Giải pháp phát triển du lịch Tiền Giang trong hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 41

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ THỊ THOA

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TIỀN GIANG
TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Ngành : Kinh tế chính trị
Mã số: 62 31 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. Võ Quế
2. TS. Trần Thế Ngọc


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt tiếng Việt
Danh mục các chữ viết tắt tiếng Anh
Danh mục các bảng
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước
1.3 Đánh giá khái quát các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trang
1
2
3
4
5
6
7
17
17
21
29
31
31
65
78
78
102
123
131
135

138
138
139
150
165
168
171
172

:

Kinh tế xã hội

TP. HCM

:

Thành phố Hồ Chí Minh

UBND

:

Ủy ban Nhân dân

4


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH

ADB

:

Asian Development Bank - Ngân hàng Phát triển châu Á

ASEAN

:


:

International Union of Official Travel Organizations –
Hiệp hội Quốc tế các tổ chức du lịch

JATA

:

Japan Association of Travel Agent - Hiệp hội Du lịch Nhật
Bản

MICE

:

Meetings, Incentives, Conferences, and Events - Du lịch
thông qua tổ chức các sự kiện triển lãm, hội nghị, hội thảo.

ODA

:

Official Development Assistance - Hỗ trợ phát triển chính
thức

PATA

:


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1

Bảng 3.2
Bảng 3.3
Bảng 3.4

GDP của Tiền Giang giai đoạn 2010-2015 (theo giá thực
tế)
Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về dịch vụ du lịch
và dịch vụ liên quan
Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh của Tiền Giang
Số lượng lao động trong ngành du lịch Tiền Giang giai
đoạn 2010-2015

94

97
114
117

Bảng 3.5

Khách du lịch Tiền Giang giai đoạn 2010-2015

123

Bảng 3.6


an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, bảo vệ môi trường và giữ
vững an ninh, quốc phòng. Đặc biệt, khi Việt Nam trở thành thành viên của
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO),
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hiệp định đối tác xuyên Thái
Bình Dương (TPP)… ký 12 hiệp định hợp tác du lịch với các nước Đông
Nam Á, Trung Quốc, Pháp, Ubekistan… Hơn nữa, các doanh nghiệp du lịch
Việt Nam tham gia Hiệp hội Lữ hành Châu Á – Thái Bình Dương (PATA),
Hiệp hội các đại lý du lịch Nhật Bản (JATA)… du lịch trở thành vấn đề
mang ý nghĩa hợp tác quốc tế trọng điểm.

7


Trước bối cảnh HNKTQT ngày càng sâu rộng của ngành du lịch Việt
Nam nói chung và các địa phương trong đó có Tiền Giang, ngành du lịch
Tiền Giang đã phát huy lợi thế địa kinh tế, địa chính trị nằm trong vùng du
lịch đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
(KTTĐPN) và khai thác tiềm năng phong phú về tài nguyên du lịch sinh thái
tự nhiên, văn hoá truyền thống, lịch sử địa phương để phát triển du lịch thành
ngành kinh tế mũi nhọn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích
cực, nâng cao mức sống của người dân, bảo tồn các giá trị văn hoá, bảo vệ tài
nguyên môi trường, giữ vững an ninh quốc phòng…
Từ năm 2011 đến nay, Tiền Giang đã mời gọi các nhà đầu tư và thực
hiện xã hội hoá để đầu tư vào các công trình dự án du lịch trọng điểm như
khu du lịch cù lao Thới Sơn, khu du lịch Chợ nổi Cái Bè, khu du lịch biển
Tân Thành, bảo tồn các di tích văn hóa lịch sử, tôn tạo và phát huy giá trị các
nguồn tài nguyên du lịch, hỗ trợ và khuyến khích người dân tham gia phát
triển du lịch cộng đồng, bảo vệ môi trường… Với diện mạo mới mang lại từ
các công trình nói trên, du lịch Tiền Giang làm tăng thêm tính hấp dẫn du
khách trong và ngoài nước.

triển du lịch trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái,
truyền thống văn hóa lịch sử của tỉnh; đầu tư và thu hút đầu tư phát triển các
khu, điểm du lịch tiềm năng; nâng cao chất lượng, hiệu quả các dịch vụ du
lịch. Xúc tiến, mời gọi đầu tư để xây dựng các khách sạn cao cấp; nâng cấp,
cải tạo các cơ sở lưu trú và phát triển mô hình dịch vụ nghỉ đêm tại nhà dân.
Đầu tư phát triển các nhà hàng ẩm thực tập hợp các món ăn đặc sản của các
địa phương trong tỉnh. Đến năm 2020, số lượt khách đến tỉnh tham quan
khoảng 2,15 triệu lượt người, tăng bình quân 7,7%/năm; trong đó, khách
quốc tế chiếm 47,4% trên tổng du khách, tăng bình quân 15,3%/năm”; “…
xây dựng hình ảnh du lịch Tiền Giang xứng đáng là một điểm đến hấp dẫn,
đặc trưng của vùng ĐBSCL…”.

