NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HOANG MẠC HÓA ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ỞTỈNH BÌNH THUẬN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - Pdf 41

Header Page 1 of 89.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
----------------------

Bùi Thị Thanh Hương

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HOANG MẠC HÓA
ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH THUẬN
TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành đào tạo

: Địa lý Tài nguyên và Môi trường

Mã số chuyên ngành

: 62 44 02 19

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ

Hà Nội, 2015

Footer Page 1 of 89.



có diện tích tự nhiên là 781246 ha, dân số 1.201.239 người). Hiện tượng HMH ở tỉnh
Bình Thuận hình thành và phát triển do những tương tác có tính qui luật giữa các yếu
tố tự nhiên, trong đó, vị trí địa lý là tác nhân cơ bản. Nhiều nghiên cứu cho thấy, trong
bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH), hiện tượng hạn hán, HMH đang có xu hướng gia
tăng ở Bình Thuận, kéo theo nhiều hệ lụy về kinh tế, xã hội và môi trường.
Hạn hán và HMH đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất nông nghiệp
(SXNN), một ngành kinh tế có tỷ trọng chiếm khoảng 20% GDP của tỉnh. Theo số
liệu của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bình Thuận có trên 150 nghìn ha
đất bị HMH, chiếm hơn 1/5 diện tích tự nhiên và 20 – 25% diện tích gieo trồng chịu
đe dọa trực tiếp của hạn hán. Trong bối cảnh BĐKH, mức độ ảnh hưởng của hạn hán
và HMH đến SXNN ngày càng tăng. Nếu từ năm 2000 trở về trước, hạn hán ở Bình
Thuận tập trung chủ yếu trong vụ hè thu và vụ mùa thì đến nay cũng có hạn hán ở cả
vụ đông xuân, thậm chí kéo dài đến vụ hè thu.
Nghiên cứu ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến SXNN, đặc biệt là trồng trọt
để phân hóa mức độ ảnh hưởng đó theo lãnh thổ và đề xuất giải pháp ứng phó ưu tiên
theo từng đơn vị lãnh thổ là nghiên cứu mang tính cấp thiết, phục vụ thiết thực cho
công tác định hướng qui hoạch nông nghiệp của tỉnh Bình Thuận trong bối cảnh
BĐKH.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của hạn hán, HMH đến SXNN ở Bình Thuận
- Đề xuất lựa chọn một số giải pháp ứng phó với hạn hán và HMH cho trồng trọt
của tỉnh trong bối cảnh BĐKH.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến
SXNN; xác lập cơ sở lý luận và PPNC ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến
SXNN;
- Phân tích các nhân tố tự nhiên, KTXH ảnh hưởng đến hạn hán và HMH ở tỉnh
Bình Thuận;
- Đánh giá thực trạng và tiềm năng hạn hán và HMH ở Bình Thuận trong bối cảnh
BĐKH bằng phân tích SWOT- AHP;

Luận điểm 2: Trong bối cảnh BĐKH, hạn hán và HMH có ảnh hưởng đến sản
xuất nông nghiệp thể hiện qua những biến động về sử dụng đất nông nghiệp, cơ cấu
mùa vụ, năng suất cây trồng. Mức độ ảnh hưởng đó phân hóa mạnh theo không gian
nên các giải pháp ứng phó cũng khác nhau theo không gian từng cụm xã.
6. Những đóng góp mới của luận án
- Đánh giá tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên – KTXH đến thực trạng
và tiềm năng HMH ở tỉnh Bình Thuận trong bối cảnh BĐKH bằng phân tích SWOT
- AHP
- Thành lập được BĐ đánh giá thực trạng ảnh hưởng của hạn hán và HMH tới
trồng trọt tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1995 – 2010 và BĐ đánh giá dự tính ảnh hưởng
của hạn hán và HMH tới trồng trọt ở Bình Thuận đến năm 2050 bằng tích hợp
SWOT – AHP và GIS;
- Đề xuất được giải pháp ưu tiên ứng phó với HMH cho hoạt động trồng trọt và
những khuyến nghị định hướng qui hoạch nông nghiệp ở Bình Thuận đến 2050 theo
từng cụm xã bằng tích hợp GIS và SPSS.
7. Cơ sở tài liệu
Tài liệu, số liệu nghiên cứu của luận án được khai thác từ các cơ sở đáng tin
cậy như: kịch bản BĐKH (năm 2012) của Bộ Tài nguyên và Môi trường; dữ liệu
khí tượng thủy văn của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia; tư liệu bản đồ:
Atlat Quốc gia Việt Nam, sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận, đề tài Nhà
nước KHCN- 07-01(2001), đề tài Nghị định thư Việt Nam – Bỉ (2011); dữ liệu
KTXH: cục thống kê tỉnh Bình Thuận, sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh
Bình Thuận, sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận. Tài liệu tham khảo của
luận án được khai thác từ các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và thu thập
dữ liệu từ 2 chuyến thực địa của NCS tại Bình Thuận.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Footer Page 4 of 89.

