[Lê Hiền] Bộ tài liệu 132 đề Ôn thi Đại học môn Ngữ Văn
Đề 18.4. Phân tích đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao trong
đoạn văn mở đầu truyện ngắn Chí Phèo để chứng tỏ đây là một đoạn văn mở
đầu độc đáo, sáng tạo:
''Hắn vừa đi vừ chửi....cả làng Vũ đại không ai biết.''
Ngôn ngữ là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của một tác
phẩm, nhất là thể lại truyện. Nó là phuơng tiện cơ bản để nhà văn bộc lộ chủ đề, tư
tưởng của tác phẩm, để trội bật lên tính cách của nhân vật và thuyết phục người
đọc đồng tình với mình về cách đánh giá đối với những hiện tượng và con người
được miêu tả. Như Gorki đã từng nói ''Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học''.
Nam Cao là một nhà văn xuất sắc trong nền văn học Việt Nam thế kỉ XX, và ông
cũng bộc lộ tài năng bậc thầy trong sử dụng ngôn ngữ của mình. Truyện ngắn ''Chí
Phèo'' là tác phẩm tiêu biểu cách vận dụng tài tình ngôn ngữ của ông. Và chỉ trong
đoạn văn đầu thôi ta cũng thấy được điều đó, một đoạn văn không chỉ là dụng ý
nghệ thuật mà còn thể hiện được tư tưởng của tác phẩm.
''Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu
hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hăn chửi đời. Thế cũng
chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ
Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: ''Chắc nó trừ mình ra!''. Không ai lên
tiếng cả. Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Đã thế, hắn phải
chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều. Mẹ
kiếp! Thế có phí rượu không? Thế có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào
lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà
chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn
nghiến răng vào mà chửi cái đứa đẻ ra Chí Phèo. Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra
Chí Phèo? Có mà trời biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết...''
Xét trong kết cấu của một truyện ngắn, đoạn văn mở đầu của truyện phải
giới thiệu được hoàn cảnh của nhân vật hoặc của cảnh được miêu tả, nó chỉ mang
tín hiệu gợi mở rất nhẹ nhàng để người đọc hình dung và theo dõi truyện. Chính vì
vậy mà đoạn đầu của truyện dễ mà khó bởi nó rất khó hay, để tạo được sự hấp dẫn
thấp, từ nhiều đến ít, từ không cụ thể đến cụ thể: chửi trời, chửi đời, chửi làng Vũ
Đại, chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn, chửi mẹ đứa nào đã đẻ ra thân
hắn, nhưng hoá ra toàn chửi vào chỗ trống, chửi ''đổng'', trừu tượng, vu vơ. Nhà
văn đã xác định được hoàn cảnh của Chí Phèo vừa cô đơn giữa đời người, vừa hư
vô giữa cuộc đời mà tự ngôn ngữ tác giả tạo ra với nhiều lối diễn đạt có ngôn ngữ
trần thuật, có ngôn ngữ kể, có ngôn ngữ bình luận ''có hề gì'', ''thế cũng chẳng
sao'', ''không ai ra điều''... Đây là một đoạn văn đa giọng điệu của truyện. Cách
trần thuật gián tiếp xen lẫn với những đoạn văn nử trực tiếp nửa gián tiếp tô đậm
một nét của nhân vật: ''Ờ! Thế này thiừ tức thật! Tức chết đi được mất!... Mẹ kiếp!
Thế này có phí rượu không?...''. Người kể vừa có định hướng cho người đọc,
hướng dẫn người đọc là vừa nhận thân vào nhân vật. Điều đó là điều khiến cho ta
không nhận ra được đâu là ngôn ngữ tác giả, đâu là ngôn ngữ nhân vật. Hai mà là
1, một mà là hai vậy. Chí Phèo bị cô lập ngay từ khi ra tù hơn mười năm trời.
Người ta coi Chí Phèo không phải là con người mà là con vật. Con người phải
được giao tiếp, Chí Phèo muốn được giao tiếp thì phải chửi nhưng không ai đáp
lại, cô đơn đến cùng cự vì sống giữa con người mà như sống giữa đảo hoang, cô
đơn giữa cuộc đời, Chí Phèo là con người hư vô. Dường như cứ một câu chửi lại
nhấn thêm vào nỗi đau của Chí Phèo.
