LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Marketing không chỉ là một chức năng trong hoạt động kinh doanh, nó
còn là một triết lý dẫn dắt toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp trong việc phát
hiện, đáp ứng và làm thoả mãn nhu cầu khách hàng. Vì vậy, mỗi doanh nghiệp
cần phải xác định thi trường của mình là gì, khách hàng của mình là ai, họ muốn
gì và mong muốn gì từ sản phẩm của doanh nghiệp? doanh nghiệp cần phải làm
gì, làm như thế nào để làm cho khách hàng hài lòng và quay trở lại.
Trong điều kiện kinh tế phát triển và hội nhập như hiên nay, cạnh tranh
luôn là yếu tố để các doanh nghiệp hướng tới. Để tồn tại, phát triển, mỗi doanh
nghiệp phải biết tự làm mới mình, không chỉ tận dụng cơ hội, phát huy những
thế mạnh mà còn phải biết đối mặt với những thách thức mà nền kinh tế mang
lại. Do vậy trước tình hình thị trường sôi động và phức tạp, doanh nghiệp kinh
doanh xuất bản phẩm nói chung và NXB Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ
Việt Nam nói riêng đang phải cố gắng tìm cho mình một hướng đi đúng đắn để
thích nghi với những điều kiện mới. Để củng cố và giữ vững vị thế của mình
trên thương trường các doanh nghiệp cần phải ứng dụng Marketing một cách
hiệu quả bởi Marketing có khả năng kết nối hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp với thị trường, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh hướng theo thị
trường, biết lấy thị trường và nhu cầu khách hàng làm cơ sở cho mọi quyết định
kinh doanh.
Nhận thức rõ vai trò to lớn của việc ứng dụng Marketing đối với hoạt
động của doanh nghiệp kinh doanh XBP trong nền kinh tế thị trường nên em đã
chọn đề tài : “Ứng dụng Marketing trong kinh doanh xuất bản phẩm tại
Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam” làm chuyên
đề nghiên cứu của mình.
2. Phạm vi của đề tài.
1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ VAI TRÒ CỦA MARKETING TRONG
KINH DOANH XBP TẠI NXB TÀI NGUYÊN – MÔI TRƯỜNG VÀ BẢN
ĐỒ VIỆT NAM.
1.1
Cơ sở lý luận về Marketing.
1.1.1 Khái niệm và chức năng của Marketing.
1.1.1.1
Khái niệm.
Marketing là thuật ngữ Tiếng Anh , nó được sử dụng lần đầu tiên vào
năm 1902 tại trường Đại học Michigan, Hoa kỳ. Khi mới ra đời từ thuật ngữ này
có tên là “Market” và trong suốt một trời gian dài Marketing chỉ giới hạn trong
lĩnh vực thương mại. Vào những năm 1970, trong điều kiện cạnh tranh độc
quyền gay gắt, nhiệm vụ của Marketing ngày càng phức tạp. Chính vì vậy lĩnh
vực áp dụng của Marketing được mở rộng. Nó không chỉ được áp dụng trong
khuôn khổ nội địa mà còn được mở rộng trên thị trường quốc tế, không chỉ đối
với những sản phẩm hữu hình mà còn cả những sản phẩm vô hình. Tuy nhiên
cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong việc đưa ra một định nghĩa
về Marketing. Bài viết xin trích dẫn một số định nghĩa marketing của các tổ
chức hoạt động trong ngành :
Theo hiệp hội Marketing của Mỹ:
Marketing là thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm hướng vào
dòng vận chuyển hàng hóa dịch vụ từ người sản xuất tới người tiêu thụ hoặc
người sử dụng.
Theo Philip Kotle:
Marketing là một hoạt động của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu
và mong muốn của họ thông qua trao đổi.
+ Sản xuất chưa phát triển, phạm vi thị trường, số lượng nhà cung cấp
còn hạn chế, thị trường do người bán kiểm soát.