9


Để thực hiện những định hướng trong nghị quyết mà Đảng bộ tỉnh lần
thứ X đề ra, đẩy mạnh phát triển du lịch Tiền Giang trong bối cảnh
HNKTQT, góp phần tích cực vào phát triển KTXH, tạo hình ảnh, vị thế của
ngành du lịch Tiền Giang trong vùng ĐBSCL, vùng KTTĐPN, tạo thêm
nhiều việc làm và nâng cao thu nhập của người dân địa phương, đồng thời
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, đảm bảo sự phát triển
bền vững, đòi hỏi phải có những giải pháp phát triển du lịch Tiền Giang phù
hợp.
Trong bối cảnh đó, nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Giải pháp phát triển
du lịch Tiền Giang trong hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài nghiên cứu
luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Mục đích, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm góp phần đẩy mạnh phát triển
du lịch Tiền Giang trong bối cảnh HNKTQT.

dung có liên quan đến luận án. Vận dụng lý luận kinh tế chính trị Mác –
Lênin trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), các quan điểm của
Đảng, cơ chế chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển ngành du lịch
trong HNKTQT. Đồng thời, kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu
về ngành du lịch Tiền Giang trong quá trình phát triển KTXH của các nhà
khoa học đã được công bố nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau để
phân tích đánh giá và rút ra kết luận như: phương pháp phân tích tổng hợp,
hệ thống hoá, trừu tượng khoa học, phân tích so sánh, điều tra xã hội học,
phân tích ma trận SWOT, phương pháp dự báo…
Phương pháp phân tích tổng hợp là phương pháp sử dụng để hệ thống
hóa tài liệu thu thập được làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá tình hình đầu
tư cơ sở vật chất, kết quả hoạt động du lịch… dựa trên các tư liệu, tài liệu của
11


Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch; Cục Thống kê tỉnh Tiền Giang, Công báo,
các tạp chí chuyên ngành… Phương pháp này được sử dụng xuyên trong quá
trình nghiên cứu của luận án.
Phương pháp hệ thống hoá: được sử dụng để tổng quan tình hình
nghiên cứu trong và ngoài nước về phát triển du lịch trong HNKTQT ở
chương 1 và hệ thống cơ sở lý luận về phát triển du lịch trong HNKTQT ở
chương 2.
Phương pháp trừu tượng hoá khoa học là phương pháp gạt bỏ những
yếu tố ngẫu nhiên xảy ra trong những quá trình và những hiện tượng được
nghiên cứu, tách ra những cái điển hình, bền vững, ổn định trong những hiện
tượng và quá trình đó, trên cơ sở ấy nắm được bản chất của các hiện tượng,
từ bản chất cấp một tiến đến bản chất ở trình độ sâu hơn, hình thành những
phạm trù và những quy luật phản ánh những bản chất đó. Đây là phương


13


KHUNG PHÂN TÍCH LUẬN ÁN
Thể chế, chính sách phát triển du
lịch của Trung ương, vùng
ĐBSCL, Tiền Giang
Quan điểm
của Đảng
qua các kỳ
Đại hội về
du lịch

Chính
sách phát
triển du
lịch của
Tiền
Giang

Vị trí
địa lý

Yếu tố bên ngoài

Điều kiện
tự nhiên

Phát triển du lịch Tiền Giang

Một là, Tổng quan một cách có hệ thống các công trình nghiên cứu đã
có liên quan đến đề tài luận án ở trong và ngoài nước về phát triển du lịch
trong bối cảnh HNKTQT. Với những đặc điểm, đặc trưng, tiềm năng, thế
mạnh, những mặt tích cực cũng như lưu ý đối với phát triển du lịch cấp tỉnh,
trên cơ sở đó, luận án chỉ ra khoảng trống nghiên cứu và khẳng định đề tài
được lựa chọn không có sự trùng lắp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào
được công bố trước đó.
14


