QUẢN lý GIÁO dục kỹ NĂNG SỐNG CHO học SINH TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG CHƯƠNG mỹ a, hà nội - Pdf 41

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI

NG TH PHNG THO

QUảN Lý GIáO DụC Kỹ NĂNG SốNG CHO HọC SINH
TRƯờNG TRUNG HọC PHổ THÔNG CHƯƠNG Mỹ A, Hà NộI
Chuyờn ngnh: Qun lý giỏo dc
Mó sụ: 60.14.01.14

LUN VN THC S KHOA HC GIO DC

Ngi hng dn khoa hc: TS. Phm Ngc Long

H NI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận
văn, tác giả đã nhận được sự động viên, khuyến khích và tạo
điều kiện giúp đỡ nhiệt tình từ nhiều thầy cô, đồng nghiệp và
bạn bè.
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS
Phạm Ngọc Long, người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận
tình chỉ bảo, giúp đỡ, góp ý, định hướng cho tác giả trong suốt
quá trình nghiên cứu.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các Giáo sư, Tiến sĩ, các thầy
giáo, cô giáo khoa Quản lí giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà
Nội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã


BGH
Bộ GD&ĐT
CBQL
CNH - HĐH
GD
GV
GVBM
GVCN
HĐGDNGLL
HS
HT
KNS
PHHS
QLGD
THPT
XH

Ban giám hiệu
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Cán bộ quản lý
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Giáo dục
Giáo viên
Giáo viên bộ môn
Giáo viên chủ nhiệm
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Học sinh
Hiệu trưởng
Kỹ năng sống

những thách thách đó và hành động theo cảm tính thì rất dễ gặp rủi ro.
Chính vì vậy trong Diễn đàn Thế giới về giáo dục cho mọi người họp tại
Senegan (2000); Chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó mục
tiêu 3 nói rằng “ Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương
trình giáo dục kỹ năng sống (KNS) phù hợp”, trong đó “người học” ở đây được hiểu
từ trẻ em đến người lớn tuổi, còn “ phù hợp” được hiểu là phù hợp với vùng, miền,
địa phương và phù hợp với lứa tuổi. Còn trong mục tiêu 6 yêu cầu” Khi đánh giá
chất lượng GD cần phải đánh giá KNS của người học”.Như vậy, học KNS trở
thành quyền của người học và chất lượng giáo dục phải được thể hiện cả trong kỹ
năng sống của người học.
Cho nên, giáo dục KNS cho người học đang trở thành một nhiệm vụ quan
trọng đối với giáo dục các nước. Giáo dục phải mang lại cho mọi người không chỉ
kiến thức mà cả KNS để sống trong xã hội dựa vào năng lực. Nhu cầu vận dụng
KNS một cách trực tiếp, hay gián tiếp được nhấn mạnh trong nhiều khuyến nghị
mang tính quốc tế, bao gồm cả trong việc thực hiện Công ước quyền trẻ em; trong
Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển….
Kĩ năng sống trở thành thành phần quan trọng trong nhân cách con người
trong xã hội hiện đại, vì chính xã hội hiện đại đòi hỏi con người phải có KNS để
thành công và sống có chất lượng. Giáo dục KNS trở thành một nhiệm vụ trong
nhiệm vụ giáo dục nhân cách toàn diện.
1


KNS góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, ngăn ngừa các vấn đề xã hội và
bảo vệ quyền con người. Việc phòng ngừa sớm những nguy cơ, bất lợi có thể xảy ra
sẽ thúc đẩy sự lành mạnh hoá xã hội và nâng cao sức khoẻ vật chất và tinh thần cho
chính mình và những người khác trong cộng đồng, đặc biệt là khi những tổn hại về
mặt sức khoẻ đều bắt nguồn từ hành vi cá nhân.
Các cá nhân thiếu KNS là một nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề xã
hội. Giáo dục KNS thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp nâng

