B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
TH CễNG
CUộC VậN ĐộNG XÂY DựNG NÔNG THÔN MớI
ở Xã ĐồNG LUậN - HUYệN THANH THủY - TỉNH PHú THọ
Từ NĂM 2010 ĐếN NĂM 2015
Chuyờn ngnh: Lch s Vit nam
Mó s : 60.22.03.13
LUN VN THC S KHOA HC LCH S
Ngi hng dn khoa hc: GS.TS: Nguyn Ngc C
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Công cuộc xây dựng
nông thôn mới ở xã Đồng Luận, huyện Thanh Thủy,
tỉnh Phú Thọ từ năm 2010 đến năm 2015” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi và tôi xin chịu trách nhiệm về lời
cam đoan này.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi thông tin trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
BCH
: Ban chấp hành
NTM
: Nông thôn mới
UBND
: Ủy ban nhân dân
HĐND
: Hội đồng nhân dân
MTTQ
: Mặt trận Tổ quốc
VH-TT-TT-DL: Văn hóa-Thông tin - thể thao - Du lịch
THCS
: Trung học cơ sở
SXKD
: Sản xuất kinh doanh
MT
: Môi trường
QH
: Quy hoạch
QCVN
: Quy chuẩn Việt Nam
NN
: Nhà nước
HTX
TN
Tuy nhiên, thực trạng nông thôn hiện nay chủ yếu vẫn còn là sản xuất
nhỏ lẻ, manh mún với gần 70% dân số hiện đang sống ở khu vực nông thôn
và 47% số lao động cả nước trong lĩnh vực nông nghiệp. Bình quân mỗi hộ
nông dân chỉ có 1,61 ha đất canh tác, trong đó đồng bằng sông Hồng là 0,35
ha/ hộ, Trung du và miền núi phía Bắc là 2,98 ha/ hộ, Bắc Trung Bộ là 1,76
ha/hộ, duyên hải miền Trung là 2,13 ha/ hộ, Tây Nguyên là 5,63 ha/hộ, Đông
Nam Bộ là 1,2 ha/hộ và đồng bằng sồn Cửu Long là 1,03 ha/hộ. Theo số liệu
của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, cả nước hiện có khoảng 95 triệu
mảnh đất nông nghiệp với tổng diện tích 9,4 triệu ha. Tỷ trọng vốn đầu tư xã
hội cho nông nghiệp có xu hướng giảm. Thu nhập của cư dân nông thôn còn
thấp, thu nhập hàng năm bằng 76,6% mức bình quân chung của cả nước và
chỉ bằng 47,5% so với thu nhập của cư dân đô thị, tỷ lệ hộ nghèo vẫn cao
nhất trong tổng số hộ nghèo của cả nước sống ở nông thôn. Mặt khác, do sản
1
xuất nông nghiệp mang tính rủi ro cao nên nguy cơ các hộ cận nghèo trở
thành hộ nghèo rất cao, hoặc hộ đã thoát nghèo nhưng nếu chỉ gặp rủi ro như
trong năm có người ốm, gia súc, gia cầm bị dịch bệnh… lại gặp nguy cơ tái
nghèo. Tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái có chiều hướng gia tăng, nhất
là ở những vùng nông thôn có tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh đã
tác động tiêu cực làm chậm đi việc xây dựng kinh tế vùng nông thôn
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang đặt ra cho Đảng
Cộng sản và Nhà nước Việt Nam những vấn đề cần giải quyết trong đó có
công cuộc xây dựng nông thôn mới là một trong những vấn đề trọng tâm mà
chúng ta đang thực hiện
Trước thực trạng nêu trên, tại Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung
ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa X ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã đề ra
Nghị quyết số 26 - NQ/TƯ về xây dựng nông thôn mới. Từ sau khi có nghị
quyết 26, chủ trương về xây dựng nông thôn mới đã chính thức được cụ thể
làm luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử.
Từ thực tế trên, thiết nghĩ việc nghiên cứu về vấn đề xây dựng nông
thôn mới ở xã Đồng Luận, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ vừa có giá trị
khoa học, vừa có giá trị thực tiễn.
Về khoa học, nhìn nhận vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong tổng
thể nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình phát triển và tốc độ đô thị hóa
ngày càng cao dẫn tới sự chênh lệch về mức sống dân cư ở thành thị với nông
thôn và giữa các khu vực nông thôn. Giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, nông
dân và nông thôn có ý nghĩa chiến lược đối với sự ổn định và phát triển kinh
tế ở đại bàn xã Đồng Luận nói riêng, cả nước nói chung.
Về thực tiễn, đề tài góp phần bổ sung, làm sáng tỏ, đầy đủ hơn vấn đề
xây dựng nông thôn mới ở xã Đồng Luận, góp phần đưa ra giải pháp thực
3
hiện đồng bộ thiết thực với lộ trình phù hợp để góp phần thực hiện thắng lợi
mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXX đề ra.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xây dựng nông thôn mới không phải là vấn đề mới lạ ở trên thế giới,
trước đó đã có mồi vài quốc gia như Hàn Quốc, Israel tiến hành xây dựng
nông thôn mới và đã đạt được những kết quả quan trọng, làm thay đổi nhanh
chóng bộ mặt nông thôn ở các quốc gia.