2


Nigieria, Nam Phi), Tây Á (Thổ Nhĩ Kì, Iran, Israel), Nam Á (Ấn Độ), Trung Á
(Trung Quốc, Mông Cổ, Uzbekixtan), Nga, Hoa Kì, Úc... Những nghiên cứu tác
động của hạn hán và HMH đến SXNN không chỉ dừng lại ở thống kê thiệt hại của
SXNN do hạn hạn và HMH mà còn ở phân tích, đánh giá những thực trạng, biến
động với sự hỗ trợ của các mô hình tính toán định lượng, chủ yếu dựa trên chuỗi dữ
liệu khí tượng, thổ nhưỡng. Tuy nhiên, do các mô hình này đòi hỏi dữ liệu đầu vào
khá chi tiết (dữ liệu ngày, dữ liệu tháng) trong chuỗi thời gian dài liên tục nên việc sử
dụng chúng cho dự tính những ảnh hưởng đến SXNN theo kịch bản BĐKH sẽ khó
thực hiện và ít khả thi khi áp dụng ở Việt Nam.
Nghiên cứu hạn hán và HMH ở Việt Nam bắt đầu phổ biến từ những năm 1980
trở lại đây, với công trình của các nhà khoa học như: Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn
Trọng Hiệu, Trần Thục, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Cư, Nguyễn Lập Dân,
Phạm Quang Vinh, Nguyễn Đình Kỳ...Nghiên cứu ảnh hưởng của hạn hán và HMH
đến SXNN chủ yếu là phân tích thực trạng và đánh giá thiệt hại về năng suất, sản
lượng, diện tích và những thay đổi cơ cấu mùa vụ do hạn hán và HMH gây ra, được
Footer Page 5 of 89.

3


Header Page 6 of 89.

thể hiện trong công trình nghiên cứu của các nhà khí tượng nông nghiệp như Nguyễn
Văn Viết, Dương Văn Khảm, Nguyễn Văn Liêm, Ngô Sĩ Giai, Đoàn Văn Điếm.
Nghiên cứu dự tính cảnh báo hạn (Nguyễn Quang Kim, Nguyễn Văn Thắng) dù đã
có nhiều thành tựu cả về nghiên cứu định tính và định lượng nhưng những dự tính tác
động chi tiết cho SXNN hay dự tính những tác động trong bối cảnh BĐKH vẫn còn
rất ít. Các công trình nghiên cứu đề xuất những giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng của
hạn hán và HMH tới SXNN (Ngô Đình Tuấn, Nguyễn Lập Dân, Đoàn Doãn Tuấn)
cũng chỉ dừng lại ở những đề xuất ứng phó chung mà chưa có đề xuất ứng phó cho

biến động lượng mưa và chế độ mưa. BĐKH sẽ làm độ ẩm tương đối và lượng bốc
hơi tiềm năng biến động. BĐKH làm gia tăng thoái hóa đất vì nắng nóng, hạn hán.
BĐKH sẽ làm nguồn tài nguyên nước ngọt bị suy giảm. BĐKH tác động bất lợi đối
với đời sống của sinh vật, nếu nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng vượt quá 1,5 - 2,5oC.
Footer Page 6 of 89.

4


Header Page 7 of 89.

1.2.4. Tác động của hạn hán và HMH trong bối cảnh BĐKH
Tác động của hạn hán và HMH đến SXNN biểu hiện ở:(1) suy giảm diện tích
gieo trồng, giảm năng suất dẫn đến giảm sản lượng nông sản; (2) cơ cấu cây trồng và
cơ cấu mùa vụ thay đổi, gây khó khăn cho SXNN; (3) tăng chi phí SXNN, làm giảm
thu nhập lao động nông nghiệp; (4) tăng giá thành và giá cả các loại lương thực, thức
ăn gia súc; (5) đàn gia súc không được cấp nước đầy đủ; (6) có thể gây nạn đói do
thiếu nước và lương thực; (7) hạn hán có thể gây cháy rừng. NCS đã sử dụng những
biểu hiện cụ thể này làm cơ sở để xác định bộ dấu hiệu chỉ thị tác động của HMH
đến SXNN ở tỉnh Bình Thuận.
Trong bối cảnh BĐKH, hạn hán và HMH ảnh hưởng đến SXNN như: tài
nguyên đất bị thoái hóa do suy giảm chất hữu cơ, dinh dưỡng, nhiễm mặn và xói
mòn. Nguồn nước trong đất cũng bị suy giảm do nhiệt độ tăng. Tình trạng hạn hán
trở nên trầm trọng hơn ở một số vùng. Chăn nuôi gia súc, gia cầm bị ảnh hưởng do
giá thức ăn tăng vì thời kì phân bố dịch bệnh thay đổi. Tác động của nước biển dâng
đến nông nghiệp vùng ven biển là sự mất đất trồng do ngập nước, xói mòn và xâm
nhập mặn...
1.2.5. Quan điểm nghiên cứu
Những quan điểm khoa học chủ yếu sử dụng trong thực hiện các nhiệm vụ
nghiên cứu là: quan điểm hệ thống, quan điểm lãnh thổ, quan điểm lịch sử - viễn

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu về hạn hán, HMH, BĐKH và
ảnh hưởng của chúng đến SXNN cho thấy, các nghiên cứu ảnh hưởng của HMH đến
SXNN mới tập trung ở thống kê thiệt hại về năng suất, sản lượng, đề xuất ứng phó
hay những cảnh báo hạn, nhưng nghiên cứu ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến
SXNN trong bối cảnh BĐKH chưa nhiều.Từ những khái niệm cơ bản về hạn hán,
HMH, BĐKH và SXNN, các dấu hiệu chỉ thị của hạn hán và HMH trong SXNN
được xác lập trên cơ sở những lý luận khoa học về mối quan hệ giữa HMH và
SXNN. Với mục đích đánh giá ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến trồng trọt ở tỉnh
Bình Thuận trong bối cảnh BĐKH, với hướng tiếp cận Địa lý tổng hợp và tiếp cận
sinh thái tài nguyên và môi trường, các nhiệm vụ nghiên cứu được triển khai thông
qua qui trình nghiên cứu với 6 nhóm PPNC chính.
Chương 2
HMH Ở TỈNH BÌNH THUẬN
TRONG BỐI CẢNH BIÊN ĐỔI KHÍ HẬU
2.1. Các nhân tố tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến hạn hán và HMH ở tỉnh
Bình Thuận
Các yếu tố TN – KTXH hiện tại làm hạn chế quá trình hạn hán và HMHnhư:
Bình Thuận có tỷ lệ che phủ rừng khá (46,7% - năm 2013), rừng kín thường xanh và
thảm cây trồng lâu năm tập trung khá nhiều ở phía Tây và Tây Nam của tỉnh. Lượng
mưa mùa mưa ở Bình Thuận tương đối khá (dao động từ 542,6mm đến 2370
mm/mùa mưa). Nguồn nước ngầm ổn định được hình thành từ các tầng chứa nước lỗ
hổng và tầng chứa nước khe nứt có trữ lượng trung bình nằm rải rác ở nhiều khu vực
trong tỉnh. Cùng với sự phát triển của các hệ thống thủy lợi, nhiều vùng đất bị thoái hóa
đã được cải tạo trở thành vùng đất sản xuất nông lâm nghiệp, nhiều loại cây trồng thích
ứng với hạn hán và HMH đang được phát triển và ngày một nhân rộng. Để ứng phó
với hạn hán và HMH Bình Thuận đã có nhiều đầu tư khoa học công nghệ cho SXNN
đồng thời cũng kế thừa nhiều kinh nghiệm ứng phó với hạn hán và HMH của người
dân địa phương như kinh nghiệm cải tạo đất, dẫn thủy nhập điền, sử dụng tiết kiệm
nguồn nước....

