BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIÊP
QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ CẤU TRÚC
VỐN ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI
CÁC CÔNG TY NGÀNH TIÊU DÙNG
NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN TP.HCM
Ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn: Th.sĩ Hà Minh Phước
Sinh viên thực hiện:
Lớp 12DTDN04
Nguyễn Phạm Kim Quốc
MSSV: 1211190839
TP.Hồ Chí Minh, 2016
i
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Tp.HCM, ngày tháng năm 2016
Ký tên
NGUYỄN PHẠM KIM QUỐC
iii
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em không có gì hơn, xin gởi đến quý thầy cô đang giảng dạy và làm việc tại
trường Đại Học Công Nghệ HUTECH lời chúc sức khỏe.Em xin chúc tất cả các thầy cô
giáo luôn thành công trong sự nghiệp giáo dục đào tạo cũng như mọi lĩnh vực trong cuộc
sống.
Em xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến thầy Hà Minh Phước, người đã tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ em trong suốt quá trình làm việc để em có thể hoàn thành tốt bài luận theo đúng
thời gian và quy định của trường.
Một lần nữa em xin chúc tất cả mọi người nhiều sức khỏe, luôn thành công trong công
việc và cuộc sống.
Em xin chân thành cảm ơn!
TP. HCM, ngày tháng năm 2016
Ký tên
NGUYỄN PHẠM KIM QUỐC
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kỳ vọng về dấu....................................................................................... 22
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các doanh nghiệp trong mẫu quan sát .......................... 26
Bảng 4.2 : Mối quan hệ giữa biến độc lập với biến phụ thuộc ............................... 30
Bảng 4.3 : Ý nghĩa của hệ số tương quan ............................................................... 30
Bảng 4.4 : Ma trận tương quan trong mô hình ROA .............................................. 30
Bảng 4.5 : Ma trận tương quan trong mô hình ROS ............................................... 31
Bảng 4.6 : Ma trận tương quan trong mô hình GOP .............................................. 31
Bảng 4.7 : Tổng hợp các mô hình theo biến phụ thuộc ROA................................. 33
Bảng 4.8 : Tổng hợp các mô hình theo biến phụ thuộc ROS ................................. 35
Bảng 4.9 : Tổng hợp các mô hình theo biến phụ thuộc GOP ................................. 38
Bảng 4.10 :Tổng kết Tác động của các biến từ kết quả nghiên cứu ....................... 39
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
Biểu đồ 3.1 Khả năng sinh lợi và các nhân tố ảnh hưởng ...................................... 22
Biểu đồ 4.1 Mức sinh lợi ROA, ROS của 30 công ty............................................. 27
Biểu đồ 4.2 Thống kê Quy mô của các công ty trong bảng.................................... 29
vi
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ...................................................................................... 1
1.1 Lý do chọn đề tài................................................................................................... 1
1.2 Đối tượng phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 1
1.3 Mục tiêu của đề tài ................................................................................................ 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 2
1.5 Kết cấu bài nghiên cứu ......................................................................................... 2
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUÂN.............................................................................. 3
5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu .......................................................................... 48
5.3.2 Hướng phát triển của đề tài .............................................................................. 49
Tài liệu tham khảo
Phụ Lục
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài:
Kinh tế xã hội ngày càng phát triển, các công ty mọc lên ngày càng nhiều, cạnh
tranh ngày càng gay gắt, quyết liệt. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì đòi
hỏi doanh nghiệp phải có một sức mạnh về chính cụ thể là vốn. Vốn là biểu hiện vật chất
không thể thiếu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong việc mở rộng quy mô
về chiều sâu và chiều rộng của mỗi doanh nghiệp. Vì thế doanh nghiệp phải luôn đảm
bảo vốn cho hoạt động của mình, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, từ đó
doanh nghiệp mới có thể tăng lợi nhuận, tăng thu nhập để tồn tại và phát triển. Để có thể
huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của mình, giảm thiểu được rủi ro tài
chình, chi phí sử dụng vốn, doanh nghiệp phải xác định cho mình một cấu trúc vốn hợp
lý. Sự kết hợp giữa nợ và vốn cổ phẩn thay đổi tùy theo các yếu tố tác động.
