g
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
--------------------------------
Nguyễn Anh Tuấn
QUẢN LÝ ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CHO NHÓM DI DÂN
NÔNG THÔN – ĐÔ THỊ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP LÀNG ĐỒNG VÀNG,
XÃ HOÀNG LONG, HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU
--------------------------------
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS Bùi Văn Tiến
Hà Nội - 2017
1
LỜI CAM ĐOAN
Công trình nghiên cứu này là của tác giả luận án, được thực hiện dưới sự
hướng dẫn của các nhà khoa học.
Các kết quả và số liệu về vấn đề nghiên cứu trong luận án là trung thực.
Tư liệu trích dẫn trong luận án đều có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày … tháng …. năm 2017
Tác giả luận án
Nguyễn Anh Tuấn
2
MỤC LỤC
Lời cam đoan
1
Mục lục
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý đời sống văn hoá nhóm di dân nông
thôn – đô thị
43
2.1. Tổng quan về nhóm di dân người làng Đồng Vàng
43
2.2. Thực trạng đời sống văn hóa nhóm di dân nông thôn – đô thị
60
2.3. Thực trạng quản lý đời sống văn hóa nhóm di dân nông thôn – đô thị
81
Tiểu kết
95
Chƣơng 3: Hoàn thiện định hƣớng quản lý đời sống văn hoá nhóm di
dân nông thôn – đô thị.
97
3.1. Cơ sở thực tiễn của việc hoàn thiện quản lý đời sống văn hóa
97
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CLTTKT
Chất lượng tăng trưởng kinh tế
ĐHQG
Đại học Quốc gia
ĐHSP
Đại học Sư phạm
HTX
Hợp tác xã
KH-KT
Khoa học kỹ thuật
KHXH
Khoa học Xã hội
KHXH&NV
Khoa học Xã hội và Nhân văn
nghiên cứu, các nhà quản lý nhằm phát triển đời sống văn hóa xã hội theo xu hướng
hiện đại, bên cạnh việc cần gìn giữ, bảo vệ, phát huy những giá trị văn hóa truyền
thống tốt đẹp. Tại Việt Nam, vấn đề này càng quan trọng hơn khi đặt trong bối cảnh
đẩy mạnh quá trình di dân nông thôn - đô thị hiện nay.
Thực hiện chính sách mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hơn
20 năm qua, Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc về kinh tế, văn hóa, xã hội.
Với việc đẩy mạnh quá trình đô thị hóa, các trung tâm kinh tế, đô thị được đầu tư
phát triển, mở rộng, trở thành “đầu tàu” thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng của vùng.
Những thế mạnh, nguồn lực của mỗi vùng, mỗi tỉnh được đầu tư khai thác. Những
động lực đó đã tạo ra sức hút đối với các luồng di dân nội địa của Việt Nam. Hiện
nay, Việt Nam tồn tại 4 mô hình di dân: từ nông thôn đến nông thôn; từ nông thôn
đến đô thị; từ đô thị về nông thôn và từ đô thị đến đô thị. Trong số này, mô hình di
dân nông thôn – đô thị là phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số những người
thực hiện di cư.
Thủ đô Hà Nội đã và đang là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, xã
hội bậc nhất của cả nước. Điều này tạo lực hút cho các luồng di dân đến Hà Nội,
đặc biệt là di dân tự do theo hướng nông thôn – đô thị diễn ra mạnh mẽ. Hiện tượng
này đang ảnh hưởng ngày một sâu sắc đến sự vận động, phát triển của thủ đô cũng
như những địa phương có người di cư. Tìm hiểu về luồng di dân tự do nông thôn –
đô thị tại Hà Nội sẽ cho ta một cái nhìn cụ thể hơn về sự tác động qua lại giữa khu
vực nông thôn với thành thị thông qua bộ phận di dân, cũng như những biến đổi về
đời sống văn hóa ở cả hai khu vực.
