BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
____________________________________
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ SUẤT
SINH LỢI CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG NIÊM
YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN TP.HCM
Ngành: KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Hà Minh Phước
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Tường Vi
MSSV: 1211191233
Lớp: 12DTNH04
TP. Hồ Chí Minh, 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
____________________________________
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ SUẤT
SINH LỢI CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG NIÊM
YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN TP.HCM
Ngành: KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Khóa Luận Tốt Nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ,
giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gian tiếp của người khác. Trong suốt thời
gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được rất
nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của quý thầy cô.
Với lòng biết ơn sâu sắc, nhóm xin gửi đến quý Thầy Cô Khoa Kế Toán – Tài
Chính – Ngân Hàng – Trường ĐH Công Nghệ TPHCM đã cùng với tri thức và tâm
huyết của minh để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học
tập tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn Thạc Sĩ Hà Minh Phước đã tận tâm hướng dẫn em qua
những buổi thảo luận và hướng dẫn để em hoàn thành tốt Khóa luận tót nghiệp.
Bài khóa luận tốt nghiệp được thực hiện trong khoảng thời gian từ 26/03/2016 –
22/06/2016. Vì kiến thức còn hạn chế do đó không thể tranh khỏi những thiếu sót là
điều chắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý
Thầy Cô để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn.
Em xin chúc quý Thầy cô nhiều sức khỏe và niềm vui trong công việc.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn.
TP.HCM, ngày 22 tháng 06 năm 2016.
Tác giả
Nguyễn Thị Tường Vi
Trang ii
GVHD: Ths. Hà Minh Phước
Ho Chi Minh Stock Exchange
BCTC
Báo cáo tài chính
SMB
Small Minus Big
HML
High Minus Low
WML
Winners Minus Losers
CAPM
The Capital Asset Pricing Model
Fama-French
Fama-French Three Factor Model
Carhart
Carhart Four-Factor Model
1.5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................3
1.6. Kết cấu đề tài ....................................................................................................3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN ..............................................................................5
2.1. Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại: tiền đề tạo nên mối quan hệ giữa rủi ro
và tỷ suất sinh lợi .....................................................................................................5
2.2. Lý thuyết và các mô hình có liên quan. ............................................................6
2.2.1. Mô hình định giá tài sản vốn CAPM (Capital Asset Pricing Model). .......6
2.2.2. Mô hình 3 nhân tố của Fama- French (1993) .............................................8
2.2.3. Mô hình 4 nhân tố của Carhart .................................................................12
2.3. Tổng kết một số kết quả của các nghiên cứu có liên quan tại Việt Nam và trên
thế giới trong thời gian gần đây .............................................................................12
2.3.1. Nghiên cứu ở những nước trên thế giới ...................................................12
2.3.2. Những nghiên cứu tại Việt Nam ..............................................................14
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................16
3.1. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................16
3.2. Dữ liệu nghiên cứu .........................................................................................20
3.2.1. Nguồn dữ liệu ...........................................................................................20
3.2.2. Cách lấy và xử lý dữ liệu..........................................................................21