+ Phạm vi hoạt động của Marketing chỉ bó hẹp trong lĩnh vực thương mại
nhằm tìm kiếm thị trường để tiêu thụ những hàng hóa hoặc dịch vụ có sẵn.
4
+ Triết lý của Marketing cổ điển : Bán cái mà nhà sản xuất có nhằm mục
tiêu thu lợi nhuận tối đa cho người bán.
Trong thời kỳ này thì doanh nghiệp tập trung nguồn lực thúc đẩy tiêu
thụ, tìm mọi cách để tăng khối lượng sản phẩm hàng hóa được sản xuất ra. Bán
được càng nhiều hàng và thu được nhiều lợi nhuận là tiêu chuẩn để đánh giá
chất lượng và hiệu quả kinh doanh.
Khi nền kinh tế thị trường phát triển vượt bậc do ảnh hưởng của cuộc
cách mạng KHKT và các nhân tố khác đã làm cho cung cầu vượt lên, giữa sản
xuất và tiêu dùng có khoảng cách lớn thì vị trí và vai trò của người mua trong
quan hệ mua – bán trên thị trường có sự thay đổi. “ Thị trường của người bán”
nay đã trở thành “thị trường của người mua” buộc các nhà sản xuất kinh doanh
từ chỗ chi phối thị trường nay phải xác định được nhu cầu , mong muốn của thị
trường và khách hàng, từ đó tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn
đó bằng những cách thức có ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Marketing hiện đại.
Theo quan điểm hiện đại thì Marketing là chức năng quản lý doanh
nghiệp về mặt tổ chức, bao gồm việc quản lý toàn diện hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, từ việc phát hiện ra nhu cầu thị trường đến việc tổ chức sản
xuất ra những hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu và đến việc tổ chức phân
phối chúng, rồi bán chúng nhằm thỏa mãn tối đa những nhu cầu được phát hiện
ra để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất. Mục tiêu của Marketing hiện đại là thu
được lợi nhuận cho người bán, cho nhà sản xuất thông qua việc thỏa mãn tốt nhu
Định hướng khách hàng dẫn dắt toàn bộ hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
+ Toàn bộ nỗ lực của doanh nghiệp phải được liên kết với nhau thành
một hệ thống và hướng tới mục tiêu chung là thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của
khách hàng.
+ Lợi nhuận không chỉ là bán hàng mà xuất hiện với tư cách là đối tượng
được tìm kiếm liên tục (doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận mang tính chất chiến
lược).
6
1.1.1.3
Chức năng của Marketing.
Với vai trò là bộ phận tạo ra khách hàng cho doanh nghiệp, tùy theo
tính chất và đặc điểm kinh doanh của từng doanh nghiệp, Marketing trong
doanh nghiệp có nhiều chức năng khác nhau. Các chức năng chính của hoạt
động Marketing trong doanh nghiệp:
+
Nghiên cứu, phân tích tiềm năng, nhu cầu tiêu dùng để phát hiện ra
nhu cầu của thị trường.
+ Tăng cường khả năng thích nghi của doanh nghiệp trong điều kiện thị
trường biến động thường xuyên.
+
nghiệp. Việc thực hiện chiến lược Marketing góp phần quan trọng vào việc nâng
cao hiệu quả kinh doanh, mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Mục tiêu thế lực:
Thế lực là mục tiêu thể hiện sự tăng trưởng và phát triển vững mạnh
của doanh nghiệp. Muốn đứng vững và phát triển trong sự cạnh tranh khốc liệt
của thị trường thì nhà kinh doanh phải không ngừng củng cố thế lực của mình.
Khi có thị phần lớn, thế lực mạnh thì nhà kinh doanh mới có thể chi phối được
thị trường và tạo ra những lợi thế trong cạnh tranh để nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh. Mục tiêu thế lực được thể hiện ở các tiêu chí như:
- Khối lượng hàng hóa bán ra và doanh số bán hàng.
