1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn tốt nghiệp “Hoàn thiện chính sách thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực nông nghiệp” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Thị Việt Nga.
Các số liệu phân tích và kết quả trong luận văn là trung thực; các tài liệu số
liệu do cá nhân tôi thu thập từ các báo cáo, sách, báo, tạp chí, các kết quả nghiên
cứu có liên quan đến đề tài đã được công bố.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Huyền
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và làm luận văn Thạc sỹ tại trường Đại học Thương
mại, tác giả đã nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của Ban Giám Hiệu,
Khoa Sau Đại học Trường Đại học Thương mại và sự giảng dạy nhiệt tình của các
thầy cô giáo. Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự quan tâm giúp đỡ
nhiệt tình, có trách nhiệm và quý báu đó.
Cùng với đó, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Lê Thị Việt Nga người đã hướng dẫn tác giả tận tình chu đáo và có những ý kiến đóng góp sâu sắc
và giá trị đối với luận văn này.
Mặc dù đã nỗ lực hết mình trong học tập và nghiên cứu nhưng luận văn không
thể tránh khỏi những thiếu sót và khuyết điểm. Tác giả rất mong nhận được những
góp ý từ các nhà khoa học để tiếp tục bổ sung và hoàn thiện đề tài hơn nữa./.
Tác giả
Nguyễn Thị Huyền
Diễn đàn thương mại và phát triển Liên hợp quốc
Thu nhập cá nhân
Thu nhập Doanh nghiệp
Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương
Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
Tổ chức Thương mại Thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 30 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn và quan trọng cả về kinh tế và xã hội, góp phần nâng
cao đời sống của nhân dân, ổn định chính trị, củng cố an ninh, quốc phòng. Nông
nghiệp là một trong những trụ cột quan trọng của kinh tế, có nhiều tiềm năng và lợi
thế phát triển, song thu hút FDI vào lĩnh vực này vẫn chưa đạt được kết quả như
mong đợi. Trong khi FDI vào nền kinh tế nói chung vẫn được duy trì ở mức khá thì
FDI vào nông nghiệp lại giảm mạnh.
Trong giai đoạn đầu mở cửa, FDI trong lĩnh vực nông nghiệp là giải pháp hữu
hiệu góp phần đưa nông nghiệp Việt Nam ra khỏi tình trạng bị bao vây, cấm vận.
Trong các giai đoạn tiếp theo, FDI trong nông nghiệp là nguồn vốn bổ sung quan
trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, góp phần đáng kể thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, khai thông thị trường quốc
tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, đóng góp
ngân sách nhà nước, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tạo thêm việc làm.
Trước bối cảnh đó, Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách thúc đẩy, khuyến
khích đầu tư, chính sách mở cửa, cải thiện nhanh môi trường thu hút đầu tư nước
- Chu Tiến Quang và Hà Huy Ngọc (2011): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) vào lĩnh vực nông nghiệp thực trạng và chính sách”. Tạp chí Cộng sản ngày
11/5/2011. Các tác giả đã đi sâu vào phân tích thực trạng thu hút FDI vào lĩnh vực
nông nghiệp trong thời gian qua, từ đó đưa ra các nhận định chuẩn xác về tình hình
vốn FDI trong lĩnh vực nông nghiệp, phân tích các nguyên nhân, trở ngại dẫn đến
hạn chế động lực đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp. Qua đó
nhóm tác giả cũng đề xuất các nội dung cần thay đổi của chính sách thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp.
Qua quá trình nghiên cứu các đề tài nêu trên có thể thấy một số vấn đề lý luận
liên quan chính sách thu hút FDI trong lĩnh vực nông nghiệp, đánh giá thực trạng và
đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thu hút FDI trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy
nhiên, cho đến thời điểm hiện nay chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc
6
về: “Hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh
vực nông nghiệp”. Chính vì thế việc nghiên cứu đề tài này là cấp thiết và có tính
mới, không trùng với những nghiên cứu trước đó.
3. Mục đích nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Góp phần đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn sẽ thực hiện các nội dung chủ yếu sau:
(i) Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp.
(ii) Làm rõ thực trạng chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh
vực nông nghiệp ở Việt Nam.