3.2.3. Mẫu nghiên cứu ........................................................................................24
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................27
4.1. Thống kê mô tả. ..............................................................................................27
4.2. Phân tích tương quan. .....................................................................................28
4.3. Thực hiện mô hình hồi quy. ............................................................................30
Trang v
GVHD: Ths. Hà Minh Phước
Khóa Luận Tốt Nghiệp
kiến thức về lĩnh vực chứng khoán. Rủi ro khi đầu tư vào TTCK là không thể tránh
khỏi. Do đó, nhà đầu tư phải cân nhắc trước khi quyết định lựa chọn mã chứng
khoán vào danh mục của mình để mang lại suất sinh lợi cao với mức rủi rothấp nhất
có thể chấp nhận được. Có nhiều nghiên cứu phân tích những nguyên nhân tác động
đến TTCK ví dụ như những nhân tố vĩ mô biến động của chu kỳ kinh tế trong nước
cũng như thế giới, biến động của lãi suất, tỷ giá hay giá vàng, giá dầu… hay nhân
tố vi mô như ảnh hưởng của thị trường, quy mô công ty, dòng tiền trên giá…Khi
đầu tư vào TTCK đòi hỏi phải có kiến thức về chứng khoán và lập trường riêng của
bản thân, nếu không sẽ lúng túng trước những thông tin hay báo cáo của thị trường
cũng như của doanh nghiệp. Càng khó khăn cho nhà đầu tư hơn khi tham khảo
những dự đoán của giới chuyên môn, tổ chức tài chính danh tiếng trên thế giới khi
nhận định về TTCK Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu các mô hình định giá chứng
khoán từ đó cho nhà đầu tư có kiến thức sâu hơn, tầm nhìn rộng hơn về TTCK là rất
quan trọng. Có nhiều tranh luận về các mô hình định giá này như: mô hình định giá
tài sản vốn, mô hình 3 nhân tố của Fama- French hay mô hình 4 nhân tố của
Carhart…Các mô hình này được nghiên cứu trên nhiều TTCK trên thế giới và mang
lại nhiều kết quả hữu ích cho nhà đầu tư khi tham gia vào TTCK. TTCK Việt Nam
Trang 1
GVHD: Ths. Hà Minh Phước
Khóa Luận Tốt Nghiệp
biến động rất bất thường, không thể chỉ dựa vào những phỏng đoán của giới chuyên
môn đặc biệt là đầu tư theo “tâm lý bầy đàn” của nước ta mà phải có cái nhìn sâu
sắc hơn, nhận định rõ ràng hơn để mang lại kết quả thỏa đáng. Như vậy, việc xem
xét các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán là rất cần thiết và giúp
cho các nhà đầu tư có thể an tâm khi đưa ra lựa chọn cho mình. Nhận ra điều tất yếu
đó, khóa luận này tiến hành kiểm định xem thử trong 3 mô hình trên mô hình nào là
giá trị tương quan với TSSL như thế nào.
Mô hình 4 nhân tố của Carhart thì thêm nhân tố xu hướng có mối quan hệ
như thế nào đối với TSSL.
Trong các mô hình thì mô hình nào phù hợp nhất để giải thích cho TSSL
của các chứng khoán thuộc nhóm ngành xây dựng trên sàn TP HCM giai
đoạn 2013 – 2015.
Trang 2
GVHD: Ths. Hà Minh Phước
Khóa Luận Tốt Nghiệp
1.4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu:BCTC đã được kiểm toán và thông tin được lấy từ Sở
giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh bao gồm: giá đóng cửa hàng ngày, vốn chủ
sở hữu, số lượng cổ phiếu đang lưu hành, chỉ số VN-Index… từ năm 2013 đến năm
2015 của 30 Công ty nhóm ngành Xây dựng trên Sàn Chứng khoán TP.HCM.
Khóa luận còn sử dụng khá nhiều tài liệu về mô hình CAPM, Fama-French
(1993) và mô hình 4 nhân tố của Carhart cũng như các nghiên cứu trước đây của
các nước có thị trường chứng khoán phát triển và thị trường chứng khoán ở các
nước đang phát triển như Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu:Khóa luận thực hiện nghiên cứu tổng quan và chi tiết
đối với ba mô hình là mô hình CAPM, Fama-French và Carhart với dữ liệu thực tế
thu thập được.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng mà cụ thể là phương pháp
thống kê mô tả, phân tích tương quan và phương pháp hồi quy để hiểu rõ hơn sự tác
động của 4 nhân tố: rủi ro thị trường, giá trị công ty, quy mô công ty và xu hướng
Do phạm vi kiến thức về tài chính nói chung cũng như kỹ năng phân tích và thống
kê nói riêng còn hạn chế, nên việc không thể không tránh khỏi những thiếu sót trong
quá trình thực hiện Khóa luận, rất mong nhận được nhiều sự đóng góp từ thầy cô để
tài của em được hoàn thiện hơn.