5
Di dân là hiện tượng vận động khách quan của xã hội loài người. Toàn cầu
hóa sâu rộng, kinh tế càng phát triển, đô thị hóa càng đẩy mạnh, sự chênh lệch về
trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, về mức sống, chính sách an sinh xã
hội… của từng vùng trong một tỉnh, giữa các tỉnh trong cả nước càng được thể hiện
phận này với sự phát triển chung của cả nước và thành phố Hà Nội. Các nghiên cứu
đều chỉ ra bên cạnh những mặt tiêu cực không thể tránh khỏi, di dân tự do nông
thôn – đô thị đang có những đóng góp to lớn cả về mặt kinh tế, việc làm, nhân khẩu
đối với cả nơi nhập cư và nơi xuất cư. Thực tiễn đó cũng dẫn đến những biến đổi về
văn hóa của các cộng đồng có người xuất cư, nhập cư. Điều này đang đặt ra những
vấn đề về đời sống văn hóa và quản lý nhằm đảm bảo đời sống văn hóa cho nhóm
di dân ở cả nơi xuất cư (nông thôn) và nhập cư (đô thị); Quá trình hòa nhập cuộc
sống, hòa nhập văn hóa của nhóm di cư với chính quyền, người dân sở tại, từ thực
tiễn quản lý cho đến các văn bản pháp lý đã cho thấy, các chính sách của nhà nước
chưa thể hiện được sự quản lý về mặt văn hóa đối với nhóm di dân trong quá trình
gia tăng dòng di cư nông thôn - đô thị.
Trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận án là Quản lý
đời sống văn hóa cho nhóm di dân nông thôn – đô thị (Nghiên cứu trường hợp
làng Đồng Vàng, xã Hoàng Long, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội). Đề tài
sẽ cung cấp một góc nhìn khác, trong tính tác động qua lại của văn hóa nông thôn –
đô thị trên cơ sở bộ phận di dân tự do của một làng quê ngoại thành Hà Nội và thực
trạng đời sống văn hóa của nhóm di dân nông thôn – đô thị; đề tài phân tích và định
hướng cho quá trình quản lý đời sống văn hóa cho nhóm di dân trong bối cảnh hiện
nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quản lý đời sống
văn hóa cho nhóm di dân nông thôn – đô thị, góp phần hoàn thiện lý luận về quản lý
đời sống văn hoá nói chung, quản lý đời sống văn hóa tại các khu vực nông thôn và
đô thị nói riêng dưới tác động của quá trình gia tăng chuyển cư nông thôn - đô thị.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác định cơ sở lý luận về quản lý di dân nói chung, quản lý đời sống văn hóa
của nhóm di dân nông thôn – đô thị nói riêng.
tộc học tìm hiểu về làng Đồng Vàng cũng như đặc điểm, cách thức thực hành các
8
nhóm di cư có công việc mưu sinh khác nhau của bộ phận người làng Đồng Vàng
tại khu vực nội thành Hà Nội. Phương pháp này được tiến hành trong nhiều năm,
suốt thời gian làm luận án, giúp cho tác giả có một cái nhìn chung, toàn diện về đặc
điểm làng Đồng Vàng, đời sống, công việc các hộ gia đình người Đồng Vàng tại
quê gốc cũng như tại khu vực di cư tới tại nội thành Hà Nội.
Trong quá trình điền dã, để có được những các kỹ thuật nghiên cứu như
phỏng vấn sâu thông qua một số cá thể và hộ gia đình người Đồng Vàng dựa trên
đặc điểm 3 loại hình nhóm công việc: xe ôm, bán hàng rong và hàng xáo (bán gạo).