Vốn kinh doanh có thể được chia làm hai bộ phận gồm: vốn cố định là bộ phận vốn
đầu tư vào tài sản cố định gắn với quyết định đầu tư cơ bản và bộ phận vốn lưu động là
vốn đầu tư tạo ra tài sản lưu động nhằm phục vụ cho sự vận hành tài sản cố định, đảm
bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên, liên tục và
đạt mục tiêu đề ra với hiệu quả cao. Vì vậy quản trị VLC là một phần rất quan trong
trong công việc của nhà quản lý, có ảnh hưởng đến sự tồn vong của côn ty.
Chính vì thế tôi lựa chọn đề tài cho khóa luận này tiến hành phân tích thực nghiệm
để kiểm tra đánh giá sự ảnh hưởng của quản trị VLC và cấu trúc vốn đến khả năng sinh
lời của những doanh nghiệp ngành Tiêu dùng trên Sàn Chứng Khoán TP.HCM.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Để nghiên cứu mối quan hệ giữa việc quản trị VLC và khả năng sinh lời của công ty
chúng tôi lần lượt làm rõ các vấn đề sau:
2
CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Giới thiệu về vốn luân chuyển
Vốn luân chuyển (Working Capital) được định nghĩa là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn
và nợ ngắn hạn phải trả. Theo nghĩa rộng, vốn luân chuyển là giá trị của toàn bộ tài sản
ngắn hạn, những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty. Các yếu tố tác động
lên vốn luân chuyển là các khoản mục trong tài sản ngắn hạn như: hàng tồn kho, tiền mặt,
tiền gửi ngân hàng, khoản phải thu…và các khoản mục trong nợ ngắn hạn như: nợ ngân
hàng, phải trả người bán, thuế…
Vốn luân chuyển đo lường sức khỏe tài chính của một doanh nghiệp và nó đóng một vai
trò quan trọng trong việc tối đa hóa tài sản của cổ đông. Mỗi ngày các nhà quản lý tài
chính dành phần lớn thời gian để cân bằng các thành phần của vốn luân chuyển, điều này
để đáp ứng những nghĩa vụ trong ngắn hạn của công ty. Mục đích của bài nghiên cứu này
là xem xét mối quan hệ giữa các thành phần của vốn luân chuyển như hàng tồn kho,
khoản phải thu, khoản phải trả đối với lợi nhuận của công ty.
2.2. Nền tảng lý thuyết về quản trị vốn luân chuyển
Các công ty tốt luôn có các nhân viên tài chính có chuyên môn giỏi để phụ trách các vấn
đề hằng ngày liên quan tới các quyết định về vốn luân chuyển, vì vốn luân chuyển luôn
chiếm phần lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp và tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, từ
thành phần tài sản ngắn hạn này sang thành phần tài sản ngắn hạn khác, ví dụ: từ hàng
tồn kho chuyển thành thành phẩm, sau đó được bán ra và tạo ra doanh thu bán chịu,
doanh thu bán chịu này được công ty ghi nhận là một khoản nợ ngắn hạn được được coi
là sẽ được chi trả trong một khoảng thời gian ngắn bởi các khách hàng bên ngoài.
Đầu tư vào vốn luân chuyển và các thành phần liên quan đến tài chính ngắn hạn bắt
nguồn từ 3 hoạt động kinh doanh – mua nguyên vật liệu, sản xuất và bán hàng. Quản trị
vốn luân chuyển tốt trong vòng 1 năm có thể làm cho các hoạt động này trở nên hiệu quả
và linh hoạt hơn. Ngoài ra, các thành phần của vốn luân chuyển có thể gợi ra các giải
pháp quản lý hoạt động kinh doanh tốt hơn. Trên hết, quản trị vốn luân chuyển có thể làm
ưu tiền sẽ dụng nguồn vốn có sẵn vì họ không phải trả lãi suất trên những khoản vay nợ.
Một công ty không thể đảm bảo khoản nợ từ các tổ chức tài chính một cách nhanh chóng
với lãi suất rất rẻ trừ khi đó là để cải thiện năng suất sản xuất của công ty. Vì vậy, vốn nội
bộ đưa tới sự linh hoạt cho công ty (Brealey et al, 2006 pp 813-832).