7.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Trò chuyện, tọa đàm, trao đổi với các Hiệu trưởng, cán bộ quản lý, giáo viên,
học sinh
7.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học
Các phép toán thống kê mô tả (tần suất, điểm trung bình...) và thống kê suy
diễn (hệ số tương quan) được sử dụng trong xử lý kết quả nghiên cứu thực tiễn. Nhờ
các phép toán thống kê mà có thể rút ra được những kết luận khoa học, chuẩn xác,
phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài.
Xử lý số liệu thu được bằng chương trình SPSS for Windows 20.0.
8. Cấu trúc luận văn
Luận văn được cấu trúc gồm phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị; Danh
mục tài liệu tham khảo; Phụ lục và 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường
THPT Chương Mỹ A
Chương 3: Các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường
THPT Chương Mỹ A

5


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “Kỹ năng sống” đã xuất hiện
trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình “giáo
dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Những
nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan

nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Nghiên cứu xác định chương trình và hình thức giáo dục KNS: Đây là nội
dung được nhiều công trình nghiên cứu quan tâm. Các nghiên cứu này cho thấy:
chương trình, tài liệu giáo dục kỹ năng sống được thiết kế cho giáo dục không chính
quy là phổ biến và rất đa dạng về hình thức.
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Thuật ngữ kỹ năng sống được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương
trình của UNICEF (1996). “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng
chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” [dẫn theo 10].
Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và
giáo dục KNS ngày càng được mở rộng. Trong giai đoạn đầu tiên, khái niệm KNS
được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như: kỹ
năng tự nhận thức, giao tiếp, xác định giá trị, ra quyết định, kiên định và kỹ năng
đạt mục tiêu. Ở giai đoạn này, chương trình chỉ tập trung vào các chủ đề giáo dục
sức khỏe của thanh thiếu niên.
Giai đoạn 2 của chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng
sống”. Trong giai đoạn này nội dung của khái niệm kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng
sống đã được phát triển sâu sắc hơn. Cùng với việc triển khai chương trình nếu trên, vấn
đề KNS và giáo dục KNS cho học sinh đã được quan tâm nghiên cứu. Những nghiên
cứu về các vấn đề trên ở giai đoạn này có xu hướng xác định những kỹ năng cần thiết ở
các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia và đề xuất các biện pháp để hình
thành những kỹ năng này cho thanh thiếu niên (trong đó có học sinh THPT).
Vấn đề kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống cho HS phổ thông ở nước ta
7


đã và đang được đặc biệt quan tâm, có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà
khoa học đề cập tới vấn đề này, như Nguyễn Thanh Bình, Huỳnh Văn Sơn, Nguyễn
Thị Oanh và nhiều nhà tâm lý, giáo dục khác.
- Tác giả Nguyễn Thanh Bình, trong giáo trình “Giáo dục KNS” (2007)

đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày.
Theo UNICEF [dẫn theo 25]: “KNS là những kỹ năng tâm lý xã hội có liên
quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi
làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và
thách thức của cuộc sống”.
Đặng Quốc Bảo đã khẳng định: KNS là kỹ năng con người cần có để tồn tại
và phát triển khi xem xét con người trong ba mối quan hệ sau:
- Con người với chính bản thân mình.
- Con người trong các mối quan hệ xã hội.
- Con người trong mối quan hệ với tự nhiên.
Như vậy, dù có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau đi chăng nữa thì
chúng ta có thể hiểu KNS một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất là “khả năng thích
nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu
cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”. Đây là quan niệm mà chúng tôi sử
dụng để nghiên cứu trong luận văn này.
1.2.2. Giáo dục kỹ năng sống
Tác giả Nguyễn Thanh Bình quan niệm GD KNS như sau: "Giáo dục KNS là
giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành
mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả
kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng thích hợp" [3]
Giáo dục KNS là GD cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây dựng
những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở
giúp HS có thái độ, kiến thức, kĩ năng, giá trị cá nhân thích hợp với thực tế xã hội.
Mục tiêu cơ bản của GD KNS là làm thay đổi hành vi của HS, chuyển từ thói quen
thụ động, có thể gây rủi ro, dẫn đến hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang
tính xây dựng tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và
góp phần phát triển xã hội bền vững.
Giáo dục KNS nhằm tổ chức, điều khiển để HS biết cách chuyển dịch kiến
9


Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu
10


ước mơ, thích tìm tòi, khám phá, song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn
thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động,…Vì vậy, việc giáo dục giá trị
sống, rèn luyện KNS cho thế hệ trẻ là rất cần thiết.
Kỹ năng sống cơ bản của học sinh bao gồm kỹ năng ứng xử hợp lí với các
tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; kỹ
năng rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe; kỹ năng phòng, chống tai nạn
giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; kỹ năng ứng xử văn hóa,
chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội; suy nghĩ và hành
động tích cực; học tập tích cực.
1.3.1.2.Tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
Hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THPT có ý nghĩa to lớn trong sự phát
triển nhân cách của học sinh. Giáo dục kỹ năng sống là cầu nối giúp con người biến
kiến thức thành những hành động cụ thể, những thói quen lành mạnh. Những người
có kỹ năng sống là những người biết làm cho mình và người khác cùng hạnh phúc,
luôn vững vàng trước khó khăn, thử thách. Họ thường thành công hơn trong cuộc
sống, luôn yêu đời và luôn làm chủ được cuộc sống của mình.
Ngày nay sự phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực xã hội cũng có tác
động lớn đối với HS. Bên cạnh những mặt tích cực, thì những ảnh hưởng tiêu cực
của cơ chế thị trường, của sự bùng nổ thông tin, của sự du nhập lối sống thực
dụng... đã tác động mạnh mẽ đến các em. Đặc biệt, với học sinh THPT thì việc
trang bị kỹ năng sống là rất cần thiết. Nếu không được trang bị các kỹ năng sống
cần thiết và có bản lĩnh vững vàng thì các em dễ trở thành nạn nhân của tình trạng
lạm dụng hay bạo lực, căng thẳng, mất lòng tin, mặc cảm. Mất lòng tin, sự mặc
cảm làm các em không muốn tìm kiếm sự giúp đỡ tích cực của bạn bè. Giáo dục
KNS giúp các em xác định rõ giá trị của bản thân và khả năng sẵn sàng vượt qua
các khó khăn trong cuộc sống. KNS cũng giúp các em xác định những mục tiêu

vững vào cuộc sống của mình. Có thể khẳng định, GD KNS cho HS THPT là trang
bị cho các em một chiếc cầu nối giữa hiện tại với tương lai, giúp các em thích ứng
với cuộc sống hiện đại không ngừng biến đổi.
1.3.3. Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
1.3.3.1. Những kỹ năng sống cơ bản, cốt lõi
Những KNS cơ bản, cốt lõi là những KNS cần có để định hướng đúng đắn
cho tương lai và vận dụng vào trong mọi tình huống của cuộc sống như:
12


* Kỹ năng giao tiếp:
Kỹ năng giao tiếp là khả năng tiếp xúc, trao đổi thông tin, mong muốn, suy
nghĩ, tình cảm, cảm xúc,...là khả năng thể hiện các mối quan hệ tương tác giữa người
này với người khác về các vấn đề khác nhau. Kỹ năng giao tiếp giúp cá nhân bày tỏ
suy nghĩ, cảm xúc và tâm trạng của mình, giúp người khác hiểu mình hơn. Thái độ
thông cảm với người khác cũng góp phần giúp họ giải quyết vấn đề mà họ gặp phải.
Kỹ năng này nhằm giúp học sinh:
+ Nhận thức rõ tầm quan trọng của giao tiếp trong cuộc sống.
+ Có khả năng giao tiếp có hiệu quả.
+ Biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác.
+ Biết thông cảm, chia sẻ với người khác khi họ gặp khó khăn.
* Kỹ năng tự nhận thức bản thân:
Tự nhận thức là một kỹ năng sống rất cơ bản, nó giúp cá nhân hiểu rõ về
chính bản thân mình: đặc điểm, tính cách, sở thích, thói quen, thái độ, ý kiến, cách
suy nghĩ, cảm xúc, nhu cầu của chính mình, các mối quan hệ xã hội cũng như
những điểm tích cực và hạn chế của bản thân. Mỗi cá nhân đều có bản sắc riêng, có
những điểm mạnh, điểm yếu riêng, không ai là hoàn thiện cả, nhưng cũng không có
ai chỉ có toàn nhược điểm. Chúng ta ai cũng có những ưu điểm đáng tự hào và
những nhược điểm cần cố gắng, hoàn thiện thêm. Vì vậy mỗi học sinh cần nhận biết
và hiểu rõ bản thân, những tiềm năng, tình cảm, những cảm xúc cũng như vị trí của