Phỏng vấn sâu giúp cho chúng ta có một cái nhìn rõ hơn về nhu cầu, cảm nhận, đời
sống tâm lý của người được hỏi về công việc, mối liên hệ về các thành viên cùng
họ, cùng làng tại khu vực nội thành Hà Nội. Trên cơ sở đó, chỉ ra được những đặc
điểm đời sống văn hóa (gồm đặc điểm về giá trị văn hóa truyền thống và tiếp nhận
những văn hóa đô thị) của người Đồng Vàng khi thực hiện di cư. Kỹ thuật thống kê
cũng được áp dụng khi phân khúc các nội dung nghiên cứu theo thời gian, cho
chúng ta một cái nhìn toàn diện về tiến trình di cư của người làng Đồng Vàng, từ
đó, làm nổi bật lên vai trò của mạng lưới xã hội người làng Đồng Vàng cũng như
những biến đổi giá trị văn hóa truyền thống của từng thế hệ người Đồng Vàng khi đi
ra đô thị mưu sinh, cung cấp những thông tin tin cậy về đặc điểm di cư của người
làng Đồng Vàng. Phương pháp thống kê phần nào làm sáng tỏ được mối liên hệ của
những ngươi di cư làng Đồng Vàng với quê gốc thông qua tần suất trở về quê của
họ (tùy vào từng mục đích khác nhau).
- Ngoài ra, tác giả còn kết hợp sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp,
phương pháp so sánh và phương pháp dự báo nhằm có hướng tiếp cận tổng thể, sâu
rộng về vấn đề nghiên cứu. Phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng trong
quá trình tổng luận các vấn đề nghiên cứu, phân tích thực trạng quản lý đời sống
trên góc độ kinh tế (tăng thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống, kiều hối…), xã
hội (thay đổi cấu trúc dân số, giới, an ninh trật tự, sức khỏe sinh sản…) hay chính
trị (chính sách quản lý di dân). Từ góc độ văn hóa, những nghiên cứu về quản lý
văn hóa dựa trên nền tảng di dân chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm đúng
mức. Cách tiếp cận từ quản lý đời sống văn hóa nông thôn và đời sống văn hóa đô
thị thông qua một bộ phận dân nhập cư vào Hà Nội là một hướng tiếp cận khác, làm
phong phú hơn những góc nhìn khi nghiên cứu về quản lý đời sống văn hóa.
10
Về lý thuyết nghiên cứu: Lý thuyết mạng lưới xã hội áp dụng trong nghiên
cứu về nhóm di dân người làng Đồng Vàng sẽ chỉ ra được vai trò cũng như tác động
của các mối quan hệ đa chiều: họ hàng, làng xóm, bạn bè, đồng hương… đối với
quyết định di chuyển, lựa chọn việc làm, tâm lý xã hội, hòa nhập đời sống văn hóa
đô thị… của nhóm đối tượng nghiên cứu. Mạng lưới xã hội có thể là một kênh
thuận lợi thúc đẩy quá trình di cư của người làng Đồng Vàng ra khu vực trung tâm
Hà Nội, tuy nhiên, sự cố kết cộng đồng làng Đồng Vàng trên một/vài khu vực nhất
định liền kề nhau có thể tạo ra những rào cản cho họ hòa nhập vời đời sống văn hóa
đô thị.
Các nhà nghiên cứu trước đây thường chỉ ra quá trình chuyển cư gắn liền với
một cộng đồng di cư nhất định. Với trường hợp nghiên cứu nhóm di dân làng Đồng
Vàng, tác giả sẽ chỉ ra cộng đồng này đã trải qua từng bước các mô hình di dân: từ
di dân con lắc, mùa vụ, tạm thời đến lâu dài và có xu hướng định cư tại khu vực
trung tâm Hà Nội. Tuy vậy, họ vẫn giữ mối quan hệ mật thiết với quê gốc. Từ
nghiên cứu thực trạng đời sống văn hóa tại đô thị của nhóm di dân nông thôn – đô
thị; phân tích những vấn đề quản lý đời sống văn hóa, từ đó đề xuất những kiến
nghị, giải pháp nhằm quản lý hiệu quả hơn cho đời sống văn hóa của nhóm di dân
này nói riêng, cho các nhóm cư dân đô thị và nông thôn có người xuất cư và nhập
cư nói chung.