(iii) Đưa ra một số giải pháp hoàn chỉnh chính sách thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.1. Khái niệm và vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư là một trong những nhân tố chủ yếu quyết định đến sự phát triển của
nền kinh tế quốc dân. Đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm biến các
8
lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tương lai. Tuy nhiên, trong phạm vi khác nhau,
khái niệm về đầu tư cũng có những điểm khác nhau.
Theo Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam thì “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ
vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các
hoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật
có liên quan”. Theo khái niệm này, đã là đầu tư thì phải bỏ vốn, chính là các tài sản
hữu hình và vô hình để tiến hành các hoạt động đầu tư được pháp luật cho phép,
như vậy tất cả các nhà đầu tư đều được tham gia đầu tư vào tất các lĩnh vực trong
nền kinh tế mà không vi phạm các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quan niệm
này lại chưa phản ánh được mục tiêu của các nhà đầu tư là phải sinh lợi.
Cũng có quan điểm cho rằng đầu tư là “việc sử dụng các nguồn lực hiện tại
nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tương lai", với quan niệm này đã
nhấn mạnh đến mục đích của đầu tư là thu được lợi ích trong tương lai nhưng lại
chưa phản ánh chủ thể mong muốn thu được lợi ích trong tương lai. Xét trên góc độ
kinh tế, đầu tư là hy sinh tiêu dùng hiện tại để hy vọng có được thu nhập cao hơn
trong tương lai. Đối với từng chủ thể trong nền kinh tế, đó là tạo ra hoặc tăng thêm
lợi ích, những giá trị riêng biệt cho các chủ thể. Đối với toàn bộ nền kinh tế, chính là
tạo ra hoặc gia tăng giá trị tổng thể cho toàn xã hội.
Đầu tư nước ngoài là sự dịch chuyển tài sản như tiền, công nghệ, kỹ năng quản
lý… từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi
toàn cầu. Vốn FDI là một trong những kênh đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vốn FDI. Theo Diễn đàn thương mại và
Thứ hai, đây là loại hình đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư nước ngoài có quyền điều
hành doanh nghiệp tiếp nhận vốn. Quyền này phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của nhà
đầu tư vào vốn pháp định. Trong trường hợp góp 100% vốn pháp định thì nhà đầu
tư có toàn quyền quyết định hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ ba, thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh
và lãi hoặc lỗ được phân chia giữa các chủ đầu tư theo tỷ lệ góp vốn của các bên.
Thứ tư, so với các loại hình đầu tư quốc tế khác, FDI ít chịu sự chi phối của
Chính phủ hơn, đặc biệt ít phụ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa nước chủ nhà
với nước đầu tư.
10
Thứ năm, FDI là loại đầu tư dài hạn và trực tiếp. Do đó, FDI là một khoản vốn
dài hạn tương đối ổn định và không phải là vốn vay nên nước chủ nhà có được một
nguồn vốn dài hạn bổ sung cho đầu tư trong nước và không phải lo trả nợ. Hơn nữa,
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu mà còn có
vốn bổ sung trong quá trình đầu tư của các bên nước ngoài.
Thứ sáu, các chủ đầu tư phải tuân thủ các quy định pháp luật của nước sở tại
đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Thứ bảy, do mục đích của các nhà đầu tư nước ngoài là lợi nhuận nên các lĩnh
vực sản xuất kinh doanh của FDI phần lớn là những lĩnh vực có thể mang lại lợi
nhuận cao.
Thứ tám, về hình thức, các nhà đầu tư có thể thực hiện FDI theo các phương
thức như bỏ vốn thành lập doanh nghiệp mới ở nước ngoài hoặc mua lại một phần
hay toàn bộ các doanh nghiệp có sẵn hoặc mua cổ phiếu tiến tới thôn tính, sáp nhập.
Thứ chín, xu hướng đa cực, đa biên và đa hình thức trong FDI ngày càng rõ
nét, thường nhiều bên cùng tham gia với tỷ lệ vốn góp khác nhau và với các hình
thức tư bản khác nhau như tư bản nhà nước và tư nhân cùng tham gia.