2.2.1. Các nhân tố tác động tới nhu cầu vốn luân chuyển
2.2.1.1. Nhân tố bên trong
Loại hình kinh doanh: Nhu cầu vốn luân chuyển phụ thuộc vào kiểu kinh doanh của
công ty. Các doanh nghiệp sản xuất và thương mại sẽ nắm giữ nhiều hàng hóa và sẽ có
4
nhiều khoản phải thu cũng như nhiều khoản phải trả hơn. Vì vậy, nhu cầu về vốn luân
chuyển là rất lớn. Mặt khác, những doanh nghiệp dịch vụ như nhà hàng, khách sạn sẽ có
doanh thu tiền mặt và số lượng khách hàng nợ nhỏ. Do đó, nhu cầu về vốn luân chuyển
của loại hình doanh nghiệp này không nhiều bằng công ty sản xuất.
Quy mô công ty: công ty nhỏ, đặc biệt là những công ty mới thành lập sẽ không có đủ
vốn để trang trải hoạt động của họ, các chủ nợ sẽ không sẵn lòng cho công ty vay. Vì thế,
công ty có quy mô nhỏ sẽ có mức vốn lưu động thấp. Ngược lại, những công ty lớn với
lượng hàng hóa và con nợ khổng lồ sẽ liên tục phát triển và ngày càng cần nhiều vốn luân
chuyển hơn nữa.
Chính sách sản xuất của công ty: Nhu cầu vốn luân chuyển của công ty có thể bị ảnh
hưởng bởi chính sách sản xuất. Nhìn chung, có 2 trường phái chính sách sản xuất trường
phái lâu dài, công ty ước tính lượng vốn luân chuyển cố định của mình trong một giai
đoạn dài. Ngược lại, công ty có chính sách sản xuất thời vụ sẽ tăng sản xuất trong những
giai đoạn lượng hàng bán ra đạt đỉnh và những lúc đó nhu cầu vốn luân chuyển sẽ nhiều
nhất.
Chính sách bán chịu: Một vài công ty chỉ cho phép mua chịu trong 15 ngày, trong khi
một số khác lại cho phép khách hàng nợ đến 60 ngày. Khi số ngày bán chịu càng dài thì
công ty sẽ cần nhiều vốn lưu động hơn để trang trải những khoản chưa thu hồi được. Khi
vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm vay mượn.
Để chứng minh một lý thuyết khả thi, Modilligani và Miller (MM) đã đưa ra một số
những giả định đơn giản hoá rất phổ biến trong lý thuyết về tài chính: họ giả định là thị
trường vốn là hoàn hảo, vì vậy sẽ không có các chi phí giao dịch và tỷ lệ vay giống như
tỷ lệ cho vay và bằng với tỷ lệ vay miễn phí; việc đánh thuế được bỏ qua và nguy cơ
được tính hoàn toàn bằng tính không ổn định của các luồng tiền.
Nếu thị trường vốn là hoàn hảo, MM tranh luận rằng thế thì các doanh nghiệp có cơ
hội kinh doanh giống nhau và tiền lãi mong đợi hàng năm giống nhau phải có tổng giá trị
giống nhau bất chấp cấu trúc vốn bởi vì giá trị của một doanh nghiệp phải phụ thuộc vào
giá trị hiện tại của các hoạt động của nó, không phải dựa trên cách thức cấp vốn. Từ đây,
có thể rút ra rằng nếu tất cả những công ty như vậy có tiền lời mong đợi giống nhau và
giá trị giống nhau cũng phải có WACC giống nhau ở mọi mức độ tỷ lệ giữa nợ và vốn
chủ sở hữu.
Mặc dù những giả định về thị trường vốn hoàn hảo là không có thực, tuy nhiên, có 2 giả
thiết cần được nhấn mạnh và chúng có tác động đáng kể đến kết quả.
6
1. Giả định là không có việc đánh thuế: đây là vấn đề quan trọng và một trong những
thuận lợi then chốt của nợ là việc giảm nhẹ thuế cho những chi tiêu tiền lãi.