Trang 4
GVHD: Ths. Hà Minh Phước
Khóa Luận Tốt Nghiệp
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại: tiền đề tạo nên mối quan hệ giữa
rủi ro và tỷ suất sinh lợi
Được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1959 bởi nhà kinh tế học Harry
Markowitz, lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại khuyến nghị các nhà đầu tư hãy đa
dạng hóa danh mục đầu tư của mình. Bằng cách này họ có thể giảm rủi ro thị trường
tác động lên tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục mà mình đang nắm giữ.
Ngoài ra, Harry Markowitz còn phát triển nguyên lý trong việc xây dựng danh
mục đầu tư. Có một cụm từ đơn giản để hiểu về lý thuyết này đó là “Không để tất
cả trứng vào cùng một giỏ”. Một danh mục đầu tư được xem là hiệu quả khi có tỷ
suất sinh lợi kỳ vọng cao ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, để
làm được điều này không phải là chuyện dễ, bởi vì đầu tư vào chứng khoán luôn
kèm theo hai loại rủi ro cơ bản là rủi ro của chính chứng khoán và rủi ro thị trường.
Nếu không biết tính toán, linh hoạt và cân bằng giữa các loại rủi ro thì chắc chắn
danh mục đầu tư sẽ khó có lợi nhuận. Vì vậy, trước khi có bất cứ quyết định đầu tư
nào cần phải xem xét nhiều yếu tố:
• Mục tiêu của nhà đầu tư là gì?
Rf : là lợi nhuận không rủi ro
E(Rm): là lợi nhuận kỳ vọng của danh mục thị trường
βi: là hệ số beta thị trường của danh mục tài sản i.
Mô hình CAPM là mô hình mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ
vọng. Trong mô hình này, lợi nhuận kỳ vọng bằng lợi nhuận phi rủi ro (rick-free)
cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn hệ thống của chứng
khoán đó. Còn rủi ro không toàn hệ thống không được xem xét trong mô hình này
do nhà đầu tư có thể xây dựng danh mục đầu tư đa dạng hoá để loại bỏ rủi ro này.
Nhà đầu tư sẽ dựa trên rủi ro và tỷ suất sinh lợi từ mô hình để thiết lập đường thị
trường chứng khoán SML(security market line), họ đầu tư những chứng khoán đang
được định giá thấp (bên trên đường SML) và bán khống (nếu thị trường cho phép)
hoặc từ bỏ nắm giữ những chứng khoán bên dưới SML.Như vậy, khi hệ số beta
càng cao thì suất sinh lời của chứng khoán càng cao và vì vậy, cũng mang nhiều rủi
ro hơn. Beta bằng 0: Lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có beta bằng 0 chính là
lợi nhuận không rủi ro, Rf. Beta bằng 1. Lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có
beta bằng 1 chính là lợi nhuận thị trường, E(Rm). Quan hệ giữa lợi nhuận và hệ số
rủi ro beta của chứng khoán là quan hệ tuyến tính được diễn tả bởi đường thẳng
SML có hệ số góc là E(Rm) - Rf
Trang 6
GVHD: Ths. Hà Minh Phước
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Đây là mô hình cơ bản, tiền đề cho các mô hình sau.
Ngoài ra, lý thuyết mô hình CAPM, đi lên từ lý thuyết danh mục của
Markowitz, cho nên nó cần một số giả định sau:
•
•
Những giả định về thị trường vốn
(1)Lý thuyết thị trường vốn cho rằng thị trường vốn là thị trường cạnh tranh
hoàn hảo, nghĩa là số lượng người mua và người bán đủ lớn và tất cả các nhà đầu
tư riêng lẻ không thể ảnh hưởng tới giá cả tài sản giao dịch trên thị trường.