Ở Việt Nam, chương trình xây dựng nông thôn mới đã được đưa ra
trong mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Từ năm 2010, Thủ
tướng chính phủ Quyết định 193/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình rà soát quy
hoạch xây dựng nông thôn mới và Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2010 về
việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Nhiều địa phương trong cả
nước tích cực bắt tay vào xây dựng nông thôn mới, mỗi địa phương có những
Một số luận văn của các tác giả chỉ nghiên cứu về quá trình xây dựng
kinh tế nông nghiệp, các mô hình kinh tế, hoặc đưa ra các giải pháp nhằm xây
dựng nông thôn mới ở các huyện, tỉnh. Luận văn của Đặng Thị Nhung " Thực
trạng và giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hạ
Hòa tỉnh Phú Thọ". Luận văn của Nguyễn Ánh Hồng “ Đảng bộ huyện Thanh
Thủy - Phú Thọ lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1999 đến năm 2013”
Đặc biệt, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về quá trình tiến hành
thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa
bàn một xã, mà trực tiếp là xã Đồng Luận, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
giai đoạn 2010 – 2015.
5
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: việc tổ chức thực thi Chương
trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới của chính quyền xã Đồng
Luận. Mô hình nông thôn mới, các chủ thể tham gia quá trình xây dựng nông thôn
mới bao gồm các hộ nông dân, cán bộ các cấp, các tổ chức đoàn thể thuộc xã Đồng
Luận, Huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về không gian:
Xã Đồng Luận, Huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
* Phạm vi về thời gian
Nguồn số liệu thu thập phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn từ tình
hình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới ở Đồng Luận trong 5
năm từ 2010 đến 2015.
6. Đóng góp của luận văn
Trên phạm vi huyện Thanh Thủy luận văn là công trình đầu tiên được
nghiên cứu ở quy mô và phạm vi một luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử
Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho những người học tập, nghiên cứu
trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn giúp cho các nhà lãnh đạo ở các địa
phương có những chủ trương, giải pháp phù hợp trong phát triển nông nghiệp
7
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
gồm có ba chương:
Chương 1: Các yếu tố tác động đến công cuộc xây dựng nông thôn mới
ở xã đồng luận từ năm 2010 đến năm 2015.
Chương 2: Qúa trình xây dựng nông thôn mới ở xã đồng luận từ năm
2010 đến năm 2015.
Chương 3: Một số nhận xét về công cuộc xây dựng nông thôn mới ở xã
đồng luận từ năm 2010 đến năm 2015.
8
9
NỘI DUNG
Chương 1
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG CUỘC XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở XÃ ĐỒNG LUẬN TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015
Nông về làng Phú Thọ, thuộc tổng Yên Phú, huyện Sơn Vi, tỉnh Phú Thọ,
điều chuyển địa giới hành chính một số tổng, làng. Thời điểm này, tổng
Hoàng Xá có 9 làng gồm Đoan Hạ, Đoan Thượng, Đồng Luận, Đồng Phú,
Hoàng Xá, Phù Lao, Sơn Vi, Thủy Trạm, Trung Lập.
Sau ngày Cách mạng tháng 8 năm 1945, thực hiện chủ trương của
Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về việc sáp nhập một số làng
nhỏ thành liên xã, đổi tên làng thành thôn. Tháng 6 năm 1946, các thôn Đoan
Thượng, Đồng Luận, Đồng Phú (gồm Phú Thượng và Phú Hạ), Trung Hậu,
Đoan Hạ và Đồng Chùa được sáp nhập lại thành một xã lấy tên là Văn Minh.
Năm 1954, cấp trên quyết định chia xã Văn Minh thành 2 xã là Đồng Luận và
Đoan Hạ.
Ngày 26 tháng 01 năm 1968, Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá III nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà ra Nghị quyết số 504-NQ/TVQH về việc hợp
nhất tỉnh Phú Thọ với tỉnh Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú; xã Đồng Luận
thuộc huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Vĩnh Phú.
Ngày 5 tháng 7 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 178QĐ/CP “Về việc hợp nhất các huyện trong tỉnh Vĩnh Phú”, trong đó huyện
Tam Nông hợp nhất với huyện Thanh Thủy thành huyện Tam Thanh, Đồng
Luận là một trong 34 xã của huyện Tam Thanh, tỉnh Vĩnh Phú.
Ngày 26 tháng 11 năm 1996, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX đã ra
Nghị quyết chia tách tỉnh Vĩnh Phú thành 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Ngày
24 tháng 7 năm 1999, Chính phủ ra Nghị định số 59-NĐ/CP chia tách huyện
11
Tam Thanh thành hai huyện Tam Nông và Thanh Thủy, Đồng Luận thuộc
huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ.