- Thị phần và quy mô kinh doanh của doanh nghiệp.
- Uy tín và các mối quan hệ của doanh nghiệp.
- Số lượng khách hàng.
Để đạt được những mục tiêu này thì doanh nghiệp cần vận dụng một cách
có hiệu quả các chiến lược Marketing.
Mục tiêu an toàn:
Xã hội càng phát triển thì mục tiêu an toàn càng được con người coi
trọng và trong hoạt động kinh doanh cũng vậy. Doanh nghiệp không nên chỉ tập
trung vào việc đi mở rộng thị trường mà không chú ý đến yếu tố an toàn. Chỉ có
sự an toàn thì doanh nghiệp mới giảm bớt được những rủi ro và phát triển vững
mạnh.
Để đạt được các mục tiêu an toàn doanh nghiệp có thể sử dụng các giải
pháp như:
- Tìm thị trường ổn định về an ninh, chính trị, pháp luật.
- Tìm thị trường có nhu cầu ổn định.
- Kinh doanh trên nhiều phân đoạn thị trường.
1.1.2.3 Các chiến lược Marketing bộ phận.
8
Phát triển nhãn hiệu.
Việc lựa chọn nhãn hiệu cho sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đảm bảo
thành công của phát triển sản phẩm mới. Việc lựa chọn nhãn hiệu phải đảm bảo
những yêu cầu tối thiểu sau:
+ Gợi mở một cái gì đó về đặc tính của sản phẩm chẳng hạn như lợi ích,
giá trị sử dụng của sản phẩm.
+
Tên nhãn hiêu phải dễ phát âm và dễ nhớ, không trùng hoặc không
tương tự với nhãn hiệu của doanh nghiệp khác.
+ Đúng luật lệ để có thể đăng ký nhãn hàng với cơ quan có thẩm quyền.
+ Hợp với phong tục, tập quán của thị trường mục tiêu.
Quyết định lựa chọn bao gói sản phẩm.
Bao bì sản phẩm phải thực hiện đồng bộ 4 chức năng : bảo quản thông
tin về hàng hóa, thẩm mỹ, tạo nên sự hấp dẫn của sản phẩm với khách hàng và
chức năng thương mại.
Đóng gói cần đảm nhiệm các chức năng bảo vệ, kinh tế, lợi nhuận và hỗ
trợ khách hàng. Lựa chọn bao bì sản phẩm là cần thiết đối với việc xác định,
miêu tả và xúc tiến sản phẩm. Do đó những khía cạnh này cần được đề cập khi
phát triển chiến lược sản phẩm để có thể đáp ứng được đúng nhu cầu của khách
hàng mục tiêu.
Chiến lược sản phẩm là cơ sở quyết định định hướng sản xuất, quy mô
cũng như tốc độ phát triển của doanh nghiệp. Vị thế và uy tín của doanh nghiệp
trên thị trường được thể hiện ở thị phần mà doanh nghiệp nắm giữ. Vì vậy,
muốn đứng vững và tăng cường sức cạnh tranh, điều đầu tiên nhà doanh nghiệp
phải quan tâm là sản phẩm của mình bao gồm cả yếu tố chất lượng và hình thức.
Sản phẩm có chất lượng cao, bao bì hấp dẫn, được khách hàng chấp nhận là cơ
sở quan trọng nhất để tạo uy tín cho nhãn hiệu hàng hóa và thương hiệu của
• Định giá hướng ra thị trường: Chiến lược này yêu cầu các doanh nghiệp
xem xét, nghiên cứu các nhân tố như cung, cầu, quy luật cạnh tranh, đặc điểm
khách hàng..,khi tiến hành định giá. Chiến lược này chỉ rõ lợi ích của doanh
11
nghiệp chỉ được đảm bảo khi lợi ích của khách hàng và thị trường được đảm
bảo. Trong chiến lược giá thì quan điểm chung là chỉ cần giảm giá hơn sơ với
đối thủ cạnh tranh một chút là doanh nghiệp đã có cơ hội bán hàng .