(2) Lý thuyết thị trường vốn còn giả định không có chi phí giao dịch và không
có sự can thiệp nào ảnh hưởng đến cung cầu trên thị trường.
(3)Cuối cùng lý thuyết thị trường vốn cho rằng nhà đầu tư có thể vay và cho
vay ở mức lãi suất phi rủi ro.
Thông thường, để lượng hóa mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi, người
ta thường sử dụng mô hình định giá tài sản vốn CAPM bởi vì đây là mô hình đơn
giản và có cơ sở lý thuyết khá vững vàng. Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình này
trên thực tế của các nghiên cứu thực nghiệm đã đặt ra những vấn đề cần phải quan
Trang 7
GVHD: Ths. Hà Minh Phước
Khóa Luận Tốt Nghiệp
tâm.
•
Những phát hiện bất thường khi áp dụng CAPM
Một số học giả khi áp dụng mô hình CAPM đã phát hiện ra một số điểm bất
thường khiến CAPM không còn đúng như trường hợp bình thường. Những điểm bất
thường bao gồm: Ảnh hưởng của qui mô công ty – Người ta phát hiện rằng chứng
BE/ME và quy mô công ty là những yếu tố có mối quan hệ mạnh nhất tới tỷ suất
sinh lợi cổ phiếu và vai trò của các yếu tố còn lại (đòn bẩy, E/P) là không cao khi
đưa hai yếu tố này vào mô hình.
Tiếp tục công trình nghiên cứu này, vào năm 1993 Fama và French đã công
bố mô hình 3 yếu tố nổi tiếng của mình.Trong mô hình này, ngoài hai yếu tố như đã
trình bày ở trên, hai ông đã đưa thêm vào yếu tố thứ ba đó là phần bù rủi ro cổ
phiếu.
Trong mô hình ba yếu tố của Fama và French, những cổ phiếu có giá trị vốn
hóa nhỏ (small-cap) được gọi là những cổ phiếu quy mô công ty nhỏ, những cổ
phiếu có giá trị vốn hóa lớn (big-cap) được gọi là những cổ phiếu quy mô công ty
lớn, những cổ phiếu có tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu
cao (high book-to-market) được gọi là những cổ phiếu “giá trị”, những cổ phiếu có
tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu thấp (low book-tomarket) được gọi là những cổ phiếu “tăng trưởng”. Trong mô hình này, những cổ
phiếu có giá trị vốn hóa nhỏ có một phần bù kỳ vọng cao hơn những cổ phiếu có giá
trị vốn hóa lớn và những cổ phiếu “giá trị” có một phần bù kỳ vọng cao hơn những
cổ phiếu “tăng trưởng”.
Phần bù giá trị đại diện cho sự khác nhau giữa suất sinh lợi bình quân của một
danh mục đầu tư của những cổ phiếu “giá trị” và suất sinh lợi bình quân của một
danh mục đầu tư của những cổ phiếu “tăng trưởng”. Giống như vậy, phần bù quy
mô công ty đại diện cho sự khác nhau giữa suất sinh lợi bình quân của một danh
mục đầu tư của những cổ phiếu có giá trị vốn hóa nhỏ và suất sinh lợi bình quân của
một danh mục đầu tư của những cổ phiếu có giá trị vốn hóa lớn.
Các yếu tố của mô hình Fama-French
Phần bù của thị trường (market premium): phần bù cho mức độ rủi ro mà các nhà
đầu
tư phải gánh chịu liên quan đến thị trường.
Trang 9
Suất sinh lợi kỳ vọng bình quân của cổ phiếu tại thời điểm t
Rmt : Suất sinh lợi của thị trường tại thời điểm t
R ft :
Lãi suất phi rủi ro (lãi suất của tín phiếu kho bạc) tại thời điểm t
β , s , h : Hệ số hồi quy riêng phần
SMBt (small minus big): Hiệu số giữa suất sinh lợi bình quân của danh mục
các cổ phiếu có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ và suất sinh lợi bình quân của danh
mục các cổ phiếu có giá trị vốn hóa thị trường lớn tại thời điểm t.
