Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của vi rút gây bệnh lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch lở mồm long móng tại tỉnh bắc kạn - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG QUANG HẢI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
CỦA VI RÚT GÂY BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG TRÊN
ĐÀN TRÂU, BÒ VÀ HIỆU LỰC CỦA VẮC XIN TRONG
CÔNG TÁC PHÒNG BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG
TẠI TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG QUANG HẢI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
CỦA VI RÚT GÂY BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG TRÊN
ĐÀN TRÂU, BÒ VÀ HIỆU LỰC CỦA VẮC XIN TRONG
CÔNG TÁC PHÒNG BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG
TẠI TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60.64.01.01


ii

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gia học tập tại trường và làm đề tài nghiên cứu tại cơ sở tôi đã
nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại
học, Khoa Chăn nuôi thú y và các thầy, cô giáo của Trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên, sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban lãnh đạo và các cán bộ chuyên môn
các phòng, ban của Trung tâm Chẩn đoán thú y Trung ương, Chi cục Thú y tỉnh Bắc
Kạn, Trạm thú y các huyện, thành phố tỉnh Bắc Kạn đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn nghiên cứu của mình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo và các giảng viên
của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình giảng dậy, giúp đỡ tôi
trong thời gian học tập tại trường, đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của
thầy giáo TS. Nguyễn Văn Sửu, PGS.TS Tô Long Thành đã trực tiếp giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới ban lãnh đạo Trung tâm chẩn đoán thú y Trung ương,
Chi cục Thú y, tập thể trạm thú y các huyện, thành phố của tỉnh Bắc Kạn đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp đã thường xuyên giúp đỡ, tạo điều kiện và dành cho tôi sự động viên quý
báu trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu của mình.
Một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, lời cảm ơn chân thành tới những tập
thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập.
Bắc Kạn, ngày 20 tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn

Nông Quang Hải

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

1.4.1. Nguồn dịch ...................................................................................................... 22
1.4.2. Động vật cảm thụ ............................................................................................ 22
1.4.3. Đường xâm nhập ............................................................................................. 23
1.4.4. Cơ chế sinh bệnh ............................................................................................. 23
1.4.5. Chất chứa vi rút ............................................................................................... 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




iv
1.4.6. Con đường và phương thức truyền lây ........................................................... 25
1.4.7. Lứa tuổi mắc bệnh ........................................................................................... 26
1.4.8. Tỷ lệ ốm và chết .............................................................................................. 26
1.5. Miễn dịch trong bệnh LMLM ............................................................................ 27
1.6. Triệu chứng và bệnh tích ở trâu bò .................................................................... 28
1.6.1. Triệu chứng ..................................................................................................... 28
1.6.2. Bệnh tích ......................................................................................................... 31
1.7. Chẩn đoán ........................................................................................................... 32
1.7.1. Chẩn đoán lâm sàng ........................................................................................ 32
1.7.2. Chẩn đoán phòng thí nghiệm .......................................................................... 32
1.8. Phòng bệnh LMLM ............................................................................................ 36
1.8.1. Vệ sinh phòng dịch.......................................................................................... 36
1.8.2. Vắc xin phòng bệnh ........................................................................................ 37
Chương 2: NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..... 39
2.1. Nội dung và đối tượng nghiên cứu..................................................................... 39
2.1.1. Nội dung nghiên cứu ....................................................................................... 39
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu...................................................................................... 39
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ...................................................................... 39

3.2.3. Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh theo lứa tuổi.............................................................. 61
3.3. Giám sát tỷ lệ lưu hành của vi rút LMLM của trâu, bò trên địa bàn tỉnh Bắc
Kạn và đánh giá tỷ lệ mang trùng do nhiễm vi rút LMLM tự nhiên ở trâu, bò ...... 64
3.3.1. Sự lưu hành virut LMLM tự nhiên trên đàn trâu, bò tại tỉnh Bắc Kạn ........... 64
3.3.2. Tỷ lệ dương tính huyết thanh 3ABC tại một huyện ........................................ 68
3.4. Định type vi rút gây bệnh LMLM trên đàn trâu, bò tại tỉnh Bắc Kạn và
nghiên cứu sự đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của đàn trâu, bò tại
tỉnh Bắc Kạn ..................................................................................................... 69
3.4.1. Định type vi rút LMLM trâu, bò bằng huyết thanh ........................................ 69
3.4.2. Định type vi rút LMLM của trâu, bò bằng biểu mô ........................................ 70
3.4.3. Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của đàn trâu, bò tại tỉnh Bắc Kạn ............. 72
3.4.4. Một số khuyến cáo cho người chăn nuôi ........................................................ 75
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ..................................................................................... 76
1. Kết luận ................................................................................................................. 76
2. Đề nghị .................................................................................................................. 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 77