Thứ mười, các nhà đầu tư nước ngoài thường rất tinh thông về thị trường thế
công nghiệp phát triển, mà tỷ suất lợi nhuận ở trong nước có hướng giảm. Mặt khác,
có sự phát triển không đồng đều về trình độ phát triển và sản xuất, mức sống thu
nhập giữa các nước nên đã tạo ra chênh lệch về giá cả và các yếu tố đầu vào của sản
xuất. Do đó, đầu tư ra nước ngoài cho phép lợi dụng các chênh lệch này để giảm chi
phí sản xuất, tăng lợi nhuận... Trước hết, đó là chi phí về lao động. Tiền lương của
người lao động ở Nhật Bản gấp hơn 10 lần lương bình quân lao động trong khối
ASEAN, lương bình quân lao động trong các nước NICS Đông Á cũng gấp 12 lần
lương của Việt Nam. Do đó thời gian qua các nước tư bản phát triển và những nước
công nghiệp mới đã chuyển những ngành sử dụng nhiều lao động sang các nước
đang phát triển để giảm chi phí sản xuất. Việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
tại các nước sở tại cũng giúp chủ đầu tư giảm chi phí vận chuyển, tiết kiệm chi phí
quảng cáo, tiếp thị... Do chạy theo lợi nhuận độc quyền cao, các nhà đầu tư sẵn sàng
bỏ mặc nạn thất nghiệp ở các nước phát triển để đầu tư sang những nước có chi phí
rẻ, lợi nhuận cao và như vậy tạo ra công ăn việc làm cho các nước nhận đầu tư.
Ngoài ra, mục tiêu của nhiều dự án nước ngoài là tạo nguồn nguyên liệu, nhiên liệu
12
phục vụ cho nhu cầu phát triển để sản xuất kinh doanh của chủ các chủ đầu tư,
chẳng hạn thăm dò khai thác khí, khoáng sản, tài nguyên biển, rừng, sản phẩm cây
công nghiệp. Nguồn tài nguyên của các nước đang phát triển có nhiều nhưng không
có điều kiện chế biến vì thiếu thốn công nghệ. Do đó, đầu tư vào cả lĩnh vực này sẽ
thu được nguyên liệu thô với giá rẻ và qua chế biến sẽ thu được lợi nhuận cao nhất.
Như vậy, đối với việc đầu tư ra nước ngoài để khai thác lợi thế so sánh của các
nước nhận đầu tư các chủ đầu tư trực tiếp sản xuất được sản phẩm với giá thành hạ hơn
so với sản xuất trong nước, nhờ đó mà các chủ đầu tư này có được ưu thế trong việc
tiêu thụ sản phẩm này trên thị trường thế giới. Nếu các sản phẩm này được nhập trở lại
các nước chủ đầu tư với giá hạ hơn giá sản phẩm này trong nước hoặc của một số nước
khác thì khả năng tiêu thụ sản phẩm này ở chính quốc sẽ mạnh hơn. Cùng với việc đem
để các nước đang phát triển có thể tranh thủ nguồn vốn ngắn hạn huy động từ các
ngân hàng hoặc thông qua các khoản đầu tư tài chính khác, FDI có tính ổn định hơn
rất nhiều. Có thể thấy rõ điều này qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997-1998.
Trong 18 tháng trước khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra, dòng vốn chảy vào bốn
nước bị tác động nặng nề nhất sau này là Inđônêxia, Hàn Quốc, Philippin, Thái Lan
lên tới 86,8 tỷ USD chỉ 18 tháng sau đã có 77,9 tỷ USD thoát lui khỏi các nước này.
Ngược lại, dòng vốn đi vào các nước Châu Á vẫn liên tục tăng từ 71,1 tỷ USD năm
1996 lên 86,9 tỷ USD năm 1999.
Ở nhiều nước đang phát triển, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm tỉ lệ đáng
kể trong tổng nguồn vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế, trong đó có một số nước
hoàn toàn dựa vào vốn FDI, đặc biệt ở giai đoạn đầu của phát triển kinh tế. Ở
Inđônexia sau khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài năm 1967, FDI đã cung cấp một
lượng vốn bình quân trong 27 năm (1967-1994) là 1,15 tỷ USD/năm. FDI đã thực
sự đóng vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế và nếu chỉ căn cứ vào thực tại vốn
đầu tư của toàn bộ nền kinh tế thì có thể đánh giá FDI có ý nghĩa quyết định đến
tăng trưởng kinh tế của các nước này.
b. Chuyển giao công nghệ
Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư không chỉ chuyển vào nước đó
bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu...