hạn hán, HMH, tiếp thu nhanh nhiều kĩ thuật mới (tưới tiết kiệm nước, thu trữ nước
mặt nước ngầm, sử dụng nước hồi qui, cải tạo vùng đất thoái hóa...), thay đổi cơ cấu
cây trồng, cơ cấu mùa vụ sẽ là những nhân tố giảm thiểu và hạn chế những tác động
bất lợi của hạn hán và HMH đến sản xuất và đời sống của người dân.
Các yếu tố TN – KTXH tương lai làm gia tăng HMH ở Bình Thuận như: theo
kịch bản BĐKH, lượng mưa mùa khô sẽ giảm, thời gian mùa khô kéo dài hơn sẽ làm
cho diện tích hạn nông nghiệp nặng và nghiêm trọng mở rộng. Cùng với những tác
động của dân số đông và quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, mạnh tác động đến tài
nguyên, môi trường, tình trạng thoái hóa đất, quá trình rửa trôi, xói ngầm sẽ gia tăng
trên toàn tỉnh. Tại vùng đất trống ở miền núi, quá trình pedimen hóa đang diễn ra nhiều
hơn. Tại miền duyên hải, hiện tượng cát bay, cát chảy xâm lấn sâu vào nội địa sẽ làm
mở rộng các loại hoang mạc cát, hiện tượng xâm nhập mặn diễn ra nhiều hơn sẽ kéo
theo sự mở rộng của các hoang mạc muối.
2.2. BĐKH tại tỉnh Bình Thuận
Trong giai đoạn 1980 – 2010, nhiệt độ trung bình năm ở trạm Phan Thiết 26,80C
với mức tăng trung bình là 0,01 0C/năm. Lượng mưa trung bình năm có xu hướng
tăng đều, dao động từ 3,8 – 16,7 mm/năm nhưng chủ yếu do lượng mưa mùa mưa
tăng, dao động từ 1,2 – 11,2 mm/năm. Theo kịch bản BĐKH năm 2012 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường, với mức phát phải trung bình, đến 2050, nhiệt độ trung bình
năm ở Bình Thuận tăng 1,4 0C, lượng mưa tăng 1,5% so với thời kì 1980 – 1999. Bình
Thuận thuộc khu vực có lượng mưa năm tăng ít nhất trong cả nước, được chia thành 2
khu vực: (1) khu vực có lượng mưa năm không đổi (Đức Linh, Tây và Tây Bắc huyện
Tánh Linh, Hàm Thuận Nam), (2) khu vực còn lại của tỉnh là khu vực có lượng mưa
năm tăng nhẹ (dưới 2%). Trong khi lượng mưa mùa mưa tăng nhẹ (trên 4%) và tăng
đều trên toàn tỉnh thì lượng mưa mùa khô giảm mạnh hơn ở khu vực phía Bắc và
Đông Bắc của Bình Thuận (giảm trên 8%). Do vậy, lượng mưa giảm vào mùa khô sẽ
là một thách thức đối với khu vực phía Bắc và Đông Bắc – khu vực đang chịu tác động
mạnh bởi hiện tượng hạn hán và HMH. Không những vậy, theo kết quả nghiên cứu
của các nhà khoa học, thời gian mùa khô sẽ kéo dài thêm từ 5 ngày đến 15 ngày (theo
kịch bản trung bình). Đây là một thách thức lớn cho một số khu vực đang bị đe dọa bởi