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




vi
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AND

: Acid Deoxyribonucleic

APC
ARN

: Interferon

IgG
KH
KHBT
KN

: Immuno Globulin
: Khoa học
: Kết hợp bổ thể
: Kháng nguyên

KT
LMLM
LPB-ELISA
MHC
OIE
OPD
PCR
PBS
RT-PCR

: Kháng thể
: Lở mồm long móng
: Liqui Phase Blocking ELISA
: Major histocompatibility comlex
: Offce Internatinal Epizooties
: Ortho Phennylenediamine (chất phát màu)
: Polymerase Chain Reaction
: Phosfate Buffer Saline

Bắc Kạn từ năm 2010 đến 2014...................................................... 52
Bảng 3.2: Diễn biến dịch LMLM của trâu, bò trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
từ năm 2010 đến năm 2014 (Tính chung trâu, bò) ......................... 55
Bảng 3.3: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM qua các năm ................................ 56
Bảng 3.4: Tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo mùa từ 2010 đến 2014 (Tách
riêng trâu) ........................................................................................ 58
Bảng 3.5: Tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo mùa từ 2010 đến 2014 (Tách
riêng bò) .......................................................................................... 59
Bảng 3.6: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo mùa từ 2010 đến 2014
(Tính chung trâu, bò) ...................................................................... 60
Bảng 3.7: Tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo nhóm tuổi từ năm 2010 đến
2014 (Tách riêng trâu) .................................................................... 61
Bảng 3.8: Tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo nhóm tuổi từ năm 2010 đến
2014 (Tách riêng bò)....................................................................... 62
Bảng 3.9: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo nhóm tuổi từ năm 2010
đến 2014 (Tính chung trâu, bò) ...................................................... 63
Bảng 3.10: Tỷ lệ trâu, bò nhiễm virut LMLM tự nhiên tại tỉnh Bắc Kạn
năm 2014 ......................................................................................... 65
Bảng 3.11: Tỷ lệ dương tính huyết thanh học 3ABC ở trâu, bò của tỉnh
Bắc Kạn năm 2014 (cắt ngang 4/8 huyện)...................................... 66
Bảng 3.12: Tỷ lệ dương tính ABC-ELISA ở trâu, bò tại một huyện (Pác Nặm).... 68
Bảng 3.13: Kết quả định type vi rut LMLM của trâu, bò tại tỉnh Bắc Kạn
bằng huyết thanh ............................................................................. 70
Bảng 3.14: Kết quả thu thập bệnh phẩm LMLM ở trâu, bò trên địa bàn
tỉnh Bắc Kạn năm 2014 - 2015 ....................................................... 70
Bảng 3.15: Kết quả xét nghiệm định type vi rut LMLM trên đàn trâu, bò
tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2014 - 2015 .......................................... 71
Bảng 3.16: Hiệu giá kháng thể trung bình của đàn trâu, bò khi được tiêm
vắc xin ............................................................................................. 72