1.1.1. Lý luận về di dân
1.1.1.1.Khái niệm di dân
Di dân là sự vận động khách quan trong lịch sử hình thành và phát triển của
xã hội loài người, diễn ra trên mọi vùng lãnh thổ. Di dân làm thay đổi bức tranh
phân bố dân cư trên trái đất, nó dẫn tới sự phân bố lại lao động trên lãnh thổ và làm
ảnh hưởng hàng loạt các vấn đề kinh tế xã hội, cũng như môi trường của các vùng
[19]. Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm di dân. Theo E.F. Baranov và
B.D.Breev: “di dân hiểu theo nghĩa rộng là bất kì sự di chuyển nào của con người
giữa các vùng lãnh thổ có gắn với sự thay đổi vị trí, dạng hoạt động lao động và
ngành có sử dụng lao động”. Khái niệm trên còn coi trọng sự chuyển dịch trong
không gian mà chưa chú ý đúng mức đến sự thay đổi nơi cư trú, cũng như mục đích
và thời gian di chuyển không được đề cập đến [163].
Nhiều tác giả đã có sự thống nhất khái niệm di dân theo nghĩa hẹp, như
V.I.Perevedensev (1966) coi di dân là “tổng hợp sự di chuyển của con người gắn
liền với sự thay đổi chỗ ở”. V.N.Ônhikienkô và V.A.Popovkin (1973): “di dân được
hiểu là sự thay đổi nơi thường trú của con người với tổng hợp các nhân tố và
nguyên nhân chính”. Theo V.I.Xtaroverov (1975): “Di dân là sự thay đổi vị trí của
con người về mặt địa lí, do có sự di chuyển thường xuyên hoặc tạm thời của họ từ
một cộng đồng kinh tế này sang một cộng đồng kinh tế khác, trở về hoặc có sự thay
đổi vị trí không gian của toàn bộ cộng đồng nói chung”…
13
Tại Việt Nam, các nhà khoa học với các chuyên ngành khác nhau cũng đưa
ra những định nghĩa về vấn đề này: “Di dân được xác định là sự di chuyển của con
người từ lãnh thổ này sang lãnh thổ khác kèm theo sự thay đổi nơi cư trú (nơi ở
thường xuyên) theo những chuẩn mực thời gian và không gian nhất định” [64, tr.3];
Di dân là một hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội
loài người với những thay đổi của tự nhiên, xã hội và sự phát triển không đồng đều
nay. Những người dân từ nông thôn chuyển lên các thành phố lớn, các trung tâm để
tìm kiếm việc làm, gây dựng cuộc sống.
+ Di dân đô thị - đô thị: Hình thức này không diễn ra phổ biến lắm, thường
thấy ở những người có xu hướng chuyển chỗ ở, việc làm hoặc học tập tại các thành
phố.
+ Di dân đô thị - nông thôn: Hình thức di dân ít gặp nhất trong thời bình, với
những lao động đến tuổi nghỉ hưu về quê an dưỡng, những ông chủ giàu có mua
nhà mua đất ở thôn quê nhằm lấy chỗ nghỉ ngơi; hay việc các học sinh sinh viên sau
khi học tại các trường đại học, cao đẳng ở các thành phố, thị xã về quê khi chưa có
việc làm.
Xét theo tiêu chí tổ chức, di dân có hai bộ phận:
+ Di dân có tổ chức: là hình thái dịch chuyển dân cư theo sự quản lý điều
chỉnh, tổ chức, thay đổi cấu trúc dân số, nhằm phục vụ những mục tiêu chính trị,
kinh tế, văn hóa của Nhà nước.
+ Di dân tự do: là sự di chuyển một cá nhân, gia đình hoặc một nhóm người
do con người tự quyết định hành vi đi hay ở lại mà không bị sự tác động nào từ phía
nhà nước hoặc bên ngoài [101, tr.17].
Xét theo tiêu chí thời gian, di dân có thể được phân chia thành các bộ phận
sau:
+ Di dân “con lắc”: là hình thái di cư luân chuyển giữa nông thôn và đô thị
khá ổn định về không gian và thời gian. Đây là loại hình di dân có thời hạn liên
quan đến việc làm hoặc lý do khác đòi hỏi người lao động phải ngủ qua đêm ở đô
thị, được lặp đi lặp lại và không nhất thiết phải thay đổi nơi ở chính thức [3].