(hay còn gọi là công nghệ cứng) và vốn vô hình như chuyên gia kỹ thuật công nghệ,
tri thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị trường... (hay còn gọi là
14
công nghệ mềm). Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, quá trình
chuyển giao công nghệ được thực hiện nhanh chóng và thuận tiện cho cả bên đầu tư
cũng như bên nhận đầu tư. Thực tế cho thấy rằng, kỹ thuật và công nghệ nước ngoài
đã giúp cho Malaixia từ chỗ là một nước kinh tế lạc hậu, kỹ thuật thủ công phân tán,
lực lượng sản xuất kém phát triển đến giữa những năm 1980 đã trở thành một nước
c. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tranh thủ vốn và công nghệ của nước ngoài, các nước đang phát triển muốn sử
dụng nó để thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế.
Đây cũng là điểm nút để các nước đang phát triển ra khỏi vòng luẩn quẩn của sự đói
nghèo. Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy quốc gia nào thực hiện
chiến lược mở cửa với bên ngoài, biết tranh thủ các nhân tố với bên ngoài nó trở
thành nhân tố bên trong thì quốc gia đó sẽ tạo được sự tăng trưởng kinh tế cao.
Bảng 1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tổng sản phẩm trong nước
của một số nước năm 2001 và 2013
2001
2013
Tên nước
FDI
GDP
FDI/GDP
FDI
GDP
FDI/GDP
(Tr.USD) (Tr.USD)
(%)
(Tr.USD) (Tr.USD)
(%)
(A)
(1)
(2)
(3=2/1)
(4)
(5)
(6=4/5)
Singapore
4.159.860
0,1
3.715
4.901.530
0,1
Thái Lan
5.067
115.536
4,4
12.833
387.252
3,3
Philippin
195
76.262
8.900
171.392
5,2
Nguồn:World Bank
Xem xét tình hình tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển trên thế
giới, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Có mức tăng trưởng tỉ lệ thuận giữa tăng trưởng kinh tế với khối lượng vốn
FDI được huy động và sử dụng.
- Sự tăng trưởng gắn liền với mức tăng trưởng xuất khẩu, mức tăng trưởng
kinh tế chủ yếu ở các nước đang phát triển thường do nhân tố đầu tư chủ yếu, nhờ
đó mà các nhân tố khác như tổng số lao động cũng được sử dụng và năng suất lao
16
động cũng tăng theo. Vì vậy, có thể thấy qua tỷ lệ đóng góp của FDI trong GDP để
đánh giá vai trò của FDI với tăng trưởng kinh tế.
d. Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát
triển nội tại của nền kinh tế, mà nó còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đời sống
đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, FDI là một hoạt động quan trọng của hoạt động kinh
tế đối ngoại, thông qua đó các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình
phân công lao động quốc tế. Để hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi từng quốc
gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế. Sự
chuyển dịch của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ chung trên thế giới sẽ tạo điều
kiện thuận lợi hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ngược lại, chính đầu tư trực tiếp
bao tiêu sản phẩm. Đây là hiện tượng đa chiều đang trở thành khá phổ biến ở các
nước đang phát triển hiện nay.
- Về mặt xã hội, FDI đã tạo ra nhiều công ăn việc làm mới, thu hút được một
khối lượng đáng kể ở các nước nhận đầu tư vào các đơn vị đầu tư nước ngoài, nâng
cao thu nhập cho người lao động, đồng thời góp phần đào tạo một đội ngũ công
nhân có trình độ kỹ thuật cao.
Điều này góp phần vào việc làm giảm bớt nạn thất nghiệp vốn là tình trạng
nan giải ở nhiều quốc gia. Đặc biệt, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam
nơi có lực lượng lao động dồi dào nhưng không có điều kiện khai thác và sử dụng
được, thì FDI được coi là chiếc chìa khoá quan trọng để giải quyết vấn để này. Bởi
vì, FDI tạo nên điều kiện vốn và kỹ thuật cho phép khai thác và sử dụng tiềm năng
của nền kinh tế trong đó có tiềm năng về lao động.
1.2 Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông
nghiệp.