Hiện nay trong kinh doanh XBP có một số cách định giá được doanh
nghiệp áp dụng như:
- Định giá theo đối tượng sử dụng chính là dựa trên khách hàng. Căn cứ
vào thu nhập, nghề nghiệp, sở thích, thị hiếu của khách hàng để định giá.
- Định giá theo chất lượng và giá trị của hàng hóa. Giá hàng hóa tỷ lệ
thuận với chất lượng và giá trị sử dụng. Giá trị của hàng hóa càng cao, chất
lượng càng cao thì giá càng cao.
- Chính sách giá hớt váng: hớt lấy phần ngon của thị trường với 2 điều
kiện chất lượng hàng hóa hơn hẳn các doanh nghiệp khác và hướng tới nhóm
khách hàng không nhạy cảm về giá.
- Định giá theo chu kì sống của sản phẩm: hàng hóa ở những giai đoạn
khác nhau thì sẽ có giá cả khác nhau. Giai đoạn đầu hàng hóa có thể cao hoặc
thấp; giai đoạn phát triển thì giá cao; giai đoạn suy thoái và bão hòa thì giảm giá,
tăng triết khấu.
- Chính sách giá theo nguồn khai thác : do chi phí ở các nguồn khai thác
là khác nhau nên doanh nghiệp sẽ định giá cho hàng hóa ở các nguồn khai thác
là khác nhau.
Chiến lược phân phối.
Chiến lược phân phối được xem như là một nhân tố quan trọng quyết
định sự thành công trong Marketing. Hoạt động phân phối giải thích vấn đề
hàng hóa, dịch vụ được đư từ nhà san xuất tới người tiêu dùng như thế nào?
những tin tức cần thiết từ phía khách hàng để qua đó doanh nghiệp tìm cách thỏa
mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Mục đích của chiến lược xúc tiến chính là cung cấp thông tin cho khách
hàng nhằm thúc đẩy quá trình mua hàng của khách hàng .
Một số biện pháp xúc tiến được các doanh nghiệp sử dụng hiện nay là:
13
Tuyên truyền là một công cụ tuy chưa được xem trọng trong hoạt động
Marketing nhưng nó lại có tác động mạnh, đạt hiệu quả cao ít tốn kém. Khi sử
dụng các biện pháp tuyên truyền doanh nghiệp cần lưu ý :
+ Các thông điệp phải phù hợp với các yếu tố tâm lý, trình độ văn hóa,
tầng lớp xã hội.
+ Cách truyền đạt phải phù hợp với khả năng và nhận thức của khách
hàng mục tiêu.
+ Thời điểm để tung ra các thông điệp phù hợp.
+ Chọn kênh nào, địa điểm nào để gửi thông điệp.
Quảng cáo: là một trong những công cụ quan trọng nhất trong hoạt
động Marketing. Quảng cáo chuyển các thông tin có sức thuyết phục tới khách
hàng mục tiêu của doanh nghiệp. Mục đích của quảng cáo là để thu hút sự chú ý
của khách hàng, thuyết phục họ về những lợi ích, sự hấp dẫn của sản phẩm.
Mục tiêu của quảng cáo xuất phát từ mục tiêu kinh doanh của doanh
nghiệp như: mục tiêu doanh số, lợi nhuận, thị phần, nâng cao uy tín của doanh
nghiệp, sản phẩm. Các mục tiêu quảng cáo thường được phân laoi thành: Quảng
cáo thông tin, quảng cáo thuyết phục, quảng cáo nhắc nhở.
Quyết định về chi phí quảng cáo: sau khi xem xét các mục tiêu quảng
cáo doanh nghiệp sẽ quyết định chi phí quảng cáo cho sản phẩm. Có 4 phương
pháp xác định chi phí : Phương pháp tùy theo khả năng, tính theo% doanh số,
cân bằng cạnh tranh, mục tiêu và công việc.