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bệnh Lở mồm long móng (LMLM) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan
rất nhanh, rất mạnh gây thiệt hại nặng nề đối với động vật dễ nhiễm thuộc loài
móng guốc chẵn như: Trâu, bò, dê, lợn... Bệnh đã được Tổ chức Thú y thế giới
(OIE: Office Internatinal Epizooties) xếp đầu bảng A (bảng các bệnh truyền nhiễm
nguy hiểm của động vật) và bắt buộc các nước thành viên phải khai báo. Bệnh do vi
rút LMLM thuộc họ Picornaviridae, giống Aphthovirus gây ra, có 2 đặc tính đặc
biệt liên quan đến dịch tễ học, đó là tính đa type và tính dễ biến đổi kháng nguyên.
Các type vi rút tuy gây ra các triệu chứng giống nhau, nhưng lại không gây miễn
dịch chéo với nhau.
Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế thị trường của nước ta đã
thúc đẩy quá trình giao lưu, buôn bán động vật và sản phẩm động vật giữa các
tỉnh trong nước và với nước ngoài như Trung Quốc, Lào, Cam Pu Chia... Từ đó
bệnh LMLM càng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội ở
nước ta. Trên thực tế, việc khống chế và thanh toán bệnh LMLM đã gặp không ít
khó khăn, từ việc kiểm dịch vận chuyển cho đến chăn nuôi thiếu qui hoạch, trâu bò
thả rông.. Tiêm phòng vắc xin được xác định là giải pháp quan trọng, tuy nhiên việc
chọn vắc xin phù hợp cho từng vùng, từng tỉnh đòi hỏi cần phải nghiên cứu kỹ type
vi rút gây bệnh trên thực địa để tránh trường hợp tiêm phòng loại vắc xin không phù
hợp, gây lãng phí và thiệt hại cho người chăn nuôi.
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi, thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, phía Bắc giáp
tỉnh Cao Bằng, phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên và
phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang, tỉnh có địa hình chia cắt phức tạp, giao thông đi
lại khó khăn, diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 485.721 ha, gồm 7 huyện, 1 thành phố
với 122 xã, phường, thị trấn. Trong những năm gần đây cùng với việc phát hiện
nhiều ổ dịch trên đàn gia súc, gia cầm, dịch LMLM gia súc vẫn tái phát tại một số
xã trên địa bàn tỉnh.
Năm 2006, tỉnh Bắc Kạn đã bùng phát dịch LMLM với diễn biến phức tạp, từ
ổ dịch nhỏ dịch đã xảy ra trên tất cả các huyện, thị xã của tỉnh Bắc Kạn, tổng số gia

199 con ( trong đó trâu: 135 con, bò: 54 con, dê: 05 con và lợn: 05 con) số chết, tiêu
hủy là: 07 con (02 trâu, 05 bò).
Từ ngày 24/01/2014 đến ngày 30/3/2014 dịch LMLM lại xuất hiện trên 05 xã
của hai huyện Ba Bể và Pác Nặm, tổng số gia súc mắc bệnh là: 238 con, trong đó
trâu: 134 con, bò: 91 con và lợn: 13 con. Theo kết quả xét nghiệm mẫu biểu mô
động vật mắc bệnh xuất hiện vi rút LMLM với type A.
Bước vào năm 2015, tình hình dịch LMLM gia súc lại xuất hiện ở các huyện
Ngân Sơn, Ba Bể, từ ngày 03/01/2015 dịch xuất hiện tại các xã Bằng Vân, Đức
Vân, Vân Tùng, Nà Phặc, huyện Ngân Sơn làm 185con mắc bệnh (trong đó trâu: 89
con, bò: 96 con); từ ngày 05/02/2015 tại xã Cao Thượng và Nam Mẫu của huyện Ba
Bể dịch LMLM cũng xảy ra tại 07 thôn làm 145 con gia súc mắc bệnh (trong đó
trâu: 76 con, bò: 69 con). Đến ngày 22/5/2015 tại xã Nhạn Môn, huyện Pác Nặm
xuất hiện trâu, bò, lợn mắc bệnh LMLM, tổng số con mắc là: 30 con (trong đó trâu:
17 con, bò: 6 con và lợn 7 con), khi phát hiện gia súc có triệu chứng của bệnh
LMLM, Chi cục Thú y đã phối hợp với UBND huyện Pác Nặm chỉ đạo các phòng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




3
liên quan và UBND xã Nhạn Môn triển khai các biện pháp khoang vùng, tiến hành
tiêm phòng vắc xin đa giá (tuýp O, A và Asia-1) khống chế không để dịch lây lan,
lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm để định type vi rút gây bệnh. Kết quả xét nghiệm
mẫu biểu mô xuất hiện kháng nguyên dương tính với type A.
Như vậy, kể từ năm 2006 đến ngày 30/5/2015, có 08 đợt tái phát dịch LMLM
trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, dịch xuất hiện cả ở 8/8 huyện, thị xã của tỉnh Bắc Kạn, vi
rút gây bệnh LMLM xuất hiện ở cả type O và type A. Các ổ dịch này đã làm 8.067
con gia súc, trong đó có: 7.923 con trâu, bò; 76 con lợn; 68 con dê mắc bệnh