Nam (28.017 ha), Tánh Linh (22.033 ha), Hàm Tân (21147,7 ha). Dự tính, tỷ lệ diện
tích đất bị thoái hóa so với diện tích tự nhiên còn cao ở một số địa phương như Tuy
Phong (65,5%), Bắc Bình (61,4%), Hàm Thuận Bắc (68,8%). Loại thoái hóa tiềm
năng ở các địa phương này chủ yếu là thoái hóa bạc màu, sét hóa và thoái hóa trơ sỏi
đá.
Hoang mạc, dù là cảnh quan sinh thái đặc thù của Bình Thuận, song trong bối
cảnh BĐKH và tác động ngày một mạnh mẽ từ hoạt động khai thác tài nguyên của
con người, quá trình HMH đang có xu hướng gia tăng từ 11,3% diện tích tự nhiên
(2000) sẽ lên tới 37,4% (2050), trong đó, hoang mạc cát sẽ chiếm đến 15,3% và hoang
mạc đất cằn cũng chiếm đến 19,6% diện tích.
2.5. Đánh giá tình trạng hạn hán và HMH ở tỉnh Bình Thuận bằng tích hợp
SWOT – AHP với GIS
Bằng phương pháp chuyên gia kết hợp với phân tích tổng hợp các nhân tố tự
nhiên – KTXH và thực trạng và tiềm năng hạn hán và HMH ở Bình Thuận, ma trận
SWOT (Strengths – Weaknesses – Opportunities – Threats) - bộ dấu hiệu chỉ thị của
hạn hán và HMH đã được xây dựng. Thông qua bộ dấu hiệu của ma trận SWOT cho
thấy, 12 yếu tố TN – KTXH làm hạn chế quá trình hạn hán và HMH ở Bình Thuận có
tác động qua lại với 14 yếu tố TN – KTXH làm gia tăng hạn hán và HMH ở hiện tại
và tương lai, tạo nên bức tranh tổng thể về thực trạng và tiềm năng hạn hán và HMH ở
Bình Thuận. Thông qua cách tính toán trọng số cho các yếu tố của bộ dấu hiệu bằng
Footer Page 10 of 89.

8


Header Page 11 of 89.

phương pháp AHP (Analytic Hierarchy Process) – quá trình phân tích phân bậc của
nhiều chỉ tiêu, kết hợp với kĩ thuật GIS, bản đồ thực trạng và dự tính mức độ ảnh
hưởng của các nhân tố tự nhiên – KTXH đến HMH được thành lập.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Hiện nay, Bình Thuận đang phải đối mặt với hạn hán và HMH, có 47,7% diện
tích toàn tỉnh chịu ảnh hưởng hạn vào mùa khô, tập trung ở vùng duyên hải (Tuy
Phong, Bắc Bình và Phan Thiết) có 53,1% diện tích của tỉnh chịu ảnh hưởng của hạn
nông nghiệp ở mức hạn nghiêm trọng và hạn nặng. Bình Thuận có đến 19,6% diện
tích đất bị thoái hóa, 21,5% diện tích bị hoang mạc hóa đã và đang đe dọa SXNN. Nên
hạn hán và HMH là một hiện tượng tự nhiên bất lợi, khá đặc thù ở Bình Thuận. Trong
bối cảnh BĐKH, đến năm 2050, nhiệt độ trung bình năm sẽ tăng 1,40C, lượng mưa
trung bình năm tăng khoảng 1,5% trên toàn tỉnh nhưng lại giảm khoảng 8% lượng
mưa vào đồng ở khu vực phía Bắc và Đông Bắc. Hạn nông nghiệp ở mức hạn nặng và
hạn nghiêm trọng được dự tính sẽ tăng lên tới 59,9% diện tích. Hoang mạc sẽ mở rộng,
chiếm 37,4%, trong đó, hoang mạc cát sẽ chiếm đến 15,3% và hoang mạc đất cằn
cũng chiếm đến 19,6% diện tích.
Luận án đã đánh giá được thực trạng và dự tính mức độ ảnh hưởng của các nhân
tố tự nhiên – KTXH đến HMH trong bối cảnh BĐKH bằng tích SWOT – AHP và
GIS. Bộ dấu hiệu chỉ thị ảnh hưởng của đặc điểm tự nhiên – KTXH ảnh hưởng đến
hạn hán và HMH được xây dựng. Thông qua ma trận SWOT cho thấy, 12 yếu tố TN –
KTXH làm hạn chế quá trình hạn hán và HMH ở Bình Thuận có tác động qua lại với
14 yếu tố TN – KTXH làm gia tăng hạn hán và HMH ở hiện tại và tương lai, tạo nên
bức tranh tổng thể về thực trạng và tiềm năng hạn hán và HMH ở Bình Thuận. Trong
bối cảnh BĐKH, đến 2050, mức độ ảnh hưởng mạnh của các nhân tố tự nhiên –
KTXH đến HMH tập trung ở 35 xã ven biển, được dự tính ít biến động về diện tích;
mức độ ảnh hưởng trung bình lại có xu hướng giảm nhẹ, dự tính từ 28 xã giai đoạn
1995 – 2010 xuống còn 23 xã, do vai trò của các giải pháp tích cực ứng phó với hạn
hán và HMH hiện nay ở Bình Thuận.
Chương 3
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA HOANG MẠC HÓA ĐẾN HOẠT ĐỘNG
TRỒNG TRỌT Ở TỈNH BÌNH THUẬN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU VÀ ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ
3.1. Các thế mạnh sản xuất nông nghiệp của Bình Thuận

2003
3528

2004
16217

2005
16000

2006
-

2008
168

2010
5005

-

-

2212

22501

39137

2172


và phổ biến là vụ đông xuân và vụ xuân. Cơ cấu mùa vụ thuốc lá không thay đổi sau
15 năm, được trồng chủ yếu vào vụ đông xuân (từ tháng 10 đến tháng 12). Cơ cấu mùa
vụ bông tập trung ở 3 vụ chính, vụ đông xuân (tháng 11 – tháng 2), vụ mùa (tháng 5 –
Footer Page 13 of 89.