Quyết định về nội dung thông điệp quảng cáo: cần thiết kế, phác họa
1.1.3.1 Khái niệm.
Môi trường Marketing của công ty là tập hợp những chủ thể tích cực và
những lực lượng hoạt động ở bên ngoài công ty và có khả năng ảnh hưởng tới
hoạt động ra quyết định của bộ phận Marketing, thiết lập và duy trì mối quan hệ
hợp tác với khách hàng mục tiêu.
Những thay đổi của môi trường Marketing có ảnh hưởng sâu sắc, mạnh
mẽ tới các doanh nghiệp, bao gồm cả ảnh hưởng tốt và ảnh hưởng xấu. Như vậy,
15
môi trường Marketing tạo ra cả những cơ hội thuận lợi và cả những sức ép, sự
đe dọa cho tất cả các nhà kinh doanh. Bởi vậy các doanh nghiệp luôn phải nhạy
bén, tỉnh táo để có thể hiểu rõ, nắm bắt các thay đổi của môi trường Marketing
để có các phản ứng và hoạt động kịp thời.
Căn cứ vào tính chất và phạm vi ảnh hưởng môi trường marketing của
doanh nghiệp đước chia thành môi trường vi mô và môi trường vĩ mô.
1.1.3.2 Môi trường Marketing vi mô.
Khái niệm:
Môi trường Marketing vi mô là những lực lượng có quan hệ trực tiếp
tới bản thân doanh nghiệp và ảnh hưởng tới doanh nghiệp khi phục vụ khách
hàng. Đó là các yếu tố nội tại của doanh nghiệp, nguồn cung ứng, trung gian
Marketing, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, công chúng trực tiếp…..mà doanh
nghiệp có thể kiểm soát được.
Ảnh hưởng của các nhân tố thuộc môi trường vi mô.
• Các yếu tố và lực lượng bên trong doanh nghiệp.
Công tác marketing không phải là nhiệm vụ riêng của những người
làm trong bộ phận Marketing mà còn là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn bộ
công nhân viên trong công ty. Các quyết định Marketing phải tuân thủ nhiệm vụ
chiến lược, mục tiêu cụ thể, các chính sách và định hướng phát triển do ban lãnh
đạo công ty vạch ra.
đổi nhu cầu của khách hàng ảnh hưởng tới toàn bộ quyết định Marketing của
doanh nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi nhu cầu khách
hàng.
Có 5 dạng thị trường khách hàng mà doanh nghiệp cần quan tâm nghiên
cứu kĩ:
+ Thị trường người tiêu dùng: những ca nhân, hộ dân, tổ chức mua bán
hàng hóa, dịch vụ để sử dụng cho các nhu cầu tiêu dùng.
+ Thị trường các nhà sản xuất: các khách hàng mua hàng hóa, dịch vụ để
gia công, chế biến them hoặc sử dụng vào quá trình sản xuất khác.
17
+ Thị trường buôn bán trung gian : các cá nhân, tổ chức mua bán hàng
hóa, dịch vụ để bán lại kiếm lời.
+ Thị trường các cơ quan và tổ chứ của Đảng và Nhà nước : các cơ quan
Nhà nước mua hàng hóa, dịch vụ để sử dụng công cộng hay chuyển giao cho
những người cần thiết.
+ Thị trường quốc tế : là những khách hàng nước ngoài bao gồm người
tiêu dùng, người sản xuất, người mua trung gian và chính phủ các quốc gia khác.
Khách hàng là mục tiêu cuối cùng của Marketing, mọi nỗ lực marketing
suy cho cùng là nhằm thỏa mãn cao nhất các nhu cầu và mong muốn của khách
hàng.