2. Nguy cơ trong lý thuyết của MM được tính toán hoàn toàn bởi tính biến đổi của
các luồng tiền. Họ bỏ qua khả năng các luồng tiền có thể dừng vì vỡ nợ. Đây là một vấn
đề đáng kể khác với lý thuyết này nếu nợ cao.
Đưa ra các giả định này có nghĩa chỉ có một thuận lợi của việc vay tiền (nợ rẻ hơn và ít
rủi ro cho nhà đầu tư) và một bất lợi (chi phí vốn chủ sở hữu tăng cùng với nợ vì tỷ lệ
vốn vay so với tổng vốn)
Modigliani và Miler chỉ ra là những tác động này cân bằng một cách chính xác. Việc sử
dụng nợ mang đến cho chủ sở hữu tỷ suất lợi tức cao hơn, nhưng lợi tức cao hơn này
chính xác là những gì họ bù đắp cho nguy cơ tăng lên từ tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn.
Với các giả thuyết trên, dẫn đến các phương trình cho lý thuyết của MM
Chính vì vậy đã nảy sinh mâu thuẫn giữa nhà quản lý và các cổ đông. Khi vay mượn để
đầu tư có hiệu quả thì các nhà quản lý không được hưởng toàn bộ lợi nhuận từ hoạt động
đó nhưng họ phải chịu toàn bộ chi phí cho hoạt động làm tăng lợi nhuận này.
Dự báo: Tăng tiền cho vay sẽ làm giảm lưu lượng tiền mặt tự do.
Giảm lưu lượng tiền tự do sẽ giảm những sự đầu tư NPV tiêu cực
Giảm những sự đầu tư NPV tiêu cực sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp (đặc biệt đối với
doanh nghiệp lớn có tiền mặt).
Điểm cốt yếu là các hoạt động liên quan đến vay mượn được xem như điểm mấu chốt của
hoạt động doanh nghiệp, nó đòi hỏi ban quản trị phải điều hành doanh nghiệp có hiệu quả
nhằm tránh những kết quả tiêu cực không thể trả lãi các khoản nợ của doanh nghiệp,
ngoài ra nó còn đòi hỏi ban quản trị phải dốc túi vào lưu lượng tiền mặt tự do đó. Vì vậy,
nảy sinh mâu thuẫn giữa các nhà quản lý và chủ nợ khi các chủ nợ lo sợ các khoản vốn
cho vay của mình không thể thu hồi khi kết quả đầu tư không hiệu quả do trách nhiệm
hữu hạn của các khoản đầu tư. Do đó, họ đưa ra các điều khoản hạn chế trong hợp đồng
vay.
Bằng chứng thực nghiệm phù hợp với điểm thuyết này ở những điểm sau:
1. Tỷ suất hối đoái tăng (giảm) theo tác dụng đòn bẩy sẽ làm tăng (giảm) giá trị cổ phiếu.
2. Các doanh nghiệp có tiền mặt lớn sẽ có tỷ lệ D/A cao hơn (D/A: Nợ/Tài sản)
8
Vấn đề trung gian ảnh hưởng đến kết cấu vốn
Giả thuyết của vấn đề này nằm trong quyền lợi tốt nhất của ban quản trị đối với việc đẩy
thấp tỷ suất vay nợ của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu khả năng phá sản bởi vị trí không
đa dạng của họ.
Dự đoán: Các doanh nghiệp sẽ bị đẩy lùi xuống bởi vấn đề trung gian và mức độ tác động
của đòn bẩy sẽ bị ảnh hưởng bởi mức độ giám sát của ban quản trị (các hội đồng quản trị
tích cực/độc lập, các nhà đầu tư tích cực) và sự khuyến khích sẽ được tạo ra cho ban quản
trị.
Bằng chứng thực nghiệm phù hợp với thuyết này ở điểm sau:
vay cao nhằm giám sát các doanh nghiệp phải tuân thủ các điều khoản trong hợp đồng
vay.
Ngoài ra, các điều khoản trong hợp đồng vay cũng hạn chế nhiều lợi ích của Doanh
nghiệo.