15
+ Di dân tạm thời: là hình thái di chuyển chỗ ở, làm việc trong thời gian
ngắn, sau đó chuyển tiếp đến chỗ ở khác hoặc quay lại chỗ ở ban đầu. Người di dân
không/chưa xác định gắn bó lâu dài (công việc, định cư) tại nơi chuyển đến. Thời
mãn hiện thời [69, tr.30]. Trên cơ sở lý thuyết lực hút – lực đẩy, Everettts Lee đã
chỉ ra bên cạnh yếu tố kinh tế, di dân nông thôn – đô thị còn chịu sự tác động của
các yếu tố văn hóa, xã hội nhưng ở những mức độ khác nhau [74]. Lý thuyết này
cũng được Harris-Todaro (1970) lựa chọn để phân tích, lý giải đối với hiện tượng di
dân từ nông thôn ra đô thị: “Di dân trong quá trình phát triển kinh tế là hiện tượng
tất yếu. Nó gắn với tình trạng chênh lệch trong phát triển kinh tế - xã hội giữa khu
vực nông thôn và khu vực đô thị” [74].
Tại Việt Nam, lý thuyết về “lực hút – đẩy” được áp dụng phổ biến trong các
nghiên cứu nhằm lý giải cho các nguyên nhân dẫn đến các luồng di cư đang diễn ra.
Thực tế cho thấy rằng, con người di chuyển do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Người di dân không chỉ di chuyển vì nguyên nhân kinh tế mà còn do các nguyên
nhân khác như nguyên nhân chính trị, tôn giáo, tâm lý, tình cảm, quốc phòng, hoặc
do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt hoặc bị thiên tai: động đất, núi lửa, sạt lở đất, hạn
hán kéo dài… Tuy vậy, khi phân tích những nguyên nhân của sự di dân, người ta
cho thấy rằng nguyên nhân phổ biến nhất vẫn là nguyên nhân kinh tế. Kết luận này
đã được nhiều nhà nghiên cứu di dân trên thế giới và Việt Nam thừa nhận, trong đó
đặc biệt rõ rệt đối với luồng di dân nông thôn – đô thị [163].
Bên cạnh đó, ta có thể kể đến lý thuyết về mạng lưới xã hội trong việc giải
thích các nguồn lực xã hội nói chung và động lực dẫn tới các cuộc di cư nói riêng.
John A, Barnes (khoa Nhân học xã hội, Đại học Manchester) được coi là người đề
ra khái niệm “mạng lưới xã hội” trong các ngành khoa học xã hội. Tuy nhiên, quá
trình hình thành “phân tích mạng lưới” chịu ảnh hưởng của nhiều ngành khoa học
khác nhau. Đó là xã hội học và triết học của Georg Simmel, tâm lý học xã hội của
Jacob L. Moreno, nhân học cấu trúc của Claude Lévi Strauss, ngôn ngữ học của
Jackobson… Theo Simmel, ý tưởng sâu xa của phân tích mạng lưới là thấy được
“không phải các cá nhân và những đặc trưng của họ mà chính những tương tác và
mối quan hệ giữa các cá nhân mới là những yếu tố hình thành nên đối tượng nghiên
cứu cơ bản của xã hội học” [65, tr.100].
lưới xã hội nhằm tìm hiểu thành phần, kiểu dạng các quan hệ xã hội mà các cá nhân
18
có thể sử dụng để tìm kiếm việc làm. Những yếu tố cơ bản, quan trọng nhất tạo nên
mạng lưới xã hội ở đây là các thành viên gia đình bao gồm bố mẹ, anh em bà con
ruột thịt; những người quen thân của gia đình, các bạn bè của cá nhân và những
người khác, những nhóm, tổ chức xã hội mà họ có những mối liên hệ nhất định
trong quá trình sống, sinh hoạt, học tập và tham gia vào thị trường lao động xã hội.