1.2.1 Đặc điểm, vai trò của nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
1.2.1.1 Đặc điểm của nông nghiệp nước ta
a. Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống, là các loại cây,
con, các loài sinh vật. Nước ta có nguồn thực vật phong phú đa dạng đặc biệt trong
nền nhiệt cao, ẩm lớn phát triển mạnh các ngành chăn nuôi. Mỗi loại yêu cầu một
điều kiện thích hợp với nó, do đó đòi hỏi xây dựng quy trình sản xuất, có những
cách thức riêng trong quá trình sản xuất, canh tác cho từng loại, từng giống cây
18
trồng, vật nuôi. Cần có kế hoạch để luôn chủ động bảo đảm đủ giống tốt và kịp thời
cho sản xuất.
b. Đất đai là “địa bàn phân bổ cơ sở vật chất xã hội”, là “tư liệu sản xuất cơ
bản của sản xuất nông nghiệp”, đất đai cũng là tài sản đặc biệt ở chỗ diện tích là
hữu hạn, năng suất là vô hạn, có nghĩa là nếu quản lý tốt, sử dụng có hiệu quả thì
nông nghiệp mang bản sắc riêng của Việt Nam. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với
nền nhiệt cao, độ ẩm lớn, thiên nhiên phân hóa đa dạng tạo điều kiện cho hoạt động
sản xuất nông nghiệp của nước ta diễn ra quanh năm; áp dụng hiệu quả các biện pháp
thâm canh, xen canh, tăng vụ; có sự chuyển dịch mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi
đa dạng gồm những cây trồng, vật nuôi nhiệt đới, cận nhiệt, ôn đới. Tuy nhiên, nước
ta có nhiều thiên tai (lũ lụt, hạn hán, bão, rét đậm, rét hại…) tạo ra tính bấp bênh
không ổn định của sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra khí hậu còn có sự phân hóa theo
mùa, cùng với điều kiện kỹ thuật chưa mạnh nên sản xuất nông nghiệp còn mang
tính chất mùa vụ, bấp bênh, năng suất cây trồng, vật nuôi chưa cao. Hơn nữa, còn có
một vụ khô diễn ra sâu sắc (đặc biệt các tỉnh phía Nam), tình trạng thiếu nước nghiêm
trọng ảnh hưởng rất lớn tới quy mô, cơ cấu, năng suất cây trồng, vật nuôi.
d. Là ngành sản xuất mang tính chất thời vụ, có tính chu kỳ sản xuất kéo dài:
Trong ngành nông nghiệp, mỗi loại sản phẩm chỉ sản xuất được trong một
mùa nhất định do những yêu cầu tính chất sinh lý của nó. Tính thời vụ trong sản
xuất nông nghiệp dẫn tới tính thời vụ trong việc sử dụng các yếu tố sản xuất, nhất là
sức lao động và công cụ lao động. Do vậy, khi thực hiện chuyên môn hóa phải chú
ý phát triển sản xuất đa dạng, kết hợp hợp lý các ngành sản xuất, xây dựng cơ cấu
cây trồng và hệ thống luân canh khoa học. Có kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt các
khâu chăm sóc, thu hoạch, bảo quản chế biến, tiêu thụ nông sản. Hơn nữa, chu kỳ
sản xuất trong ngành nông nghiệp là kéo dài, không như ngành khác có chu kỳ sản
xuất ngắn, chu kỳ của ngành nông nghiệp thường không giống nhau có những giống
cây trồng có chu kỳ là 3-4 tháng, hoặc 1 năm hoặc thậm chí là 5 năm hay lâu hơn
nữa (cà phê, tiêu, điều, các loại cây ăn quả lâu năm...).
e. Khả năng sinh lợi ngành nông nghiệp là không cao.
Yếu tố này được khẳng định bởi tính chất của hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Chu kỳ sản xuất kéo dài, giá trị sản phẩm nông nghiệp không cao, sản phẩm chủ
yếu là hàng thứ cấp, giá cả không ổn định, lại phụ thuộc vào tự nhiên nên không thể
20
21
nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn,
nhưng khối lượng nông sản cuả các nước này khá lớn và không ngừng tăng, đảm
bảo cung cấp đủ cho đời sống cho con người những sản phẩm tối cần thiết đó là
lương thực, thực phẩm. Lương thực thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết
định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu
cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng thay đổi cả về số
lượng, chất lượng và chủng loại. Điều đó do tác động của hai nhân tố: sự gia tăng
dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người.