4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu chung về bệnh Lở mồm long móng
Bệnh Lở mồm long móng (tên tiếng Anh: Foot and Mouth Disease) là một
bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm của loài động vật móng guốc chẵn như trâu,
bò, lợn, dê, cừu, hươu, lai... Bệnh do vi rút ARN họ Picornaviridae, một loài vi rút
hướng thượng bì gây ra. Bệnh có những đặc điểm đặc trưng là sốt và hình thành
mụn nước ở miệng, chân và vú của gia súc cảm thụ (Nguyễn Tiến Dũng, 2000) [6];
(Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [16]; (Donalson A.I, 2000) [39].
Mặc dù bệnh xuất hiện như là một bệnh thể nhẹ, tỷ lệ chết ở gia súc trưởng
thành không cao nhưng hậu quả là sự thiệt hại về kinh tế rất trầm trọng. Theo số
liệu của OIE bệnh LMLM gây sảy thai khoảng 25% động vật có chửa, làm giảm sản
lượng thịt 25%, giảm sản lượng sữa 50% và giảm 25% năng suất lông ở cừu. Vi rút
LMLM có thể gây ra các ổ dịch rộng lớn, tỉ lệ mắc bệnh cao gần như 100% và bệnh
có thể lây lan trong phạm vi một hoặc nhiều nước (Văn Đăng Kỳ và cộng sự, 2001)
[10]; (Donalson A.I, 2000) [40].
Do tính chất nguy hiểm nên bệnh LMLM được OIE xếp vị trí số một của bảng
A (bảng các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm ở động vật) và bắt buộc các
thành viên phải khai báo. Các nước đang có bệnh LMLM không được xuất khẩu
động vật mắc bệnh đó và sản phẩm của chúng sang các nước khác (trích dẫn từ sổ
tay dịch bệnh động vật, 2002) [20].
Từ lần ghi nhận đầu tiên đến năm 1897, các tài liệu ghi chép lại chủ yếu quan
tâm đến mô tả triệu chứng (Trần Thanh Phong, 1996) [15]. Năm 1897, Loeffler và
Frosch đã phân lập được vi rút gây bệnh (Nguyễn Vĩnh Phước và cộng sự, 1978)
[17] . Cũng theo Trần Thanh Phong, 1996 [15], Wal dmann và Pape đã chứng minh
được tính cảm thụ của chuột lang đối với vi rút. Năm 1922, Valleé và Carré tìm
thấy tính đa dạng của huyết thanh miễn dịch chống vi rút (type O và type A). Năm
1926, Waldmann và Trauwein tìm ra vi rút type C. Sau đó, Lawrence xác định sự có

Những năm 1990, ở châu Âu, các nước báo dịch gồm Italia, Bulgari, Nga và
Hy Lạp. Năm 1993 có 55 ổ dịch xảy ra ở Italia, những ổ dịch đơn lẻ xảy ra ở
Bulgari, Nga. Giữa năm 1994, một ổ dịch xảy ra ở Hy Lạp trên đảo Lesbos và
Thrace gần biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1996, có 2 ổ dịch ở Thổ Nhĩ Kỳ và 1 ở
Hy Lạp. Năm 1997, chỉ có Georgia và Armenia là có bệnh. Trong năm 1998, một
chủng type A mới được phát hiện tại Iran năm 1996 đã lan đến Thổ Nhĩ Kỳ sát
Istanbul, dịch kéo dài đến cuối năm 1998.
Ở Châu Phi, vào thập kỷ 90, vi rút LMLM type O lưu hành rộng rãi ở Tây Phi,
Gambia, Senegal, Uganda, Tanzania Malawi và Kenia. Năm 1999, ổ dịch LMLM

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




6
type O bắt nguồn từ Mali (Tây Phi) theo đường vận chuyển bò xuyên qua Sahara
lan đến Algeria, Marocco và Tunisia. Vi rút LMLM type SAT 2 lưu hành ở Uganda,
Zambia và Kenia; SAT 1 được xác định ở Kenia.
Ở Châu Á, dịch LMLM do vi rút type O và Asia-1 xảy ra ở Pakistan và
Myanmar; type O và A tại Nepal, Buhtan; type A ở Thái Lan. Tại Malaysia, không
công bố dịch từ năm 1998, nhưng trong thự tế 2 type vi rút O và Asia-1 vẫn lưu
hành tại bán đảo Malay này (không gửi bệnh phẩm đến WRL). Hai ổ dịch địa
phương tại Đài Loan và Philippines (đảo Luzon) đều do vi rút type O gây ra. Tại
Trung Quốc, dịch tại xảy ra tại Vân Nam nhưng không có thông tin về type vi rút
(Bùi Quang Anh và Hoàng Vă Năm, 2001)[1].
Ở Tây Á, chủng Iran 98 type A gây bệnh tại Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và lan đến
Akmenia. Vi rút type O đã gây dịch tại Lebanon, Kuwait, Iran, Iraq, Israel, Qatar,
Bahrain, Yemen và Saudi Arabia; Kazakstan và Kyrgyzstan (riêng Kazakhstan có vi
rút type A). Ở Nam Mỹ, tình hình khống chế dịch LMLM có nhiều thuận lợi,