Đoạn văn sử dụng hàng loạt những câu văn ngắn, rất ngắn tạo nên nhịp điệu
nhanh, dồn dập và tạo nên kịch tính cho truyện. Nỗi đau cứ lần lượt bị trần trụi ra,
nỗi đau cứ ngày một bị nhấn thêm một bậc nữa. ''Tứ mình'', rồi ''tức thật! Thế này
thì tức thật. Tức chết đi mất'', ''mẹ kiếp'', ''nghiến răng mà chửi''. Những câu văn
ngắn cho ta cảm nhận một cách thấm thía được trực tiếp nỗi đau của Chí. Chí tìm
mọi cách bật ra nỗi cô lập của bản thân nhưng đều không được và hiện lên trong
đoạn văn là hình ảnh Chí Phèo đang vật vã, đang quằn quại trong nỗi đau khổ,
trong bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của mình. Ngữ điệu của những câu văn
thay đổi rất linh hoạt và các cung bậc của bài chửi- các cung bậc của nỗi đau cũng
được bộc lộ từ đo. Những từ ngữ cảm thán mang sắc thái bình luận sử dụng với
mật độ dày đặc: ''Có hề gì?'', ''Tức thật'', ''Ờ! Thế này thì tức thật!'', ''Mẹ kiếp'',
''Thế có phí rươụ không? Thế thì có khổ hắn không?'', ''A ha!'', ''có trời mà biết!''
Cách xưng hô của Nam Cao rất lạ: ''hắn''. Nếu chỉ xét bề ngoài của ngôn
ngữ thì dường như nhà văn ''khinh miệt'' Chí Phèo, lạnh lùng, tàn nhẫn với nhân
vật nhưng phải thật tinh tế ta mới nhận ra được những điều ẩn chứa đằng sau câu
chữ. Nhà văn xưng hô như vậy là để đảm bảo được sự khách quan, người đọc từ
đó mà cảm nhận cũng thật khách quan điều mà tác giả miêu tả có lẽ khi nhà văn
viết những dòng này thì ông cũng phải đau đớn khổ tâm, dằn vặt nhiều lắm bởi cái
cô đơn của Chí. Ngòi bút của Nam Cao dữ dội nhưng cái tình của ông gửi gắm ở
ngôn ngữ lại thật đằm thắm, thiết tha. Một niềm trắc ẩn, mênh mang tình người...
Say, chửi để rồi chờ đợi tín hiệu giao tiếp nhưng thế giới ấy đã bị bịt kín, chờ đợi
đến độ tuyệt vọng chờ đợi đến mức cuồng nộ, cay đắng, bi phẫn. Dường như mỗi
lần Chí bị nhấn sâu vào nỗi cô đơn, trống trụi ấy thì Nam Cao lại thêm một lần oằn
mình trở trăn, đau nỗi đau tận cùng của nhân vật. Phải rất đau khổ khi Nam Cao
viết những dòng bi phẫn như thế. Hành vi chửi của Chí Phèo còn được lặp đi lặp
lại nhiều lần trong toàn truyện, mỗi lần chửi là mỗi lần tủi nhục, xót xa của Chí
Phèo và cả cuộc đời hắn là sự kiếm tìm thế giới giao tiếp tưởng chừng như bình
thường ấy. Xét trong kết cấu truyện thì đây là điểm sáng nghệ thuật quan trọng.
Như vậy là ngay trong đoạn mở đầu của tác phẩm, người đọc đã được tiếp
xúc trực tiếp với nhân vật, với cả một thế giới tâm trạng phong phú đa sắc thái;
tiếp xúc với bầu sinh khí của truyện, để rồi hé mở tư tưởng của tác giả. Chỉ trong
một đoạn văn ngắn, chân dung của nhân vật trung tâm đã hiện lên với hai tầng.
Tầng thứ nhất là chân dung của một kẻ lưu manh, du côn, say rồi chửo đổng; tầng
thứ hai là chân dung của một nạn nhân đau khổ mang trong mình nỗi cô đơn hư
3
[Lê Hiền] Bộ tài liệu 132 đề Ôn thi Đại học môn Ngữ Văn
vô, trống rỗng, bị cự tuyệt quyền làm người. Hình ảnh Chí vật vã, quằn quại trong
nỗi đau khổ của mình đã ám ảnh người đọc cho nên truyện đã tạo được ấn tượng
mạnh mẽ, dữ dội trong người đọc. Sức nặng của ngôn ngữ là yếu tố chính để tạo