Hai là, Hệ thống hoá những vấn đề lý luận: xây dựng cơ sở khoa học
về phát triển du lịch cấp tỉnh trong HNKTQT. Đây là đóng góp quan trọng
cho chủ đề nghiên cứu và cơ sở lý luận cơ bản cho các nghiên cứu tiếp theo.
Ba là, Xác lập cơ sở thực tiễn: từ giới thiệu kinh nghiệm phát triển du
lịch của một số nước và một số địa phương của Việt Nam trong bối cảnh
HNKTQT, theo đó đưa ra một số nhận xét nhằm rút ra bài học kinh nghiệm
để Tiền Giang có thể tham khảo.
Bốn là, Đánh giá thực trạng, trên cơ sở trình bày tổng quan về du lịch
Việt Nam với HNKTQT, vị trí, tiềm năng và nguồn lực phát triển du lịch
Tiền Giang, luận án tập trung phân tích thực trạng phát triển du lịch Tiền
Giang giúp người đọc hình dung bức tranh toàn cảnh về du lịch Tiền Giang
trong giai đoạn 2010-2015.
Năm là, Từ việc nhận diện thách thức, cơ hội cũng như đánh giá điểm
mạnh, điểm yếu để phân tích môi trường bên trong và bên ngoài để định
hướng và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch Tiền Giang trong quá trình
HNKTQT, định hướng đến năm 2030.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận: luận án đã hoàn thiện cơ sở lý luận về phát triển du
lịch cấp tỉnh trong HNKTQT.
Về mặt thực tiễn: trên cơ sở xây dựng các luận cứ khoa học về phát

giới (WTTC), Tổ chức du lịch thế giới (WTO) và Hội đồng Trái đất (Earth
council) đã ứng dụng những nguyên tắc của Agenda 21 [128] vào du lịch,
phối hợp xây dựng một chương trình hành động với tên gọi “Chương trình
nghị sự 21 về du lịch: Hướng tới sự phát triển về môi trường”. Chương trình
này đã đưa ra các lĩnh vực ưu tiên hành động với mục đích xác định và dự
kiến các bước tiến hành. Đồng thời, nhấn mạnh sự cần thiết phải phối hợp
hành động giữa các chính phủ, phân tích tầm quan trọng về chiến lược và
kinh tế của ngành du lịch, nêu bật những lợi ích to lớn của việc phát triển du
lịch theo hướng bền vững. Vai trò của du lịch trong nền kinh tế thế giới ngày
càng được coi trọng hơn bởi du lịch còn là cầu nối hợp tác, hoà bình, hữu
nghị giữa các quốc gia trên thế giới, nhất là trong giai đoạn toàn cầu hoá và
HNKTQT. Đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
phát triển du lịch trong bối cảnh HNKTQT. Liên quan đến chủ đề nghiên cứu
này có thể chia thành các nhóm vấn đề như sau:
Vấn đề về du lịch trong bối cảnh toàn cầu hoá của các tác giả William
F. Theobald (2005) với đề tài “Global Tourism” (Du lịch toàn cầu) [134];
Joachim Willms (2007) với đề tài “The Future Trends in Tourism – Global
Perspectives” (Xu hướng du lịch trong bối cảnh hội nhập) [117]; UNWTO
(2010) với đề tài “Integration of Tourism into National Emergency
Structures and Processes” (Hội nhập của du lịch vào các cấu trúc khẩn cấp
quốc gia và quy trình) [132]. Các nghiên cứu này chỉ ra tầm quan trọng của
17


ngành du lịch trong phát triển KTXH và những thành tựu to lớn mà nó mang
lại cho cả nhân loại. Du lịch được lựa chọn là một lĩnh vực ưu tiên phát triển
kinh tế của nhiều quốc gia, nó góp phần vào sự phân phối lại của cải của xã
hội, góp phần xoá đói, giảm nghèo và tạo việc làm cho người lao động. Các
nghiên cứu cũng cho rằng, ngành du lịch thường xuyên bị tác động trước
những biến động tình hình thế giới như: khủng hoảng chính trị, xung đột tôn