Trong năm 2005, bệnh LMLM đã xảy ra ở Brazil (serotype O), Colombia
(serotype A), ở Nga (serotype Asia 1); ở Trung Quốc (serotype Asia-1), Hồng Kông
(serotype Asia-1), Mông Cổ (serotype Asia-1); ở Botswana (serotype SAT 2),
Congo (SAT 1, 2, 3 và A). Sự xuất hiện gần đây của serotype Asia-1 ở Trung Quốc,
Hồng Kông, Mông Cổ, Myanmar, Nga, Tajikistan cùng với sự có mặt của serotype
này ở Ấn Độ, Iran và Pakistan cho thấy rằng một chủng của Asia-1 có thể đang lây
lan khắp châu Á. Trong báo cáo của OIE năm 2005, không có dịch LMLM ở các
nước trong vùng được coi là an toàn và không tiêm phòng vắc xin LMLM. Cũng
trong năm này, FAO/WRLFMD đã nhận 266 mẫu bệnh phẩm LMLM từ 21 nước
châu Âu, châu Á, châu Phi và kết quả phân lập và định type cho biết type O vẫn
chiếm tỷ lệ lưu hành cao nhất (Chinsangaram J.., Koster M.., 2001) [37].
Theo kết quả xét nghiệm của Phòng thí nghiệm giám định vi rút LMLM
(Pirbright, UK) những năm gần đây, sự phân bố của các type và serotype vi rút
LMLM trên thế giới vẫn như phân bố năm 2002 (hình 1.1).
- Châu Âu: những ổ dịch do vi rút type O và A có serotype A Iran/96 ở Iran và
Thổ Nhĩ Kỳ.
- Châu Phi: những ổ dịch do type O gây ra ở vùng Đông Bắc của lục địa
(Algeria, Tunisia, Guinea, Burundi, Kenya, Tanzania và Zimbabue); type A phân bố
ở Tây, Trung và Đông Phi; type C không phổ biến, các type SAT lưu hành rộng rãi,
SAT 1 và SAT 2 xảy ra rộng khắp trừ phía Bắc Phi, nhưng SAT 3 chỉ xảy ra ở vùng
hẹp của phía Nam.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




8

Hình 1.1: Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM trên thế giới năm 2009

Nam Bộ, một ổ dịch lớn lan tràn khắp tỉnh Quảng Ngãi và ở Miền Bắc bệnh có rải
rác ở Sơn Tây, Thanh Hóa (Tô Long Thành và cộng sự, 2004) [28].
Năm 1948-1949, dịch xảy ra ở Lai Hòa - Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh
làm chết 3 trâu; ở Nam Bộ, Tây Nguyên có một ổ dịch. Theo tổ chức Quốc tế về
bệnh truyền nhiễm họp tại Sài Gòn tháng 3 năm 1953, bệnh có xu hướng định vị tại
Việt Nam và Campuchia (Tô Long Thành và cộng sự, 2004) [28].
Năm 1952-1953, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bệnh liên tiếp nổ ra ở
Trung Bộ và lan ra Bắc Bộ. Đến năm 1954, bệnh đã có mặt ở hầu khắp Bắc Bộ với
179 ổ dịch. Đến tháng 4 năm 1955, bệnh xảy ra ở Liên khu III rồi lan sang khu tả
ngạn, Liên khu Việt Bắc, Liên khu IV, Thành phố Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng.
Trong khoảng tháng 5 đến tháng 7 năm 1955, bệnh lan ra 11 tỉnh, 3 thành phố và
tạm ngưng vào cuối năm 1955 (Tô Long Thành và cộng sự, 2004) [28].
Năm 1960, dịch phát ra ở 9 xã thuộc huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An, sau đó
không thấy xuất hiện lại qua nhiều năm ở các tỉnh phía Bắc. Từ năm 1961-1991,
không có dịch LMLM ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam.
Trước năm 1969, cứ khoảng 2 đến 3 năm dịch LMLM tái phát 1 lần ở các tỉnh
phía Nam. Năm 1969, dịch phát nặng cho cả trâu, bò và lợn. Dịch xuất phát từ Sài
Gòn, Chợ Lớn, rồi lan ra các tỉnh và 5 trại lợn công nghiệp ở Nam Bộ (Tô Long
Thành, 2000) [24].
Từ năm 1975, tình hình dịch LMLM được ghi nhận đầy đủ hơn. Năm 1975,
dịch LMLM xảy ra liên tiếp ở 17 tỉnh phía Nam từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