Thuyết cân bằng xác định kết cấu vốn tối ưu bằng cách cộng thêm vào mô hình
Modilligani và Miler (1958) các yếu tố phi hoàn hảo khác nhau, bao gồm thuế, chi phí
khánh tận tài chính và chi phí trung gian, song vẫn không mất đi các giả định tính hiệu
quả của thị trường và thông tin cân bằng. Như vậy, tác động tổng hợp 3 yếu tố: thuế, chi
phí khánh tận tài chính và chi phí trung gian khi sử dụng nợ với những tác động ngược
chiều nhau hình thành lý thuyết cấu trúc tài chính tối ưu.
Nhìn chung, việc đưa chi phí khánh tận tài chính và chi phí trung gian vào mô hình MM
và mô hình Modilligani và Miler (1958) dẫn đến lý thuyết cân bằng về cấu trúc vốn.
Những mô hình này đều thừa nhận một cấu trúc vốn tối ưu.
Thuyết Trật Tự Phân Hạng (Thông Tin Bất Cân Xứng)
Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf
(1984) dự đoán không có cơ cấu nợ trên vốn cổ phần mục tiêu rõ ràng.
Giả thuyết rằng ban quản trị cho biết về hoạt động tương lai của doanh nghiệp nhiều hơn
các nhà đầu tư bên ngoài (thông tin không cân xứng) và việc quyết định tài chính có lẽ
cho biết mức độ kiến thức của nhà quản lý và sự không chắc chắn về lưu lượng tiền mặt
tương lai.
10
Khi ban quản trị tin tưởng cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, họ có thể
phát hành chứng khoán (nguồn tài chính bên ngoài). Vì thế, khi doanh nghiệp đi theo thị
trường vốn bên ngoài, những thị trường này chấp nhận cổ phiếu được đánh giá cao hơn là
đánh giá thấp, và vì vậy, hoạt động này sẽ chuyển tải thông tin không thuận lợi cho các
nhà đầu tư. Kết quả là ban quản trị sẽ nỗ lực để tránh đi theo các thị trường vốn (nguồn
tài chính bên ngoài). Nếu ban quản trị đi theo những thị trường vốn này, có khả năng họ
làm giảm đi tính phi đối xứng của thông tin. Hơn nữa, Bayless và Chaplinsky (1996)
nhận thấy việc phát hành cổ phiếu tập trung vào giai đoạn ảnh hưởng của thông báo nhỏ
hơn. Nếu các chi phí phát sinh từ cấu trúc vốn tối ưu nhỏ so với dao động cuối cùng trong
chi phí phát hành, những dao động trước đây trong tỷ lệ giá cả thị trường so với giá cả
trên sổ sách sau đó có tác động lâu dài.
Mô hình thứ hai của điều chỉnh thị trường cổ phiếu có liên quan đến các nhà đầu tư
không đủ lý trí (hay các nhà quản lý) và định giá sai trong các khoản thời gian khác nhau
(hay sự am hiểu về định giá sai). Các nhà quản lý phát hành cổ phiếu khi họ tin rằng giá
trị của nó thấp và mua lại cổ phiếu khi họ tin rằng giá trị của nó cao. Ngược lại giá cả thị
trường so với giá cả trên sổ sách được biết rất rõ là có quan hệ với tiền lãi cổ phiếu tương
lai, và các giá trị tuyệt đối của giá cả thị trường so với giá cả trên sổ sách được liên kết
với những mong đợi quá xa của các nhà đầu tư. Nếu các nhà quản lý vẫn cố khai những
mong đợi quá xa như vậy, việc phát hành cổ phiếu thực tế sẽ có liên quan tích cực với giá
cả thị trường so với giá cả trên sổ sách, đây là một trường hợp theo lối kinh nghiệm. Nếu
không có cấu trúc vốn tối ưu, các nhà quản lý sẽ không cần thay đổi quyết định khi mà
các doanh nghiệp có vẻ như được đánh giá đúng và giá trị cổ phiếu là bình thường, bỏ
qua các dao động tạm thời trong giá cả thị trường so với giá cả trên sổ sách nhằm có
những ảnh hưởng vĩnh viễn lên nợ. Mô hình điều chỉnh thị trường thứ 2 không yêu cầu
thị trường phải thực sự không hiệu quả. Nó không đòi hỏi các nhà quản lý phải dự báo
thành công lãi của cổ phiếu. Đơn giản giả thuyết cho rằng các nhà quản lý tin rằng họ có
thể điều chỉnh được thị trường.