Mạng lưới xã hội có vai trò trực tiếp làm cầu nối và hỗ trợ tìm kiếm việc làm. Tác
giả nêu ra khái quát 3 kiểu mạng lưới xã hội: kiểu truyền thống (các cá nhân chủ
yếu dựa vào các quan hệ gia đình tìm kiếm việc làm); kiểu hiện đại (cá nhân chủ
yếu dựa vào các mối quan hệ chức năng với cơ quan, tổ chức và các thiết chế thị
trường lao động); kiểu hỗn hợp (kết hợp kiểu 1 và 2). Trong đó, kiểu hỗn hợp được
sử dụng phổ biến hiện nay [94, tr.69].
Lý thuyết về mạng lưới xã hội cũng được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để
giải thích về động lực, hướng di chuyển của các nhóm di cư (Đặng Nguyên Anh
(1998, 2012); Sền Thị Hiền (2013); Đinh Quang Hà (2014)…). Có nhiều định nghĩa
khác nhau về khái niệm mạng lưới xã hội, ta có thể hiểu khái quát “mạng lưới xã
hội là phức hợp quan hệ xã hội của con người trong xã hội, đa dạng, nhiều tầng, đan
cài vào nhau từ quan hệ trong gia đình, nhóm xã hội đến các tổ chức và đoàn thể xã
hội” [73]. Mạng lưới xã hội giữ vai trò quan trọng đối với mỗi con người, với xã
hội. Với cá nhân, mạng lưới xã hội tạo môi trường để mỗi người học hỏi xã hội, qua
đó hoàn thiện con người xã hội; thông qua mạng lưới xã hội các cá nhân khẳng định
cái “tôi xã hội”, tạo ra ảnh hưởng và xác lập quyền lực trong nhóm xã hội, cộng
đồng xã hội. Một số nhà xã hội học cho rằng, mạng lưới xã hội gắn liền với “vốn xã
hội”, vốn xã hội ở trong mạng lưới xã hội, mạng lưới xã hội là thành tố của vốn xã
hội. Do đó, vốn xã hội là nguồn lực nằm trong mạng lưới xã hội, các cá nhân có thể
sử dụng vốn xã hội là mạng lưới xã hội để tạo dựng sự thăng tiến xã hội, tìm kiếm
đề tài thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế. Trên
nhiều góc độ, sử dụng các phương pháp và áp dụng những lý thuyết nghiên cứu
khác nhau, các nhà nghiên cứu đã cho thấy sự phong phú, phức tạp của vấn đề di
dân cũng như sự tác động của hiện tượng này đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã
hội của đất nước. Trên cơ sở đó, yêu cầu được đặt ra với các nhà quản lý là đánh giá
đúng tình hình thực tế, khai thác tốt những mặt tích cực của hiện tượng di dân cũng
20
như hạn chế những khó khăn của hiện tượng này với sự nghiệp phát triển chung của
đất nước.
1.1.2.1. Những vấn đề chung về di dân
Ở Việt Nam, nếu trước thời kỳ Đổi mới, quá trình di cư thường gắn với các
chính sách phân bố dân cư, phát triển vùng kinh tế theo kế hoạch của nhà nước, thì
từ sau năm 1986, các luồng di dân nghiêng phần lớn về hướng di dân nông thôn –
đô thị và mang nặng yếu tố tự phát (di dân tự do) (Đặng Nguyên Anh, Tống Văn
Chung, Tống Văn Đường, Lê Bạch Dương…). Để lý giải cho điều này, các tác giả
cho rằng do sự chênh lệch về mức thu nhập giữa lao động ở khu vực nông thôn và
thành thị nên di dân nông thôn – đô thị là không thể tránh khỏi (Đặng Nguyên Anh).
Di dân không chỉ tác động đến bản thân người thực hiện di dân mà còn là một bộ
phận trong sự vận động quy luật của đất nước. “Đối với từng người, từng gia đình,
tham gia vào cuộc di dân chỉ là sự chuyển đổi địa điểm mưu sinh, còn đối với quốc
gia và dân tộc thì đó chính là thực hiện quy luật của sự tồn tại và phát triển, quy luật
của kinh tế, quy luật của xã hội, quy luật của văn hóa” [101, tr.3]. Di dân nông thôn
– đô thị không những giải được bài toán khó khăn về kinh tế với những cá nhân, hộ
gia đình thực hiện quá trình di chuyển: Các kết quả nghiên cứu về di dân đều cho
thấy tỷ lệ lao động di cư tham gia hoạt động kinh tế cao hơn dân sở tại, tỷ lệ thất
nghiệp thấp hơn, và thu nhập cao hơn nơi xuất cư và người di cư nhìn chung hài
lòng với quyết định di chuyển. Hầu hết lao động di cư có thu nhập tích lũy, góp
[211, tr.88].