10
các tỉnh vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Từ năm 1976 - 1983, theo số liệu của
Cục Thú y, đã có 98 ổ dịch ở các tỉnh phía Nam làm 26.648 trâu, bò và 2.919 lợn bị




11
Ngay từ ổ dịch đầu tiên trên lợn tại Đồng Tháp, phòng thí nghiệm của Trung
tâm Thú y vùng Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định được bệnh do vi rút type O
gây ra. Theo điều tra, nguyên nhân là do mua lợn giống từ Miền Bắc vào.
Dịch LMLM đã xảy ra trên trâu, bò liên tục suốt thời gian từ 1975-2005, trên lợn từ
1992-2005 và gây thiệt hại nặng nề nhất vào các năm 1993, 1995, 1999, 2000. Ngoài
type O lưu hành trong nhiều năm qua, type A cũng đã được phát hiện năm 2004 trên
trâu, bò (Kihm U, 1993) [9] và type Asia-1 trên trâu, bò và lợn năm 2005 ở Việt Nam
(Nguyễn Vĩnh Phước và cộng sự 1978) [17].
1.2.2.2. Tình hình dịch bệnh LMLM những năm gần đây
Theo số liệu của Cục Thú y, năm 1999, trong khi vẫn chưa chấm dứt các đợt
dịch từ các tỉnh miền Trung và miền Nam thì ở miền Bắc, đợt dịch mới từ Trung
Quốc tràn sang tấn công hàng loạt các tỉnh giáp biên. Cao Bằng là điểm dịch đầu
tiên, từ đó dịch lan sang các tỉnh khác. Tính đến ngày 10/3/2000 cả nước có 58/61
tỉnh, thành phố bị dịch với 297.808 trâu, bò và 36.530 lợn mắc bệnh (Văn Đăng Kỳ
và cộng sự, 2011)[10].
Năm 2000, bệnh xảy ra ở 16 tỉnh thành với 3.976 trâu, bò mắc bệnh (Lê Minh
Chí, 2001) [5].
Năm 2003, 38 tỉnh thành có dịch, trong đó 28 tỉnh thành có dịch ở trâu, bò và
28 tỉnh có dịch ở lợn, với tổng số 20.303 trâu, bò; 1.178 dê và 3.533 lợn mắc bệnh,
chủ yếu ở các tỉnh: Quảng Trị, Phú Yên, Khánh Hoà, Gia Lai, Hà Giang.
Năm 2004, số tỉnh có dịch LMLM là 45 tỉnh, với 577 xã thuộc 169 huyện
có dịch. Tổng số gia súc mắc bệnh là: 25.658 trâu bò, 127 dê và 1.555 lợn,
trong đó có 9 tỉnh do virus LMLM serotype A (phát hiện lần đầu tiên tại Ninh
Thuận và Bình Định vào 8/2004), 3 tỉnh do cả 2 virus LMLM serotype O và A.
Nguyên nhân của việc xuất hiện virus LMLM type A có thể là do việc nhập lậu
bò từ Camphuchia (Tô Long Thành, 2004)[27]

35 xã thuộc 23 huyện của 16 tỉnh, thành phố có lợn bị mắc bệnh LMLM, với tổng
số 499 lợn mắc bệnh, 429 con phải tiêu hủy (Bộ NN&PTNT, 2011) [2].
Dịch LMLM xảy ra trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung
và Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc. Dịch xảy ra trên quy mô rộng vào
tháng 9/2009, cao điểm nhất có tới trên 90 ổ dịch xuất hiện trong tháng, các tháng
khác dịch xảy ra ít hơn và rải rác tại nhiều địa phương. Dịch LMLM type A xuất
hiện tại vùng miền núi phía Bắc (Sơn La, Bắc Giang và Hà Giang), Tây Nguyên
(Kon Tum), Đồng bằng sông Cửu Long (Long An) - là những vùng đã lâu không có
tuyp vi rút này (Bộ NN&PTNT, 2011) [2].
Năm 2010: dịch đã xảy ra ở 297 xã thuộc 103 huyện của 28 tỉnh, thành phố là
Bắc Ninh, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lạng
Sơn, Quảng Ninh, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