Xã Đồng Luận gồm có 5 thôn: Đoan Thượng, Đồng Luận, Đồng Phú,
Trung Hậu và Đồng Chùa. Đồng Luận có 09 khu dân cư, dân số 5.478 người,
với tổng diện tích đất tự nhiên là 657,07 ha (6,57km2). Vị
trí địa lý mang lại những lợi thế hết sức quan trọng cho địa phương:
không lớn và đã bố trí sản xuất các loại rau màu ngắn ngày chủ yếu trồng ngô,
khoai, đậu và rau xanh các loại. Nhìn chung đất đai của xã khá thuận lợi cho
việc phát triển nông nghiệp bởi phù sa của sông Đà bồi đắp khá dày, đất có
màu nâu đậm, thành phần cơ giới trung bình, đất thịt pha cát có độ pH lớn
hơn 5,5, thành phần cơ giới thịt nặng và trung bình có độ pH nhỏ hơn 4,5.
* Về khí hậu, xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4
mùa rõ rệt, nhiệt độ cao nhất khoảng 36 - 38 oC (tháng 6 - 7), nhiệt độ thấp
nhất khoảng 9 - 12oC (tháng 02 - 03). Lượng mưa trung bình hàng năm 1300 1500 mm: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với nhiệt độ
trung bình 23 độ C, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,6
độ C. Tổng lượng mưa là 1832,2mm (chiếm 90,87% lượng mưa cả năm).
Lượng mưa các tháng đều vượt trên 100 mm với 104 ngày mưa và tháng mưa
lớn nhất là tháng 8 (339,6mm). Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào
tháng 3 với nhiệt độ xấp xỉ 20 độ C, tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 15,8 độ C;
Lượng mưa các tháng biến động từ 15,0 đến 64,4mm và tháng mưa ít nhất là
tháng 12 chỉ đạt 15mm [ 46, tr 3]. Lượng mưa dồi dào hàng năm cung cấp
nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt.Với nguồn nước ổn định đảm bảo
quanh năm, Đồng Luận có thể sản xuất thâm canh tăng vụ, trồng xen kẽ các
loại cây trong năm.
Chế độ gió một năm có hai mùa gió chính: Mùa đông có gió mùa Đông
Bắc, thường từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, mùa hè có gió Đông Nam
13
thường từ tháng 3 đến tháng 7. Gió Đông Nam chiếm ưu thế trong năm, sau
đó là gió Đông Bắc. Các hướng gió khác chỉ xuất hiện đan xen nhau với tần
xuất thấp không thành hệ thống.
Độ ẩm không khí bình quân 84%.
* Tài nguyên nước: Là xã có lượng cung cấp nước khá phong phú bởi
sông Đà và các hồ, đập chứa nước nhân tạo trong huyện.
mục chủ yếu: Đắp đập chính dài trên 1.352m cách đập Vai Vịt (hồ Phượng
Mao) phía dưới 1km, đập cao 17m, cao trình đỉnh đập + 43,4m, mặt đập rộng
6,5m được thiết kế kết hợp làm đường giao thông mặt thảm bê tông nhựa, lắp
đèn cao áp chiếu sáng. Đập phụ dọc đường tránh lũ dài gần 100m cao rộng
bằng đập chính, gia cố đập Vai Vịt hiện có, lắp đèn chiếu sáng xây dựng hệ
thống cống và tuyến kênh dài 6.420m. Đặc biệt đi cùng với hệ thống thủy lợi
sẽ có cả mạng lưới giao thông được xây dựng quy mô gồm cầu dài 45m chia
làm 3 nhịp bắc trên đập chính. Năm tuyến đường quản lý dài 9,4 km được xây
dựng đạt tiêu chuẩn cấp IV miền núi nhờ quản lý. Theo thiết kế lưu vực hồ
chứa là 15,9km2, dung tích 11,6 triệu m3 khối nước, trong đó dung tích hữu
ích 4,5 triệu m3. Hồ ngoài phục vụ tưới cho 1.000 ha đất nông nghiệp, nuôi
thủy sản ở Thanh Thủy, công trình còn phục vụ cấp nước sinh hoạt, nước
công nghiệp, phục vụ du lịch sinh thái.
Đầm Bạch Thủy: Nằm giáp danh giữa Đồng Luận với các xã Trung
Nghĩa, Trung Thịnh, đầm có diện tích mặt nước khoảng 35 ha là hồ chứa
nước tự nhiên vừa có nhiệm vụ dự trữ nước cung cấp cho hàng chục ngàn ha
đất sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho nhân dân. Đồng thời, tạo nên
không gian thắng cảnh tuyệt đẹp, phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi vãn cảnh cho du
khách.
Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm của xã tương đối dồi dào chia
làm hai dạng: nước ngầm mạch nông và nước ngầm mạch sâu. Nước ngầm
mạch nông được khai thác rộng rãi bằng các giếng đào ở độ sâu 4-15 m, lưu
lượng khai thác từ 0,02 - 2,4 l/s. Nước ngầm mạch sâu được khai thác bằng
15
giếng đào công nghiệp ở độ sâu 30 - 39 m, chiều dầy tầng chứa nước từ 112 115 m, lưu lượng khai thác từ 0,1-2,22 l/s [ 46, tr. 4]
Nhìn chung khí hậu và thời tiết hàng năm trên địa bàn xã Đồng Luận cơ
bản thuận lợi cho phát triển trồng trọt, chăn nuôi.