Theo thuyết này, các doanh nghiệp nợ thấp có xu hướng tăng nguồn vốn khi giá trị tiền
của họ cao, và ngược lại những doanh nghiệp nợ cao có xu hướng tăng nguồn vốn khi giá
trị tiền của họ thấp. Phần lớn cấu trúc vốn là kết quả liên tiếp của những nỗ lực điều
chỉnh thị trường cổ phiếu. Trong thuyết này, không có cấu trúc vốn tối ưu, vì thế mà các
quyết định tài chính điều chỉnh thị trường chỉ nhiều lên thành kết quả cấu trúc vốn theo
thời gian.
12
Shin và Soenen (1998b) đã lựa chọn 58985 công ty Mỹ, trong giai đoạn 1975-1994 để
điều tra có hay không mối quan hệ giữa kỳ luân chuyển tiền mặt của công ty và lợi
nhuận. Hai tác giả này đã sử dụng phân tích tương quan và hồi quy để nghiên cứu và đã
đưa đến kết quả là đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa lợi nhuận công ty và kỳ
13
luân chuyển tiền mặt. Lyroudi và cộng sự (1999) nghiên cứu trên mẫu gồm các công ty
niêm yết trên sàn chứng khoán London trong giai đoạn 4 năm và đã phát hiện được kỳ
luân chuyển tiền mặt có liên quan ngược chiều với lợi nhuận thuần, lợi nhuận trên tổng
tài sản và lợi nhuận trên vốn cổ phần.
Cote và Latham (1999) nhấn mạnh việc quản trị số ngày phải thu, tồn kho và phải trả
một cách hiệu quả có thể ảnh hưởng tích cực tới dòng tiền của công ty. Cuối cùng dòng
tiền đóng một vai trò sống còn trong quyết định sự tồn tại của công ty. Moyer và công sự
(2003) tìm ra rằng vốn luân chuyển chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng đầu tư của công ty vào
tài sản, 40% trong các công ty sản xuất, 50-60% đối với các doanh nghiệp bán lẻ và bán
sỉ. Công ty có thể giảm chi phí tài chính và tăng nguồn quỹ cho việc mở rộng sản xuất
nếu họ giảm xuống mức tối thiểu nguồn vốn bị cột chặt trong tài sản ngắn hạn.
Deloof (2003c) thu thập mẫu gồm 1009 công ty phi tài chính ở Bỉ từ năm 1992 đến 1996.
Tác giả sử dụng phân tích tương quan và hồi quy trong bài nghiên cứu này. Kết quả là lợi
nhuận hoạt động và các thành phần vốn luân chuyển có tương quan nghịch.
Jose và cộng sự (2003) trong nghiên cứu của mình đã lựa chọn 2178 công ty trong giai
đoạn 1974-1993 để ước tính mối quan hệ giữa lợi nhuận trên vốn đầu tư ROI và vòng
quay tiền mặt. Tác giả đã sử dụng phân tích hồi quy đa biến và đã kết luận được tồn tại
mối quan hệ ngược chiều giữa vòng quay tiền mặt và lợi nhuận công ty trong các ngành
sản xuất, bán lẻ, dịch vụ,…
Lazaridis và Tryfonidis (2006b) nghiên cứu trên mẫu 131 công ty niêm yết trên sàn
chứng khoán Athens trong giai đoạn 2001-2004. Họ đã quan sát thấy vòng quay tiền mặt
và số ngày phải trả có tương quan ngược chiều. Padachi (2006b) xác nhận mối quan hệ
ngược chiều giữa lợi nhuận và các thành phần của vốn luân chuyển.
vốn luân chuyển có tương quan ngược chiều với thành quả công ty. Gil và cộng sự
(2010) đã chứng minh được có tồn tại quan hệ có ý nghĩa giữa vốn luân chuyển và lợi
nhuận. Mathuva (2010) kết luận số ngày phải trả và số ngày tồn kho có tương quan cùng
chiều với lợi nhuận trong khi số ngày phải thu lại có quan hệ ngược chiều.