11


Header Page 14 of 89.

tháng 10), vụ mùa sớm (tháng 7 – tháng 9). Mùa vụ của cây bông có xu hướng chuyển
dịch từ vụ mùa sang vụ đông xuân, điển hình ở hai huyện Bắc Bình và Tuy Phong. Cơ
cấu mùa vụ dưa lấy hạt chủ yếu là vụ mùa từ tháng 5 đến tháng 10. Sau hơn 10 năm,
diện tích trồng dưa lấy hạt có xu hướng tăng nhẹ, điển hình tại các địa phương như Tuy
Phong, Hàm Thuận Bắc và Đức Linh. Cơ cấu mùa vụ mè bao gồm hai vụ chính: vụ hè
thu (tháng 3 đến tháng 7) và vụ hè thu muộn (tháng 5 đến tháng 7), các huyện phía Bắc
như Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc trồng mè vào vụ hè thu (tháng 3 đến tháng 7), các
huyện phía Nam như Hàm Thuận Nam và Hàm Tân lại trồng mè vào vụ hè thu muộn
(tháng 5 đến tháng 7).
3.3.2. Xác định thời kì trồng trọt thích hợp bằng dữ liệu khí tượng và phần mềm
Eto Calculator.
Bằng cách sử dụng phần mềm Eto Calculator xử lý các dữ liệu khí tượng, thổ
nhưỡng, thời kì trồng trọt thích hợp theo từng trạm khí tượng đã được xác định. Kết
quả đánh giá thời gian gieo trồng chỉ tính đến điều kiện nhiệt độ, lượng mưa, lượng
bốc hơi, độ ẩm thể hiện trong bảng sau:
Bảng 3.5: Đánh giá khoảng thời gian gieo trồng trong năm cho cây trồng ngắn
ngày giai đoạn 1980- 2010
Ghi chú: thời gian trồng trọt tốt: là khoảng thời gian có lượng mưa lớn hơn lượng
bốc hơi tham chiếu; thời gian có thể gieo trồng (cây trồng có thể sinh trưởng trong điều
kiện tự nhiên) là khoảng thời gian có lượng mưa lớn hơn một nửa lượng bốc hơi tham


Vùng nội ngoại suy từ các trạm khí tượng

Duyên hải phía Bắc thuộc huyện Tuy Phong ở các
xã: Vĩnh Hảo, Phước Thể, Liên Hương, Bình Thạnh.
Chợ Lầu, Hồng Thái, Hòa Thắng, Hồng Phong (Bắc
Bình) và thành phố Phan Thiết.
1/5 huyện Hàm Thuận Bắc, 1/2 huyện Hàm Thuận
Nam, 1/2 huyện Hàm Tân, 3/4 huyện Tánh Linh, 3/4
huyện Đức Linh
1/4 huyện Đức Linh (ĐaKai, Sùng Nhơn, Mê Pu),
1/4 huyện Tánh Linh (Đức Phú, Đức Nghi, Măng
Tô, Bắc Ruộng)

Thời kỳ
Thời
chuyển tiếp
gian
(ngày)
có thể
gieo
trồng
T1
T2
(ngày
)
127

32


Footer Page 14 of 89.

12


Header Page 15 of 89.

địa bàn các xã: Vĩnh Hảo, Phước Thể, Liên Hương, Bình Thạnh (huyện Tuy
Phong). Trong khi thời gian mùa vụ (khoảng thời gian có thể trồng trọt tốt) lại chưa
đủ, chỉ có khoảng 78 ngày từ trung tuần tháng 9 nhưng chỉ đến đầu tháng 12. Trên
các vùng hoang mạc cát kéo dài từ Chợ Lầu, Hồng Thái, Hòa Thắng, Hồng Phong
(Bắc Bình) và toàn bộ thành phố Phan Thiết, có khoảng thời gian không thể trồng
trọt tốt kéo dài khoảng 5 đến 6 tháng (từ tháng 12 đến tháng 5). Như vậy, mức độ
ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến cơ cấu mùa vụ khu vực này có xu hướng giảm
đi rõ rệt so với khu vực duyên hải phía Bắc.
Dấu hiệu thứ hai, một số cây trồng có khả năng chịu hạn tốt được chuyển đổi
trồng vào thời kì khô hạn trong năm. Đó là nhiều diện tích khoai lang ở Hàm Thuận
Nam, Đức Linh và Tánh Linh đã chuyển đổi thời gian gieo trồng từ vụ hè thu sang
vụ đông xuân; nhiều diện tích trồng sắn được chuyển đổi sang vụ hè thu muộn
(tháng 5 – tháng 7) hoặc vụ đông xuân (tháng 12 đến tháng 4). Cây lạc cũng có
hướng chuyển dịch dần từ vụ hè, vụ đông xuân sang vụ xuân, khoảng thời gian khô
hạn nhất trong năm. Đặc biệt tại Hàm Tân, Phan Thiết và Hàm Thuận Nam, cây lạc
được trồng xen dưới các vùng trồng cây ăn quả (cây thanh long, cây xoài) nhằm giữ
độ ẩm đất vào mùa khô và giảm nguy cơ xói mòn đất vào mùa mưa. Mùa vụ của
cây bông có xu hướng chuyển dịch từ vụ mùa sang vụ đông xuân, điển hình ở hai
huyện Bắc Bình và Tuy Phong.
Dấu hiệu thứ ba, tỷ trọng các xã trồng lúa mùa đang có xu hướng chững lại
và giảm nhẹ. Thay vào đó, với ưu thế về giống, lúa vụ hè thu đang có xu hướng
tăng dần và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu mùa vụ, đặc biệt, tại các huyện trọng
điểm HMH như Tuy Phong, Bắc Bình, Phan Thiết và Hàm Tân.