* Kỹ năng ra quyết định:
Kỹ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn
phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống
một cách kịp thời. Trong một tình huống thường có nhiều sự lựa chọn để giải quyết.
Mỗi người phải lựa chọn, để ra một quyết định nhưng đồng thời cũng phải ý thức
được các tình huống có thể xảy ra do sự lựa chọn của mình. Do vậy, một điều quan
trọng cần làm là phải lường được những hậu quả trước khi ra quyết định để quyết
định của mình là tốt nhất. Ra quyết định đúng đắn có thể giúp các em có thái độ tích
cực khi đứng trước vấn đề cần giải quyết và có trách nhiệm đối với những quyết
định của bản thân. Có kỹ năng xác định các giải pháp và biết lựa chọn giải pháp tối
ưu để giải quyết vấn đề một cách có hiệu quả. Biết đánh giá kết quả của quyết định
14


đưa ra, đạt được mục đích trong học tập, nơi làm việc và trong cuộc sống riêng tư
của mình. Tránh được những sai lầm mà có thể gây ảnh hưởng cho chính bản thân
mình trong hiện tại và tương lai. Trong thực tế chẳng có ai có quyết định đúng đắn
ở tất cả mọi lúc. Nhưng bằng việc phát triển kỹ năng ra quyết định, các em có thể
làm cho cơ hội thành công trong cuộc sống của mình tăng lên. Với mỗi quyết định
đúng đắn, chúng ta có thể mang lại thành công cho cá nhân, niềm vui cho cha mẹ,
anh em, bạn bè và những người thân khác. Ở lứa tuổi THPT việc đưa ra quyết định
chín chắn là một trong những dấu hiệu chứng tỏ các em đã trở thành người lớn. Tuy
nhiên, đôi khi chúng ta cũng có những quyết định không phù hợp. Những quyết
định không phù hợp dẫn đến sự thất bại của bản thân, làm ảnh hưởng đến gia đình
và những người xung quanh.
Kỹ năng này nhằm giúp HS:
+ Luyện kỹ năng suy nghĩ có phê phán, tư duy sáng tạo, cân nhắc cái lợi, cái
hại của từng vấn đề để cuối cùng có được quyết định đúng đắn.
+ Nắm được các bước ra quyết định.
+ Biết đánh giá quyết định đã đưa ra.

việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.
Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết
và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm.
Có kỹ năng hợp tác là một yêu cầu quan trọng đối với người công dân trong
một xã hội hiện đại, bởi vì:
+ Mỗi người đều có những điểm mạnh và hạn chế riêng. Sự hợp tác trong
công việc giúp mọi người hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh
thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng và hiệu quả cao hơn cho
công việc chung.
+ Trong xã hội hiện đại, lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều phụ
thuộc vào nhau, ràng buộc lẫn nhau; mỗi người như một chi tiết của một cỗ máy
lớn, phải vận hành đồng bộ, nhịp nhàng, không thể hành động đơn lẻ.
+ Kỹ năng hợp tác còn giúp cá nhân sống hài hoà và tránh xung đột trong
quan hệ với người khác.
Để có được sự hợp tác hiệu quả, chúng ta cần vận dụng tốt nhiều kỹ năng sống
khác như: tự nhận thức, xác định giá trị, giao tiếp, thể hiện sự cảm thông, đảm nhận
16


trách nhiệm, ra quyết định, giải quyết mâu thuẫn, kiên định, ứng phó với căng thẳng...
*Kỹ năng đặt mục tiêu:
Mục tiêu là cái đích mà chúng ta muốn đạt tới, muốn thực hiện ở mỗi một
giai đoạn trong cuộc đời hay ở công việc nào đó. Mục tiêu có thể là sự mong muốn
hiểu biết (muốn biết về một cái gì đó), có thể là một hành vi (muốn làm được cái gì
đó) hay có thể là một sự thay đổi về thái độ.
Kỹ năng đặt mục tiêu là khả năng của con người biết đề ra mục tiêu cho bản
thân trong cuộc sống và lập kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó.
Đặt mục tiêu là kỹ năng quan trọng giúp cá nhân có sự chuẩn bị sẵn sàng,
định hướng tốt và biết xây dựng kế hoạch trong cuộc sống. Kỹ năng đặt mục tiêu
giúp chúng ta sống có mục đích, có kế hoạch và có khả năng thực hiện được mục

cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng thẳng. Do đó,
chúng ta cũng có thể hạn chế những tình huống căng thẳng bằng cách sống và làm
việc điều độ, có kế hoạch, sống vui vẻ, chan hòa, tránh gây mâu thuẫn không cần
thiết với mọi người xung quanh, không đặt ra cho mình mục tiêu quá cao so với
điều kiện và khả năng của bản thân... Để có cách ứng phó tốt với các tình huống
căng thẳng cần vận dụng các kỹ năng khác như kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao
tiếp, kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ, suy nghĩ linh hoạt, thương thuyết.
Kỹ năng này nhằm giúp học sinh:
+ Biết được một số tình huống dễ gây căng thẳng trong cuộc sống, cảm xúc
thường có khi căng thẳng.
+ Biết cách ứng phó tích cực khi ở trong tình huống căng thẳng.
*Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ:
Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta gặp những vấn đề, tình huống phải cần
đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác. Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ bao gồm
các yếu tố sau:
+ Ý thức được nhu cầu cần giúp đỡ.
+ Biết xác định được những địa chỉ đáng tin cậy.
+ Tự tin và biết tìm đến các địa chỉ đó.
+ Biết bày tỏ nhu cầu cần giúp đỡ một cách phù hợp.
Khi tìm đến các địa chỉ cần hỗ trợ, chúng ta cần:
+ Cư xử đúng mực và tự tin.
18


+ Cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng, ngắn gọn.
+ Giữ bình tĩnh khi gặp sự cố đối xử thiếu thiện chí. Nếu vẫn cần sự hỗ trợ của
người thiếu thiện chí, cố gắng tỏ ra bình thường, kiên nhẫn nhưng không sợ hãi.
+ Nếu bị cự tuyệt, đừng nản chí, hãy kiên trì tìm kiếm sự hỗ trợ từ các địa chỉ
khác, người khác.
Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ giúp chúng ta có thể nhận được những

1.3.4.1. Phương pháp thảo luận nhóm
Là phương pháp giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ. Các thành viên
trong nhóm trao đổi tự do về vấn đề giáo viên yêu cầu nhằm tạo điều kiện cho học
sinh bộc lộ quan điểm và ý kiến riêng, đồng thời lắng nghe ý kiến, quan điểm của
các bạn học khác.
1.3.4.2. Phương pháp nghiên cứu tình huống
Nghiên cứu tình huống là tổ chức cho người học nghiên cứu một câu chuyện,
mô tả một tình huống xảy ra trong thực tiễn cuộc sống. Đôi khi nghiên cứu tình
huống có thể được thực hiện trên băng hình mà không phải dưới dạng chữ viết. Vì
tình huống này được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nên
nó phải tương đối phức tạp với nhiều nhân vật và chứa đựng nhiều mâu thuẫn.
1.3.4.3. Phương pháp trò chơi
Là cách thức tổ chức cho HS tiến hành một trò chơi nào đó để tìm hiểu một
vấn đề hoặc được bày tỏ thái độ hay hành vi, việc làm phù hợp trong một tình
huống cụ thể. Giúp các em không những được phát triển về các mặt trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ mà còn được hình thành nhiều phẩm chất và hành vi tích cực.
1.3.4.4. Phương pháp đóng vai
Là phương pháp tổ chức cho người học thực hành, "làm thử" một số cách
ứng xử nào đó trong một tình huống giả định nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về
một vấn đề. Đây là phương pháp nhằm giúp người học suy nghĩ sâu sắc về một vấn
đề bằng cách tập trung vào một cách ứng xử cụ thể mà họ quan sát được. Việc
"diễn" không phải là phần chính của phương pháp này, mà điều quan trọng hơn là
sự thảo luận sau phần diễn ấy.
1.3.5. Các hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
1.3.5.1. Lồng ghép, tích hợp các môn học
Trong chương trình giáo dục, đã có rất nhiều hình thức nhằm GD KNS cho

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status