HMLt (high book-to-market minus low): Hiệu số giữa suất sinh lợi bình quân
của danh mục các cổ phiếu có tỷ số giá sổ sách trên giá thị trường cao (cổ phiếu “giá
Trang 10
GVHD: Ths. Hà Minh Phước
Khóa Luận Tốt Nghiệp
trị”) và suất sinh lợi bình quân của danh mục các cổ phiếu có tỷ số giá sổ sách trên
giá thị trường thấp (cổ phiếu “tăng trưởng”) tại thời điểm t.
Mô hình Fama-French vẫn cho rằng tỷ suất sinh lợi cao là phần thưởng cho sự
chấp nhận rủi ro cao. Hệ số si và hi lần lượt đo lường mức độ ảnh hưởng của hai
nhân tố SMB và HML đến tỷ suất sinh lợi của danh mục i. Danh mục i bao gồm
những cổ phiếu giá trị sẽ có hệ số hi cao và ngược lại đối với danh mục bao gồm
những cổ phiếu tăng trưởng sẽ có hệ số hi thấp. Tương tự, danh mục i bao gồm
quả cho thấy hai yếu tố quy mô và giá trị rất có ảnh hưởng trên thị trường chứng
khoán Mỹ. Nghiên cứu của Elhaj Walid và Elhaj Ahlem (2007)cho TTCK Nhật Bản
giai đoạn 1/2002 đến 9/2007.Kết quả nghiên cứu cho thấy ở Nhật Bản nhân tố quy
mô công ty và tỷ suất sinh lợi có quan hệ nghịch biến, còn nhân tố giá trị và tỷ suất
sinh lợi thì đồng biến.Nhân tố quy mô thể hiện rõ nét ở những chứng khoán có mức
vốn hóa thị trường nhỏ.R2 trung bình của Fama French là 78.2% lớn hơn so với R2
trung bình của CAPM là 70.5%.
Trang 12
GVHD: Ths. Hà Minh Phước
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Một nghiên cứu Nartea and Djajadikerta (2005) cho TTCK NewZealand đã sử
dụng dữ liệu từ 284 chứng khoán trong khoản thời gian 1994 đến 2002. Bài nghiên
cứu xác định phần bù giá trị ảnh hưởng ít, trong khi đó phần bù qui mô ảnh hưởng
đáng kể đến mô hình.
Nghiên cứu của Ajili (2005) cho thị trường chứng khoán Pháp, nghiên cứu
của Michael A. O’Brien (2007) cho thị trường chứng khoán Australia, cho thấy rằng
danh mục của nhóm công ty có quy mô nhỏ có suất sinh lợi trung bình cao hơn danh
mục của nhóm công ty có quy mô lớn và có mối tương quan nghịch biến giữa quy
mô công ty và suất sinh lợi của cổ phiếu. Các nghiên cứu này cũng cho thấy danh
mục của nhóm công ty có tỷ số BE/ME cao cho giá trị suất sinh lợi cao hơn danh
mục nhóm công ty có tỷ số BE/ME thấp. Cũng tương tự như thị trường chứng khoán
các nước phát triển, kết quả nghiên cứu tại các thị trường mới nổi như Connor and
Sehgal (2001), Bundoo (2004) cho thị trường chứng khoán Nam Phi, Drew và
Veeraraghavan (2003) cho thị trường các nước Hong Kong, Hàn Quốc, Malaysia và
Philippines cho thấy rằng danh mục của nhóm công ty có quy mô nhỏ có suất sinh
lợi trung bình cao hơn danh mục của nhóm công ty có quy mô lớn và có mối tương
công ty thuộc nhóm “tăng trưởng” thì có suất sinh lợi cao hơn các công ty thuộc
nhóm “giá trị”. Kết quả là mô hình Fama Frenchgiải thích tốt hơn mô hình CAPM
và R2 trung bình trong mô hình Fama French là 86.8% còn R2 trong mô hình CAPM
là 62.5%, kết quả này giống với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác nghiên cứu
trên các thị trường đã phát triển cũng như mới nổi.Tuy nhiên, trong nghiên cứu của
hai tác giả Vương Đức Hoàng Quân và Hồ Thị Huệ có một số vấn đề cần phải xem
xét lại, đó là (1) lãi suất phi rủi ro được sử dụng ở đây là lãi suất trái phiếu Chính
phủ kỳ hạn 5 năm, và (2) cở mẫu quá nhỏ (chỉ có 28 công ty). Lãi suất phi rủi ro là
lãi suất của tín phiếu kho bạc chứ không phải là lãi suất của trái phiếu Chính phủ kỳ
hạn 5 năm vì trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm có ẩn chứa yếu tố rủi ro là lạm
phát. Và cở mẫu quá nhỏ (chỉ có 28 công ty) nên ý nghĩa thống kê thấp và tính khái
quát vấn đề chưa cao.