Wahab và John J. Pigram (1997) với đề tài “Tourism, Development and
Growth – The Challenge of Sustainability” (Du lịch, phát triển và tăng
trưởng - ứng phó thách thức) [126]; Andrew Lockwood và Slavoj Medlik
(2003), với đề tài “Tourism and Hospitality in the 21st century” (Du lịch và
sự hiếu khách trong thế kỷ 21) [107] và UNWTO (2005) với “Tourism
Vision 2020” (Tầm nhìn du lịch đến 2020) [131]. Các nghiên cứu đã đánh giá
các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành du lịch để đưa ra các dự
báo về xu hướng phát triển của ngành du lịch thế giới trong tương lai và các
thách thức đối với sự phát triển du lịch. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa
đề cập đến các vấn đề về vai trò của Nhà nước trong quản lý phát triển du
lịch, chưa phân tích những tác động của xu thế HNKTQT đến ngành du lịch
địa phương cấp tỉnh.
Vấn đề về phát triển du lịch bền vững và quản lý môi trường , có các

công trình của Carmela (2014), “Best Practices in Integrating Sustainability
in Tourism Management and Operations” (Kinh nghiệm điều hành phát triển
du lịch bền vững) [108] và Charles R. Goeldner và J.R. Brent Ritchie (2006)
với đề tài “Tourism: Principles, Practices, Philosophies” (Nguyên tắc, thực
tiễn và triết lý) [110]; Honey (1998), “Ecotourism and Sustainable
Development: Who Owns Paradise?” (Du lịch sinh thái và phát triển bền vững:
Ai sở hữu thiên đường?) [115]; Hens (1998), “Tourism and Environment” (Du
lịch và môi trường) [114]; WCED (1996), “Sustainable Report of the World
commission on Environment and Development: Our common Future” (Báo cáo
của Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển: Tương lai chung của chúng
19


ta) [133]; Emaad Muhanna (2006), “Sustainable Tourism Development and
Environmental Management for Developing Countries” (Phát triển du lịch bền
vững và Quản lý môi trường đối với các nước đang phát triển) [112]. Các

động phát triển du lịch; mối quan hệ giữa phát triển du lịch và mục tiêu xoá
đói, giảm nghèo và đưa ra các gợi ý cho các quốc gia, khu vực và quốc tế về
xây dựng chính sách. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đề cập đến những
tác động của quá trình HNKTQT đến quá trình phát triển du lịch cấp tỉnh; vai
trò của Nhà nước trong quản lý phát triển du lịch nhất là việc hài hòa lợi ích
giữa doanh nghiệp và người dân nghèo của địa phương.
1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước
Từ đầu những năm 1990, nhiều nghiên cứu về phát triển du lịch nhằm
hạn chế các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch, đảm bảo sự phát triển
lâu dài. Một số loại hình du lịch quan tâm đến môi trường đã bắt đầu xuất
hiện như: du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, du lịch khám phá, du lịch thay
thế, du lịch mạo hiểm… đã góp phần nâng cao hình ảnh về một loại hình du
lịch có trách nhiệm, đảm bảo sự phát triển bền vững. Hiện nay, trong nước đã
có nhiều công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc và mang tính định
hướng cao nhất là sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150
của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
đã ban hành “Chương trình hành động của ngành Du lịch” [5], kèm theo
Quyết định 564/QĐ-BVHTTDL ngày 21/9/2007, nhằm thực hiện Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về một số chủ
trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững hơn khi
Việt Nam là thành viên của WTO giai đoạn 2007-2012, du lịch càng được
chú trọng, thu hút các nhà nghiên cứu, các chuyên gia hoạch định chính sách.
Chương trình này xác định rõ nhiệm vụ của các cơ quan quản lý Nhà nước về
du lịch ở Trung ương, địa phương, của các doanh nghiệp du lịch nhằm tận
dụng cơ hội, vượt qua thách thức, đưa du lịch nước ta bước vào giai đoạn
phát triển mới, nhanh hơn, mạnh mẽ hơn và bền vững, phấn đấu đạt và vượt
các chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn
21