Trên góc độ dân số, tác giả Hoàng Thị Thêu đã tìm hiểu thực trạng dân nhập
cư vào TP. HCM và ảnh hưởng của nó đến biến động dân số thành phố, từ đó làm
cơ sở khoa học để đề ra các chính sách thích hợp nhằm đạt tới quy mô dân số và
phân bố dân cư phù hợp với quá trình công nghiệp hóa – đô thị hóa TP. HCM, đồng
thời nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân TP. HCM, giảm áp lực dân số
lên cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội và môi trường đô thị [150].
Các tác giả Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng (2008) đề cập đến vấn đề di
dân và bảo trợ xã hội, đặc biệt từ sau khi công cuộc Đổi mới được khởi xướng ở
Việt Nam. Di dân với số lượng lớn đã trở thành một thách thức trọng tâm cho các
nhà hoạch định chính sách trong nỗ lực vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vừa duy trì
ổn định xã hội. Nhóm tác giả cũng phân tích: do quan điểm còn khá phổ biến về tác
động tiêu cực của di dân đối với quá trình phát triển, sự thiếu vắng của các chính
sách và chương trình toàn diện về bảo trợ xã hội cho các nhóm bị thiệt thòi cũng
22
như những yếu kém về tổ chức đã hạn chế đáng kể năng lực của Nhà nước trong
việc đối phó với thách thức đó [50].
Trong báo cáo “Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Di dân và sức khỏe”
(2012), Nguyễn Đình Cử và cộng sự đã phân tích mối liên hệ giữa tình trạng di cư
và sức khoẻ. Đối với người di cư, những so sánh được thực hiện dựa trên loại hình
di cư, hiện trạng đăng ký hộ khẩu và độ dài thời gian đến nơi ở hiện tại. Việc so
sánh cũng được thực hiện giữa nhóm di cư và không di cư. Theo đó, di cư có ảnh
hưởng tích cực trong việc nâng cao tỷ lệ người lao động được cấp bảo hiểm y tế.
Hiện nay, tỷ lệ người di cư được bảo hiểm y tế lớn hơn người không di cư. Bên
cạnh đó, báo cáo cũng đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng không sử dụng
dịch vụ y tế trong lần đau ốm của người di cư gồm: vùng cư trú, giới tính, tình trạng
hôn nhân, tình trạng sở hữu thẻ bảo hiểm y tế, tình trạng đăng ký hộ khẩu và điều
Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi ngày
28/11/2013) đã quy định mọi công dân, bao gồm cả người nhập cư, đều có quyền
bình đẳng, gồm quyền được làm việc, học tập, chăm sóc sức khỏe, tự do đi lại và
sinh sống. “Người dân có quyền tự do đi lại và sinh sống trong nước, đi ra nước
ngoài và quay trở về”. Việc thực hiện các quyền này phù hợp với các quy định của
luật pháp” (Điều 23) [228].
Luật Cư trú (sửa đổi bổ sung năm 2013) quy định mọi công dân đều có
quyền lựa chọn nơi sinh sống mà không bị ràng buộc bởi bất cứ một điều kiện việc
làm nào cả.
Về Quyền của công dân về nơi cư trú: “Lựa chọn, quyết định nơi thường trú,
tạm trú của mình phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp
luật liên quan; được cấp, cấp lại, đổi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan
đến cư trú…” (Điều 9)
Điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương: “có chỗ ở
hợp pháp, trường hợp đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố trực
thuộc trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ một năm trở lên,
trường hợp đăng ký thường trú vào quận thuộc thành phố trung ương thì phải có
thời gian tạm trú tại thành phố đó từ hai năm trở lên…”. (Điều 20) [227]