(đơn vị : ha)
Lúa mất trắng
(năng suất giảm 100%)
Lúa giảm năng suất từ 50 - 99%
Lúa giảm năng suất dưới 50%
Tổng giá trị thiệt hại (tỷ đồng)

1997 1998

2003

30 2279

2

2004
442

_

_

180

5327

_

_



Theo các địa phương, thiệt hại về năng suất do hạn hán tập trung chủ yếu ở các
huyện: Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc và Hàm Thuận Nam.
Bảng 3.11. Diện tích lúa bị suy giảm năng suất 100%(mất trắng vụ) do hạn hán
phân theo các địa phương (đơn vị: ha)
Huyện
Tuy Phong
Bắc Bình
Hàm Thuận Bắc
Hàm Thuận Nam
Phan Thiết
La Gi
Hàm Tân
Đức Linh
Tánh Linh
Toàn tỉnh

2003
0
0
0
0
0
0
1
1
0
2

2004

0
0
0
563

2010
367
567
150
380
0
0
0
54
61
1579

Nguồn:Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Bình Thuận

Dấu hiệu thứ hai, hạn hán làm năng suất các loại cây trồng khác cũng bị suy
giảm. Bên cạnh lúa, nhiều diện tích gieo trồng các loại cây trồng khác như: ngô,
sắn, đậu tương, bông, điều, thanh long, dưa lấy hạt, cao su... cũng chịu thiệt hại về
năng suất do hạn hán. Năm 2004, bắp lai đạt 32 tạ/ha thấp hơn năm 2003 là 22
tạ/ha. Các cây hoa màu khác cũng chỉ đạt khoảng 52% so với cùng kỳ năm trước.
Bảng 3.12: Diện tích cây trồng (trừ lúa) bị suy giảm năng suất do hạn hán
(đơn vị: ha)
Cây trồng giảm năng suất
giảm 100% (mất trắng)
Cây trồng giảm năng suất dưới
40%

_

_

_

15324

2,7

61,3

112,4

3,2

2,3

14,5

Nguồn:Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Bình Thuận

Footer Page 16 of 89.

14


Header Page 17 of 89.

Theo bảng 3.12, toàn tỉnh có đến 22501 ha cây trồng bị mất trắng do hạn hán.

Bảng 3.11: Bộ dấu hiệu ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến trồng trọt ở tỉnh
Bình Thuận
Điểm mạnh (S)
(ảnh hưởng tích cực ở hiện tại)
(S1): Nguồn nước ngầm có trữ lượng trung
bình và ổn định ở một vài nơi.
(S2): Lượng mưa vào mùa mưa tương đối
khá.
(S3): Rừng kín thường xanh và thảm cây
trồng lâu năm có mức độ tập trung khá và
chất lượng tốt.
(S4): Người dân ở Bình Thuận có nhiều kinh
nghiệm ứng phó với hạn hán và HMH.
(S5): Quá trình đô thị hóa và CNH đang thu
Footer Page 17 of 89.

Điểm yếu (W)
(ảnh hưởng tiêu cực ở hiện tại)
(W1): Lượng mưa trung bình năm thấp, phân
hóa mạnh mẽ theo mùa.
(W2): Lượng bốc hơi trung bình năm cao (trên
1400mm).
(W3): Thời gian khô hạn trong năm không thích
hợp cho gieo trồng còn khá dài.
(W4): Các hoang mạc cát và các hiện tượng cát
bay, cát chảy xâm lấn đồng ruộng, lấp đầy sông,
hồ.
(W5): Nguồn nước ngầm nghèo ở một vài nơi.

15

(O3): Qui hoạch sử dụng đất nông nghiệp sẽ
góp phần khai thác tài nguyên bền vững hơn.
(O4): Người dân sẽ dần thay đổi tư duy ứng
phó với hạn hán HMH, tiếp thu KHKT mới.
(O5): Tỉnh sẽ có nhiều dự án trồng rừng, đặc
biệt rừng phòng hộ ven biển.
(O6): Tỉnh sẽ có nhiều dự án vùng du lịch
sinh thái góp phần tăng trưởng kinh tế gắn
liền với phát triển bền vững.
(O7): Diện tích cây trồng thích ứng với hạn
hán và HMH sẽ được mở rộng.
(O8): Một số cây trồng chịu hạn được chuyển
đổi trồng vào thời kì khô hạn trong năm.

Thách thức (T)
(ảnh hưởng tiêu cực ở tương lai)
(T1): Hoang mạc đất cằn sẽ mở rộng (hình
2.19).
(T2): Hoang mạc cát sẽ mở rộng (hình 2.19).
(T3): Đất bị thoái hóa, bạc màu sẽ gia tăng
(hình 2.17).
(T4): Hoang mạc muối sẽ mở rộng (hình 2.19).
(T5): Lượng mưa mùa khô sẽ giảm, thời gian
mùa khô sẽ kéo dài hơn.
(T6): Diện tích hạn nông nghiệp nặng và
nghiêm trọng sẽ mở rộng diện tích (hình 2.16).
(T7): Sức ép của dân số đông và quá trình đô thị
hóa lên tài nguyên môi trường.
(T8): Nhiều diện tích lúa tiềm năng chưa được
đưa vào khai thác.

hợp lý sẽ là những nhân tố tích cực làm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của hạn hán và
HMH đến trồng trọt.
Luận án cũng phân tích những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực cho ngành trồng trọt
trong bối cảnh BĐKH. Cùng với tình hình thời gian mùa khô kéo dài và lượng mưa mùa
khô bị suy giảm ở một số khu vực theo kịch bản BĐKH, cùng với sự mở rộng diện tích
hạn nông nghiệp nghiêm trọng, hoang mạc cát sẽ tiếp tục được mở rộng là nguy cơ
nghiêm trọng nhất kéo theo sự gia tăng tình trạng thoái hóa đất và hoang mạc đất cằn.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia dự tính, với những hệ thống giải pháp và chính sách như
hiện nay, đến năm 2050, tình trạng thoái hóa đất sẽ được kiểm soát và có khả năng thu
hẹp diện tích.
3.5.1.3. Khảo sát thực trạng canh tác tại các trọng điểm hoang mạc hóa
Bằng điều tra khảo sát thực địa và kết quả của phiếu điều tra cấp xã, kết quả khảo
sát thực trạng canh tác như sau:
Bảng 3.18: Khảo sát thực trạng canh tác tại các trọng điểm HMH
Hoang
mạc

Hoang
mạc cát

Loại Loại hình canh tác
đất
Đất cát - Dưa lấy hạt (2 vụ);
đỏ
- Đậu, đỗ (2 vụ);
- Lạc (1 vụ)+ Dưa lấy hạt (1 vụ);
- Sắn xen điều.