13
Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Phước, Bà
Rịa Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Phú Thọ và Thái Nguyên với tổng
số 16.333 con trâu, bò mắc bệnh, 419 con trâu bò tiêu hủy, trong đó có 16 tỉnh,
thành phố có lợn bị mắc bệnh LMLM, với tổng số 1.675 con lợn mắc bệnh, 848 con
phải tiêu hủy (Bộ NN&PTNT, 2011) [2].
Dịch xảy ra trên quy mô rộng vào tháng 12/2010 với trên 98 ổ dịch và tháng
11/2010 là 56 ổ dịch xuất hiện trong tháng, các tháng khác dịch xảy ra ít hơn và rải
rác tại nhiều địa phương (Bộ NN&PTNT, 2011) [2].
1.2.2.3. Tình hình dịch LMLM tại Bắc Kạn từ năm 2006 đến nay
Cùng chịu ảnh hưởng chung của dịch LMLM trên địa bàn cả nước, năm 2006,
tỉnh Bắc Kạn đã bùng phát dịch LMLM với diễn biến phức tạp, từ ổ dịch nhỏ dịch

Từ ngày 24/01/2014 đến ngày 30/3/2014 dịch LMLM lại xuất hiện trên 05 xã
của hai huyện Ba Bể và Pác Nặm, tổng số gia súc mắc bệnh là: 238 con, trong đó
trâu: 134 con, bò: 91 con và lợn: 13 con. Theo kết quả xét nghiệm mẫu biểu mô
động vật mắc bệnh xuất hiện vi rút LMLM với type A.
Bước vào năm 2015, tình hình dịch LMLM gia súc lại xuất hiện ở các huyện
Ngân Sơn, Ba Bể, ngày 03/01/2015 dịch xuất hiện tại các xã Bằng Vân, Đức Vân,
Vân Tùng, Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn làm 185con mắc bệnh (trong
đó trâu: 89 con, bò: 96 con); từ ngày 05/02/2015 tại xã Cao Thượng và xã Nam
Mẫu của huyện Ba Bể dịch LMLM cũng xảy ra tại 07 thôn làm 145 con gia súc mắc
bệnh (trong đó trâu: 76 con, bò: 69 con). Kết quả xét nghiệm mẫu biểu mô xuất hiện
kháng nguyên dương tính với type A vi rút LMLM, trong các ổ dịch LMLM gia súc
xảy ra tại Ngân Sơn, Ba Bể đều không gây chết động vật, Chi cục Thú y đã phối
hợp với UBND huyện Ngân Sơn, Ba Bể và các ngành chức năng khẩn trương
khoanh vùng, tiêm phòng bao vây ổ dịch bằng vắc xin nhị giá (type A và O).
Đến ngày 22/5/2015 tại xã Nhạn Môn, huyện Pác Nặm xuất hiện trâu, bò, lợn
mắc bệnh LMLM, tổng số con mắc là: 30 con (trong đó trâu: 17 con, bò: 6 con và
lợn 7 con), khi phát hiện gia súc có triệu chứng của bệnh LMLM, Chi cục Thú y đã
phối hợp với UBND huyện Pác Nặm chỉ đạo các phòng liên quan và UBND xã
Nhạn Môn triển khai các biện pháp khoang vùng, tiến hành tiêm phòng vắc xin đa
giá (tuýp O, A và Asia-1) khống chế không để dịch lây lan, lấy mẫu bệnh phẩm xét
nghiệm để định tuýp vi rút gây bệnh. Kết quả xét nghiệm mẫu biểu mô xuất hiện
kháng nguyên dương tính với type A, vi rút LMLM, trong các ổ dịch LMLM gia
súc xảy ra tại Ngân Sơn, Ba Bể và Pác Nặm đều không gây chết động vật.
1.3. Vi rút gây bệnh LMLM
Vi rút LMLM thuộc họ Piconarviridae, chi Aphthovirus.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status