trên phân tích số lượng khách; tập trung phát triển một thị trường khách;
đánh giá hoạt động du lịch dựa trên việc khai thác tài nguyên chứ chưa chú
trọng đến phân tích đánh giá về phát triển du lịch cấp tỉnh trong quá trình hội
nhập quốc tế hoặc phân tích vai trò quản lý, hoạch định chính sách, công tác
quy hoạch du lịch, công tác kiểm tra, giám sát của chính quyền địa phương
trong quá trình phát triển du lịch trong HNKTQT.
Vấn đề về phát triển vùng địa phương và vai trò của chính quyền địa
phương cấp tỉnh trong phát triển các ngành và lĩnh vực tại địa phương của
các tác giả Nguyễn Ký và cộng sự (2006) với đề tài “Đổi mới nội dung hoạt
động của các cấp chính quyền địa phương trong kinh tế thị trường và hội
nhập kinh tế quốc tế” [38]; Lương Xuân Quỳ (2002), đề tài “Quản lý nhà
nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay” [35]; Hoàng Văn Hoan (2002), “Hoàn thiện quản lý nhà nước về
lao động trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam” [33]. Các nghiên cứu tập
trung phân tích làm rõ vai trò quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị
trường, trong đó có sự so sánh giữa vai trò nhà nước trong nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
nghiên cứu quá trình hình thành các cấp hành chính và điều chỉnh quy mô
các đơn vị hành chính địa phương ở Việt Nam cũng như đòi hỏi của nền kinh
tế thị trường và hội nhập quốc tế đối với các cấp chính quyền địa phương; vai
trò quan trọng của chính quyền địa phương trong xây dựng, triển khai quy
hoạch, kế hoạch nhất là đối với quy hoạch cấp vùng. Tuy nhiên, các nghiên
cứu này mới chỉ đề cập đến việc quản lý Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế nói
chung hoặc một mãn của lĩnh vực du lịch (lĩnh vực lao động) chứ chưa đi vào
phân tích vai trò quản lý của chính quyền địa phương đối với ngành du lịch
trong quá trình HNKTQT.
Cũng đề cập đến vấn đề vai trò của Chính quyền địa phương cấp tỉnh
trong phát triển du lịch cấp tỉnh có nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Cường
23

24


Hải Yến (2011) với đề tài “Tài nguyên du lịch” [41]. Các nghiên cứu này đã
đi sâu giải quyết các vấn đề như: vai trò và ý nghĩa của mục tiêu quy hoạch
du lịch; phân tích hệ thống lãnh thổ du lịch trong du lịch vùng du lịch; giải
quyết các vấn đề dân sinh, bảo tồn văn hóa lịch sử, môi trường, liên kết vùng
trong thực hiện các dự án quy hoạch; công tác quản lý, sử dụng, bảo vệ, tôn
tạo, phát triển tài nguyên môi trường. Tuy nhiên, vấn đề về đánh giá vai trò
quản lý của Nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong thực hiện
quy hoạch phát triển du lịch trong HNKTQT chưa được đề cập đến.
Vấn đề về nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch. Có công
trình nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2010) với đề tài “Năng lực cạnh
tranh điểm đến của du lịch Việt Nam” [68]; Trần Thùy Trang (2015) với đề
tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch thành phố Hồ Chí
Minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” [70]; Nguyễn Thạnh Vượng
(2016) với đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch tỉnh Tiền
Giang” [103]. Các nghiên cứu đã phân tích và làm rõ vai trò quan trọng
quyết định đến hoạt động kinh doanh phát triển du lịch đó là nâng cao năng
lực cạnh tranh điểm; các vấn đề liên quan đến việc nâng cao năng lực cạnh
tranh điểm đến là chất lượng các dịch vụ du lịch của điểm đến, xây dựng
được hình ảnh du lịch thật hấp dẫn, đa dạng hóa các loại hình du lịch, có
chính sách hỗ trợ kịp thời cho các tổ chức kinh doanh dịch vụ du lịch, gia
tăng sự hấp dẫn của sản phẩm/dịch vụ du lịch; phát triển cơ sở hạ tầng… Tuy
nhiên, các nghiên cứu này chỉ mới đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực
cạnh tranh của ngành du lịch dựa trên các nâng cao chất lượng dịch vụ, đa
dạng hóa sản phẩm chứ chưa đề cập đến việc nâng cao vai trò quản lý của
Nhà nước về phát triển du lịch cấp tỉnh trong HNKTQT và những giải pháp
giải quyết mâu thuẫn các lợi ích từ việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong
quá trình phát triển du lịch cấp tỉnh và trong HNKTQT.

Việt Nam; những vấn đề đặt ra đối với phát triển du lịch bền vững; kinh
nghiệm về phát triển du lịch bền vững của một số quốc gia khu vực Châu Á –
26



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status