• Đối thủ cạnh tranh:
Mọi doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường đều phải đối đầu với các
đối thủ cạnh tranh khác. Quan điểm Marketing xem xét cạnh tranh ở 4 góc độ:
+ Cạnh tranh mong muốn nghĩa là cùng một lượng thu nhập người ta có
thể sử dụng vào các mục đích khác nhau và khi dùng vào mục đích này có thể
thôi không dùng vào mục đích khác bởi đó chính là cơ cấu chi tiêu.
+ Cạnh tranh giữa các sản phẩm khác chủng loại mà đều có thể thỏa mãn
một nhu cầu cụ thể.
nắm được những yếu tố thay đổi trong môi trường kinh tế để có thể đưa ra các
quyết định kinh doanh phù hợp.
Môi trường tự nhiên.
Việc ứng dụng Marketing của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi rất nhiều
yếu tố của môi trường tự nhiên. Sản xuất càng phát triển thì các ảnh hưởng tới tự
nhiên càng nhiều và ngược lại những biến đổi trong môi trường tự nhiên cũng
ảnh hưởng tới sản phẩm. Sự thiếu hụt về nguồn nguyên vật liệu thô, giá nguyên
vật liệu ngày cang tăng đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm kiếm các nguồn
nguyên vật liệu. Đặc biệt, những giải pháp để chống lại nạn ô nhiễm môi trường:
ô nhiễm môi trường nước, không khí….đã làm gia tăng chí phí Marketing.
19
Môi trường KHKT và công nghệ.
KHKT và công nghệ có ảnh hưởng to lớn đến sản xuất kinh doanh và
tiêu thụ. Các tiến bộ KHKT sẽ làm ra các sản phẩm mới đồng thời làm nảy sinh
các nhu cầu mới và làm triệt tiêu cả công nghệ cũ hay nhu cầu cũ…. Công cuộc
cạnh tranh về KHKT mới giúp cho doanh nghiệp có thể chiến thắng trên thị
trường và giảm bớt chi phí trong sản xuất.
Môi trường văn hóa – xã hội.
Văn hóa là hệ thống các chuẩn mực . giá trị, quy tắc hành vi mà mọi
thành viên phải tôn trọng và tuân theo. Văn hóa tác động mạnh mẽ tới việc ra
quyết định Marketing trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Môi trường văn hóa ảnh hưởng tới thị hiếu, tập quán, tín ngưỡng, các
công trình , trình độ văn hóa dân cư…
Môi trường văn hóa vừa tạo ra nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng đem
đến nhiều thách thức cho hoạt động Marketing. Đó chính là sự hội nhập, sự đa
dạng hóa và giao thoa của các nền văn hóa trên thế giới đã khiến cho việc ứng
dụng Marketing của doanh nghiệp phải thích ứng hơn để phù hợp với các diễn
đã sản xuất dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng nhu cầu khách hàng. Do vậy sản
phẩm, hàng hóa đưa ra thị trường sẽ đáp ứng trúng nhu cầu của khách hàng.
Không chỉ vậy khi ứng dụng Marketing sẽ giúp doanh nghiệp tìm kiếm
được những biện pháp thích ứng được với thị trường một cách hiệu quả nhất.
1.2.2 Marketing giúp cho NXB nghiên cứu và phân tích nhu cầu tiềm
năng để thỏa mãn khách hàng ở mức độ tối đa.
Nghiên cứu thị trường, phân tích nhu cầu khách hàng là một chức năng
quan trọng của Marketing. Nhu cầu XBP hiện nay rất phong phú và đa dạng. Để
thỏa mãn được nhu cầu tối đa của khách hàng , NBX cần quan tâm tới tất cả
các nhu cầu hiện tại cũng như nhu cầu tiềm năng. Marketing giúp NXB dự đoán
được hướng phát triển của thị trường trong tương lai.
Bên cạnh đó Marketing giúp NXB nắm bắt được nhu cầu của khách
hàng, nhu cầu nào sắp bão hòa, đang bão hòa, sẽ biến mất để có các biện pháp
đối phó kịp thời. Đồng thời Marketing giúp NXB chuẩn bị những XBP mới thỏa
mãn nhu cầu của khách hàng.