Danuletiu (2010) lựa chọn 20 công ty ở Alba để tìm hiểu mối quan hệ giữa vốn luân
chuyển và lợi nhuận trong giai đoạn 2004-2008. Biến phụ thuộc là vốn luân chuyển
thuần, trong khi đó biến độc lập gồm có lợi nhuận trên tài sản, lợi nhuận trên doanh thu,
lợi nhuận trên vốn cổ phần. Kết quả là đã tìm thấy có tồn tại mối quan hệ lợi nhuận – vốn
luân chuyển.
Gill, Biger và Mathur (2010) nghiên cứu trong phạm vi 88 công ty ở NewYork trong
khoảng thời gian 2005-2007. Số ngày phải thu, số ngày phải trả, số ngày tồn kho, logarit
của doanh thu, tỷ số nợ và vốn cổ phần là các biến độc lập. Thu nhập hoạt động là biến
15
phụ thuộc. Họ đã thống nhất được có tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa lợi nhuận và
số ngày phải thu. Vì vậy công ty cần phát triển các chiến lược hiệu quả nhằm thu hồi các
khoản nợ đúng hạn. Các tác giả cũng kết luận rằng mối quan hệ giữa vòng quay tiền mặt
và lợi nhuận là cùng chiều.
Dong (2010) kết luận rằng mối quan hệ giữa lợi nhuận và quản trị vốn luân chuyển ở
Việt Nam là ngược chiều trên mẫu gồm các công ty từ 2006 đến 2008. Điều này dẫn đến
sự thật là để tăng lợi nhuận thì một công ty cần giảm số ngày phải thu và số ngày tồn kho
xuống thấp nhất.
Ikram ul Haq, Sohail, Zaman, và Alam (2011) đo lường trên 14 công ty trong ngành xi
măng ở Pakistan trong thời kì 2004 đến 2009. Họ sử dụng số ngày phải thu, số ngày phải
trả, số ngày tồn kho, tỷ số thanh toán nhanh, tỷ số thanh khoản và tài sản ngắn hạn trên
tổng tài sản để dự đoán thay đổi trong tỷ số lợi nhuận trên đầu tư. Cuối cùng, kết luận là
mối quan hệ giữa các biến này là ở mức độ vừa phải.
Nobanee và cộng sự (2011) sử dụng dữ liệu của 2123 công ty phi tài chính Nhật Bản để
nghiên cứu và kết luận được nhà quản trị có thể tăng lợi nhuận thông qua giảm độ dài của
đã khá cũ so với hiện tại.
Theo Raheman and Nasr (2007), Alam (2011), Bagchi và Khamrui (2012), có một mối
quan hệ ngược chiều giữa nợ của công ty cũng như quy mô công ty, logarit của doanh thu
và lợi nhuận.
Mặt khác, những điều tìm thấy của Ganeshan (2007) và Mathuva (2010) lại khác.
Ganeshan nhấn mạnh rằng mối quan hệ giữa số ngày luân chuyển vốn và lợi nhuận thì
không có ý nghĩa. Họ nghiên cứu trên ngành viễn thông, khá khác so với ngành sản xuất.
Cũng trong nghiên cứu của mình, Mathuva (2010) đã kết luận mối quan hệ giữa số ngày
phải trả, số ngày tồn kho và lợi nhuận là cùng chiều, điều này mâu thuẫn với các nghiên
cứu khác. Mathuva nghiên cứu trên mẫu 30 công ty trên sàn Nairobi, một thị trường kém
phát triển hơn các thị trường phương tây rất nhiều, và đây có thể là lý do cho sự khác biệt
này.
2.4.2 Các nghiên cứu liên quan đến cấu trúc vốn
Abor (2005) Abor đã nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và khả năng sinh lời của
20 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Ghana. Kết quả cho thấy, mối
quan hệ dương giữa nợ ngắn hạn với hiệu quả hoạt động đo bằng tỷ số ROE và mối quan
hệ âm giữa nợ dài hạn với hiệu quả hoạt động đo bằng tỷ số ROE. Đối với tổng nợ,
nghiên cứu của Abor (2005) cho thấy mối quan hệ dương giữa tổng nợ và hiệu quả hoạt
động đo bằng tỷ số ROE. Kết quả nghiên cứu của Abor (2005) cho thấy rằng sự gia tăng
17