh nuôi tái sinh và đất trồng rừng có 2.253.040 ha (trong đó khoanh nuôi phục
hồi rừng chiếm 51,51%).
- Đất nuôi trồng thủy sản: có 737.553 ha, chiếm 2,94% diện tích đất nông
nghiệp và 2,23% diện tích đất tự nhiên; trong đó diện tích đất nuôi trồng thủy sản
nước lợ, mặn chiếm phần lớn với 591.563 ha. Diện tích đất nuôi trồng thủy sản tăng
369.707 ha so với năm 2000, bình quân mỗi năm tăng 46 nghìn ha;
- Đất làm muối: có 13.699 ha, tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Cửu
Long với 4.469 ha và Duyên hải Nam Trung Bộ với 3.592 ha;
- Đất nông nghiệp khác: có 18.144 ha, chiếm 0,07% diện tích đất nông
13


nghiệp; trong đó tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long với 6.693 ha,
Duyên hải Nam Trung Bộ với 2.832 ha.
* Đất phi nông nghiệp: có 3.462.973 ha, chiếm 10,46% tổng diện tích đất tự
nhiên, tăng 621.675 ha so với năm 2000, bình quân mỗi năm tăng 76,6 nghìn ha.
Các vùng có diện tích đất phi nông nghiệp lớn như: Vùng Đồng bằng sông Cửu
Long (589.606 ha, chiếm 17,02% diện tích đất phi nông nghiệp của cả nước), Bắc
Trung Bộ (522.090 ha chiếm 15,08%), Bắc Trung Bộ (504.250 ha, chiếm 14,56%),

- Núi đá không có rừng cây 371.994 ha, giảm 247.423 ha so với năm 2000
(giảm 39,94 ha), bình quân giảm 30.928 ha/năm.
1.1.4.2. Hiện trạng sử dụng đất theo các mục đích sử dụng của các tổ chức
Tổng diện tích đất của các tổ chức dang quản lý, sử dụng trên toàn quốc là
7.833.142,70 ha, trong đó chủ yếu là diện tích đất sử dụng vào mục đích nông
nghiệp 6.687.695,59 ha (chiếm 85,38%), sử dụng mục đích phi nông nghiệp
845.727,62 ha (chiếm 10,80%), diện tích đất chưa sử dụng 299.719,49 ha (chiếm
3,83%), đất mặt nước ven biển được giao, cho thuê là 0,23%, cụ thể (Bộ Tài nguyên
và Môi trường, 2009):
* Đất nông nghiệp
Diện tích 6.687.695,59 ha, trong đó hầu hết các loại hình tổ chức đều có diện
tích đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp (trừ các tổ chức ngoại giao), loại hình tổ
chức sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu là: Các nông – lâm trường (chiếm 86,62%
tổng diện tích đất nông nghiệp), tổ chức sự nghiệp công (chiếm 5,12%), tổ chức
kinh tế (chiếm 4,13%), UBND cấp xã (chiếm 3,12%), các loại hình còn lại chiếm
diện tích đất nông nghiệp rất nhỏ; đối với diện tích đất nông nghiệp do UBND cấp
xã quản lý, sử dụng chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp (chiếm đến 66,43% tổng
diện tích đất nông nghiệp do UBND câp xã quản lý, sử dụng) phần lớn đây là diện
tích đất công ích, đất sản xuất nông nghiệp khó giao, …
* Đất phi nông nghiệp
Tổng số diện tích đất phi nông nghiệp của các tổ chức đang quản lý, sử dụng
là 845.727,62 ha, các loại hình tổ chức đều có diện tích đất phi nông nghiệp, tập
trung nhiều nhất là các tổ chức sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh (34,92%),
tổ chức kinh tế (24,79%), nông - lâm trường (18,13%), UBND cấp xã (13,79%), tổ
chức sự nghiệp công (6,62%), …
Diện tích đất phi nông nghiệp do các tổ chức quản lý, sử dụng như sau:
15