Phân bố theo xã


Tuy Phong : Bình Thạnh, Liên Hương; Bắc Bình:
Hòa Thắng, Lương Sơn, Bình Tân, Hồng Phong,
Hồng Thái Chính; Hàm Thuận Bắc: Thiện Nghi
,Hồng Liêm, Hồng Sơn, Hàm Đức, Hàm Phan
Thiết: Mũi Né, Hàm Tiến, Tiến Lợi, Tiến Thành;
Hàm Thuận Nam : Hàm Minh, Thuận Nam, Thuận
Quí, Tân Thành, Tân Thuận; LaGi : Tân Tiến, Tân
An, Tân Phước; Hàm Tân : Sơn Mỹ, Tân Thắng;
Tuy Phong: Bình Thạnh, Liên Hương, Chí Công;
Bắc Bình: Hòa Thắng, Hồng Phong;
Phan Thiết: Mũi Né, Hàm Tiến; Hàm Thuận Nam:
Thuận Quí, Tân Thành, Tân Thuận;
LaGi: Tân Tiến, Tân An, Tân Phước;Hàm Tân: Sơn
Mỹ, Tân Thắng
Tuy Phong: Phước Thể, Bình Thạnh, Liên Hương,
Chí Công, Hòa Minh; Bắc Bình: Hòa Thắng,
Lương Sơn, Hồng Phong, Hồng Thái; Hàm Thuận
Bắc: Thiện Nghi, Hàm Nhơn;
Phan Thiết : Mũi Né, Hàm Tiến, Tiến Lợi; Hàm
Thuận Nam: Hàm Minh, Hàm Cường;
LaGi: Tân Tiến, Tân An, Tân Phước; Hàm Tân:
Sơn Mỹ, Tân Thắng.
Tuy Phong: Vĩnh Hảo, Phú Lạc, Phong Phú; Bắc
Bình: Phan Hòa, Hải Ninh, Bình An, Lương Sơn,
Phan Thanh; Hàm Thuận Bắc: Hàm Liêm, Hàm
Thắng, Hàm Hiệp; Hàm Thuận Nam: Hàm Cần,
Hàm Kiệm; Phan Thiết: Tiến Thành, Tiến Lợi, Mũi
Né; LaGi: Tân Tiến, Tân An;
Hàm Tân: Tân Đức, Tân Phúc, Sông Phan, Tân
Lập;

Tổng hợp từ khảo sát thực địa và các tài liệu ở địa phương.
3.5.2. Trọng điểm hoang mạc cát
Đến năm 2050, số xã chịu ảnh hưởng mạnh giảm từ 15 xã (giai đoạn 1995 – 2010)
xuống còn 11 xã (cấp 7) và 8 xã (cấp 6) nhưng số xã chịu ảnh hưởng ở cấp 5 lại tăng lên từ 6 xã
lên đến 21 xã. Các xã có mức độ ảnh hưởng chuyển từ cấp 6 về cấp 5 chủ yếu tập trung ở các
huyện phía Nam như Sơn Mỹ (Hàm Tân), Tân Hải, Tân Tiến, Tân Bình, Tân An, Tân Phước
(LaGi), Tân Thành, Thuận Quí (Hàm Thuận Nam), Hàm Thắng (Hàm Thuận Bắc), Mũi Né,
Thiện Nghiệp, Hàm Tiến, Tiến Thành (Phan Thiết). Trong khi đó, các xã chịu ảnh hưởng
mạnh ở các huyện phía Bắc (Tuy Phong, Bắc Bình) sẽ có mức độ ảnh hưởng tiêu cực cao hơn
nếu tỉnh không thực thi các giải pháp nhằm hạn chế những thách thức vào những năm giữa thế
kỉ này.
3.5.3. Trọng điểm hoang mạc đất cằn
Số xã chịu tác động bởi hoang mạc đất cằn sẽ giảm từ 27 xã xuống còn 23 xã vào năm
2050. Một mặt, với vai trò của hệ thống các công trình thủy lợi và sự gia tăng diện tích và chất
lượng lớp phủ thực vật rừng, 6 xã sẽ thoát khỏi tình trạng hoang mạc đất cằn như: Phan Điền,
Bình An, Sông Lũy (Bắc Bình), Thuận Minh, Hàm Trí (Hàm Thuận Bắc). Mặt khác, cùng với
xu hướng tàn phá thảm thực vật rừng kết hợp với những hệ quả tiêu cực sau các hồ đập thủy
lợi, 7 xã sẽ xuất hiện tình trạng thoái hóa đất và ảnh hưởng của hoang mạc đất cằn như Gia
Huynh, Suối Kiết (Tánh Linh), Tân Đức, Tân Phúc, Tân Minh, Sông Phan, thị trấn Hàm Tân
(Hàm Tân). Đồng thời, do đất được cải tạo tốt, 2 xã Hàm Cường và Hàm Mỹ (Hàm Thuận
Nam) sẽ chuyển từ khu vực chịu ảnh hưởng của hoang mạc cát sang khu vực chịu tác động của
hoang mạc đất cằn.
3.5.4. Trọng điểm hoang mạc muối và hoang mạc đá
Vùng hoang mạc đá còn bị bỏ hóa, các hoạt động canh tác còn thưa thớt và kém phát
triển. Mô hình nông lâm kết hợp: cây ăn quả (điều, xoài, na, nhãn, mãng cầu), cây keo lá tràm
hay canh tác ngô (1 vụ hoặc 2 vụ) xuất hiện rải rác ở một số nơi.
Hoang mạc muối là khu vực tích muối kiềm Cacbonnat Natri của các loại đá giàu kiềm,
trên các địa hình thoải đồng bằng và đồng bằng đồi bóc mòn rửa trôi, phân bố nhiều ở Vĩnh
Hảo – Tuy Phong. Hầu hết các khu vực bị nhiễm mặn hiện nay đều bị bỏ hoang hoặc phân bố
rải rác ven các cánh đồng sản xuất muối.