21
Như vậy, Marketing giúp NXB nắm bắt chính xác thông tin về nhu cầu
trên thị trường để nhanh chóng điều chính hoạt động sản xuất kinh doanh sao
cho phù hợp với thực tế.
1.2.3 Marketing giúp NXB tổ chức và hoàn thiện hệ thống phân phối
XBP có hiệu quả.
Khi áp dụng Marketing hoạt động phân phối diễn ra có hiệu quả bởi
Marketing nghiên cứu sâu sắc về khách hàng. Marketing giúp NXB nghiên cứu
và chọn lọc các nhà trung gian, môi giới có khả năng tốt nhất để đem XBP tới
tay người tiêu dùng. Marketing còn giúp NXB xây dựng được kênh phân phối
XBP một cách khoa học, xác đinh được XBP sử dụng loại hình kênh nào? Số
lượng các nhà trung gian tham gia vào kênh là bao nhiêu… Rõ ràng, Marketing
trường trên phạm vi cả nước và nước ngoài. Đặc biệt, theo quyết định số
919/QĐ-BTNMT ngày 24/5/2010 Nhà xuất bản Bản đồ được chuyển đổi thành
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhà xuất bản Tài nguyên - Môi
trường và Bản đồ Việt Nam.
Tên gọi và địa chỉ giao dịch.
- Tên đầy đủ bằng Tiếng Việt : Công ty TNHH một thành viên Nhà xuất
bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam.
- Tên giao dịch viết tắt TMBVN.
- Tên giao dịch quốc tê : Viet Nam Publishing House of Natural
Resources, Environment and Cartography.
- Viết tắt là : NARENCA.
23
- Trụ sở chính : số 85 đường Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Hạ, quận
Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Tel : (84-4) 38 344 610 - 38 343 812 - 38 359 667
- Fax : (84-4) 38 344 610 - 38 351 920
- Email : [email protected]
* Website : http://www.bando.com.vn
Nhà xuất bản Bản đồ có ngành nghề kinh doanh chính :
- Xuất bản các loại sách, tài liệu chuyên ngành phục vụ công tác quản lý,
phổ biến pháp luật, khoa học – kỹ thuật, thông tin, tuyên truyền về tài nguyên
môi trường theo quy định của pháp luật.
- Biên tập, xuất bản, in và phát hành hệ thống bản đồ địa hình, địa chính,
hành chính, bản đồ nền cơ sở; bản đồ, tập bản đồ, atlas, quả cầu chuyên ngành,
chuyên đề trên giấy, CD – rom, mạng internet và trên các phương tiện khác.
- In và phát hành các loại sách, tạp chí, lịch, nhãn bao bì hàng hóa, sản
Trung tâm Phát triển ứng dụng GIS.
Trung tâm Phát hành.
Trung tâm Kĩ thuật tài nguyên và môi trường.
Trung tâm Kinh doanh và dịch vụ tổng hợp.
Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh.
Chi nhánh tại miền trung.
2.1.2 Môi trường kinh doanh của NXB Bản đồ.
NXB Bản đồ có trụ sở chính đặt tại trung tâm thủ đô Hà Nội. Đây là
một điều kiện thuận lợi lớn hơn bởi lẽ Hà Nội chính là huyết mạch kinh tế, chính
trị ,văn hóa , giáo dục….của đất nước.
Môi trường chính trị.
Hà Nội là thành phố có vị thế và vai trò đặc biệt quan trọng. Với vị trí
thuận lợi nằm ở cửa ngõ lục địa châu á ra bờ biển Thái Bình Dương, nơi đây tập
trung tất cả các cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, nơi thường
xuyên diễn ra các hoạt động chính trị và sự kiện trọng đại của cả nước; trung
tâm gặp gỡ, giao lưu với các quốc gia và các tổ chức trên thế giới.
25