- Đất ở có 15.850,30 ha chiếm 1,87% tổng diện tích đất phi nông nghiệp của



UBND cấp xã (9,59%), và đất quốc phòng, an ninh (5,72%).
- Đất phi nông nghiệp khác có 158.221,64 ha, chiếm 18,71% gồm: nônglâm trường (51,61%), UBND cấp xã (19,23%), quốc phòng, an ninh (18,22%),
tổ chức kinh tế (5,38%); tổ chức sự nghiệp công (4,22%), các loại hình tổ chức
còn lại (1,35%).
* Đất chưa sử dụng
Diện tích đất chưa sử dụng của các tổ chức có 299.719,46 ha, chiếm 3,83%
diện tích đất của các tổ chức đang quản lý, sử dụng, chủ yếu là diện tích của nông,
lâm trường (51,36%), tổ chức sự nghiệp công (40,15%), các tổ chức kinh tế
(6,88%), UBND cấp xã (0,87%).
1.1.5. Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
1.1.5.1. Tình hình sử dụng theo mục đích được giao, được thuê, được công nhận
Năm 2010, cả nước có 146.912 tổ chức sử dụng đúng mục đích được giao,
được thuê với diện tích 7.148.536,47 ha, chiếm 91,26%. Trường hợp tổ chức sử
dụng đất để cho thuê trái phép, cho mượn hoặc sử dụng sai mục đích, đất bị lấn
chiếm tỷ lệ 2,47% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009).
- Cơ quan nhà nước có 15.189 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là
33.838,42 ha, đạt 95,63% so với tổng diện tích quản lý, sử dụng; diện tích đất cho
thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép đối với các cơ quan nhà nước
không nhiều nhưng vẫn có tình trạng xảy ra (cả nước có 235 cơ quan nhà nước cho
thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích là 190,42 ha,
trong đó chủ yếu là diện tích cho thuê trái pháp luật).
- Tổ chức chính trị có 1.439 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích
2.390,00 ha, đạt 75,30% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức
chính trị có số lượng tổ chức có diện tích đất cho thuê trái pháp luật, cho mượn,
chuyển nhượng trái phép không nhiều 42/1.439 tổ chức, nhưng diện tích vi phạm
tương đối nhiều (306,40 ha), chiếm 9,65% tổng số diện tích đang quản lý, sử dụng.
- Tổ chức xã hội có 952 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 1.373,87 ha, đạt
96,47% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức xã hội có 15 tổ chức cho

cho thuê, cho mượn thậm chí chuyển nhượng trái pháp luật, đặc biệt là tình trạng
cho thuê trái pháp luật của khối tổ chức UBND cấp xã chiếm đến 50,72% tổng số
diện tích cho thuê trái pháp luật của nhà nước. Đối với những tổ chức cho thuê đất
trái phép ở các tổ chức là UBND xã, phường, thị trấn thường xảy ra tình trạng lấy
18


đất nông nghiệp (sử dụng vào mục đích công ích), đất phi nông nghiệp (đã giao cho
UBND xã, phường, thị trấn sử dụng vào mục đích công cộng của địa phương) cho
hộ gia đình, cá nhân thuê nhưng không làm thủ tục thuê đất theo đúng quy định
pháp luật đất đai. Hoặc cho hộ gia đình, cá nhân thuê phần diện tích đất của đơn vị
không có nhu cầu sử dụng, hay chưa sử dụng để sản xuất kinh doanh.
- Nông, lâm trường có 653 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích là
5.615.419,13 ha, đạt 92,05% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các nông
lâm trường có 42 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái
phép với diện tích 5.006,21 ha, trong đó chủ yếu là diện tích đất cho mượn chiếm
66,26% tổng số diện tích đất cho mượn của cả nước (tập trung chủ yếu ở các nông –
lâm trường của các tỉnh Tuyên Quang, Tây Ninh, Bắc Giang, Lai Châu, … ), diện
tích đất cho thuê trái pháp luật chiếm 13,49% tổng diện tích cho thuê trái pháp luật
của cả nước (phần lớn tập trung ở các nông – lâm trường thuộc tỉnh Phú Thọ, Hải
Phòng, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh, … ).
- Quốc phòng, an ninh có 8.118 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích
là 319.689,47 ha, đạt 95,78% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng. Các tổ
chức sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh có 13 tổ chức cho mượn trái
phép với diện tích là 8,68 ha.
1.1.5.2. Sử dụng vào mục đích khác
Tình trạng sử dụng sai mục đích được giao, được thuê xảy ra ở đầu hết các
loại hình tổ chức, cả nước có 3.311 tổ chức sử dụng không đúng mục đích được
giao, được thuê với diện tích là 25.587,82 ha (Bộ Tài nguyên và Môi trường năm
2009), trong đó chủ yếu là các tổ chức sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status