Năm 2008, tại HOSE, tác giả Đinh Trọng Hưng có nghiên cức việc áp dụng
mô hình Fama – French trong việc định giá danh mục đầu tư. Nghiên cứu này cũng
có một số vấn đề cần phải xem xét lại, đó là (1) lãi suất phi rủi ro được sử dụng là
lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm, (2) không thấy phương trình hồi quy
nhưng lại có kết quả R2 của từng mã cổ phiếu, (3) cở mẫu cũng quá nhỏ (chỉ có 26
công ty), (4) thời gian quan sát quá ít (chỉ 15 tháng từ ngày 30/9/2006 đến ngày
Trang 14
GVHD: Ths. Hà Minh Phước
Khóa Luận Tốt Nghiệp
31/12/2007) và (5) cũng nghiên cứu trên HOSE năm 2008 và cho kết quả hồi quy
cũng giống như nghiên cứu của hai tác giả Vương Đức Hoàng Quân và Hồ Thị Huệ.
Tại HOSE (2010) nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Sĩ cũng cho thấy rằng
danh mục của nhóm công ty có quy mô nhỏ có suất sinh lợi trung bình cao hơn danh
mục của nhóm công ty có quy mô lớn hay có mối tương quan nghịch biến giữa quy
Phân tích tượng quan được thực hiện giữa các biến phụ th uộc (Ri – Rf) và các biến
độc lập (Rm – Rf, SMB, HML, WML). Giá trị tuyệt đối của Pearson càng gần đến 1
thì các biến này có mối tương quan tuyến tính càng chặt chẽ . Đồng thời cũng cần
phân tích tương quan giữa các biến độc lập. Vì những tương quan như vậy có thể
ảnh hưởng lớn đến kết quả của phân tích hồi quy như gây ra hiện tượng đa công
tuyến.
•
Phân tích hồi quy tuyến tính (Linear Regression): Được thực hiện cho từng
danh mục đầu tư theo phương pháp bình phương bé nhất thông thường (Ordinary
Least Square – OLS). Cụ thể, quá trình phân tính hồi quy được thực hiện lần lượt
qua các bước sau:
Kiểm định giả thuyết và độ phù hợp của mô hình
Kiểm định giả thuyết về ý nghĩa của hệ số hồi quy
Trang 16
GVHD: Ths. Hà Minh Phước
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Kiểm định giả định về hiện tượng đa cộng tuyến thông qua giá trị của dung sai
(Tolerance) hoặc hệ số phóng đại phương sai VIF (Variance Inflation Factor ). Nếu
VIF >10 thì có hiện tượng đa cộng tuyến.
Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến
•
Hệ số 𝑅𝑅 2 lớn nhưng tỷ số t nhỏ
Tương quan cặp giữa các biến giải thích cao
Trang 17