19,1
90057,97
11,5
20903,02
2,7
73626,13
9,4
61620,42
7,9

2050
ha

%DT tự nhiên

208890,9
155658,7
181719,3
52548,34
96220,45
50891,22
49621,38

26,7
19,9
23,3
6,7
12,3
6,5
6,4

các tài liệu của địa phương, 7 nhóm giải pháp (chọn cây trồng thích ứng với hạn hán
và HMH, mô hình canh tác nông nghiệp phù hợp, xây dựng các công trình thủy lợi,
sử dụng kĩ thuật tiết kiệm nước, cải tạo đất, tăng diện tích và chất lượng lớp phủ
rừng ...) được đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức khi triển khai
thực hiện tại các địa phương. Bên cạnh đó, những thống kê thực trạng phân bố của
36 giải pháp (trong 7 nhóm giải pháp trên) được chi tiết hóa đến từng xã là cơ sở
cho đề xuất qui hoạch nông nghiệp hợp lí.
3.6.2. Đề xuất lựa chọn giải pháp ưu tiên theo từng cụm xã đến năm 2050 theo
kịch bản BĐKH
Bằng phân loại cụm xã theo phương pháp phân loại nhiều chiều trong SPSS,
các xã có tình trạng phát triển hoạt động trồng trọt tương tự nhau được gom tụ lại
thành một cụm xã. Phương án phân loại thành 11 cụm (11 clusters) được lựa chọn
vì phương án phân loại này khá sát với tình hình thực tiễn và qui hoạch trồng trọt ở
Bình Thuận đến 2020.
Qua bản đồ, cụm 1 (C1) bao gồm 11 xã ở khu vực duyên hải phía Bắc. Hoạt động
trồng trọt nơi đây sẽ chịu ảnh hưởng bởi hạn hán và HMH ở cấp 6, cấp 7 nhưng hệ
thống thủy lợi ở khu vực này sẽ không được đầu tư nhiều, bởi tỉnh qui hoạch khu
vực này là vùng rừng phòng hộ. Cụm 2 (C2) bao gồm 4 xã vùng cồn cát đỏ ở duyên
hải phía Đông của huyện Bắc Bình. Hoạt động trồng trọt nơi đây sẽ chịu ảnh
hưởng mạnh bởi hạn hán và HMH ở cấp 7. Cụm 3 (C3) bao gồm 16 xã vùng cồn
cát ở duyên hải phía Đông Nam. Hoạt động trồng trọt nơi đây sẽ chịu ảnh hưởng
mạnh bởi hạn hán và HMH, ở cấp 5, cấp 6 song, hệ thống thủy lợi ở khu vực này sẽ
không phát triển. Nguồn nước ngầm nơi đây không nhiều, mực nước ngầm thấp do
lớp phủ thực vật còn khá thưa thớt. Cụm 4 (C4), lại chịu tác động mạnh bởi hạn hán
và HMH ở cấp 6, cấp 7 nên vấn đề phát triển vùng chuyên canh lúa 2 đến 3 vụ theo
qui hoạch phát triển nông nghiệp đến 2020 cần xem xét lại. Nếu tỉnh có đầu tư cho
phát triển thủy lợi, một mặt sẽ gia tăng chi phí đầu tư nhiều hơn so với các khu vực
khác. Cụm 5 (C5) và cụm 6 (C6) là các cụm xã được đề xuất duy trì vùng trồng lúa
để đảm bảo an ninh lương thực cho tỉnh. Cụm 7 (C7) bao gồm 12 xã thuộc địa bàn
các huyện Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc và Hàm Thuận Nam, nơi sẽ bị đe dọa bởi

đặc sắc, thu hút nhiều đầu tư và khách du lịch, góp phần biến thách thức của một
trong những khu vực khô hạn nhất cả nước thành cơ hội phát triển trong tương lai.
(2). Hình thành vùng đồng cỏ chăn nuôi gia súc lớn ở vùng đồi cát ven biển
huyện Bắc Bình: Nhìn chung trong khu vực này sản xuất canh tác khó khăn do địa
hình cao, ít mưa, nước ngầm ít, sâu. Trong qui hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh
Bình Thuận đến 2020, hướng phát triển là trồng rừng chống sa mạc hóa được ưu
tiên. Tuy nhiên, đến 2050, khi rừng phòng hộ (với nhiều cây neem chịu hạn) mở
rộng, phủ xanh nhiều vùng đất cát, phần nào cải tạo nhiều vùng đất hoang hóa
hướng phát triển các đồng cỏ chăn nuôi bò, dê, cừu trên cơ sở có rừng sẽ là khuyến
nghị của NCS cho điều chỉnh qui hoạch nông nghiệp của tỉnh.
(3). Hình thành vùng trồng cây hàng năm là nguyên liệu tập trung cho công
nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi (gia súc, gia cầm) ở vùng đồng bằng sông Lũy,
sông Cà Giây: Đây là vùng thuộc cụm 4 (C4) trong hình 3.22, là vùng chịu tác
động mạnh bởi hạn hán và HMH ở cấp 6, cấp 7 nên vấn đề phát triển vùng chuyên
canh lúa 2 đến 3 vụ theo qui hoạch phát triển nông nghiệp đến 2020 cần xem xét lại.
21
Footer Page 25 of 89.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status