Thực tiễn lịch sử các nước trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển
kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lương thực.
Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị và thiếu sự
đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ đó sẽ làm cho các nhà kinh
doanh không yên tâm bỏ vốn vào đầu tư dài hạn.
Thứ hai: Nông nghiệp cung cấp yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và
khu vực đô thị.
Nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao
động cho phát triển công nghiệp và đô thị. Khu vực nông nghiệp còn cung cấp
nguồn nguyên liệu to lớn cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Thông
qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần,
nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường…
Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế
trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, bởi vì đây là
khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân. Nguồn vốn từ nông
nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào
hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông
Trong khi đó, thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn nhất của nước ta vẫn là Hoa Kỳ với
kim ngạch là đạt 24,9 tỷ USD, tăng 19,6% so với cùng kỳ năm 2014. Tiếp đó là các
thị trường như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…
Thứ năm: Nông nghiệp là khu vực cung cấp lao động phục vụ công nghiệp và
các lĩnh vực hoạt động khác của xã hội.
23
Nông nghiệp là nơi tập trung nhiều lao động nhất ở nước ta, tuy nhiên năng
suất lao động trong nông nghiệp lại thấp, điều đó có nghĩa là có khả năng chuyển
lao động ra khỏi nông nghiệp và đưa vào hoạt động có năng suất cao hơn, tức là bổ
sung lực lượng lao động cho công nghiệp và các ngành khác của nền kinh tế quốc
dân. Nhưng thực tế cung lao động “không hạn chế” nghĩa là tiền lương khu vực
hiện đại sẽ không tăng khi lao động di chuyển từ ngành truyền thống sang ngành
hiện đại. Từ đó tạo ra lợi nhuận để tái đầu tư vào công nghiệp.
Thứ sáu: Nông nghiệp trực tiếp tham gia vào việc giữ gìn cân bằng sinh thái,
bảo về tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
Quá trình phát triển nông nghiệp gắn liền với việc sử dụng thường xuyên đất
đai, nguồn nước, các loại hóa chất... với việc trồng và bảo vệ rừng, luân canh cây
trồng, phủ xanh đất trồng, đồi trọc... Tất cả điều đó đểu có ảnh hưởng lớn tới môi
trường. Chính việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái đó là
điều kiện để sản xuất nông nghiệp có thể phát triển và đạt hiệu quả cao.
Tại các nước đang phát triển như ở nước ta, nông nghiệp là ngành có liên quan
trực tiếp đến việc làm, thu nhập và đời sống của đại đa số dân cư. Vì vậy, nông
nghiệp có tầm quan trọng hàng đầu đối với môi trường sinh thái.
1.2.2 Khái niệm về chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nếu xét trên phương diện cụ thể, trong quản lý và điều hành nền kinh tế của
Nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, có thể khái quát: Chính sách đầu tư
nước ngoài là các quyết định của nhà nước, của các cấp nhằm quản lý và sử dụng
hút FDI của các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo nên áp lực cạnh tranh đối
với dòng vốn đầu tư FDI vào Việt Nam và; (3) những cam kết quốc tế của Việt Nam
về đầu tư nước ngoài. Phân tích dưới đây sẽ đề cập tới từng yếu tố đó, đồng thời
nêu lên những thách thức đối với việc tiếp tục hoàn thiện chính sách và luật pháp về
FDI tại Việt Nam trong những năm tới.
1.2.3 Vai trò của chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh
vực nông nghiệp.
1.2.3.1 Bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển nông nghiệp
Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp tạo
điều kiện thuận lợi để thu hút một lượng lớn vốn ĐTNN vào nông nghiệp và mức
độ tác động phụ thuộc quan trọng vào chính sách của nước chủ nhà. Những nước có
25
chính sách thu hút đầu tư nước ngoài hợp lý thường thành công trong thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài và mang lại nguồn vốn lớn. Ngoài ra các chính sách thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp còn có thể lái được các nhà
đầu tư hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế, địa bàn kinh tế mà chúng ta lựa chọn.
Sau gần 30 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, FDI là nguồn bổ sung vốn
cho quá trình phát triển khi mà nguồn vốn trong nước không đáp ứng nhu cầu, đối
với ngành nông nghiệp lại có vai trò quan trọng hơn do đặc điểm của ngành nông
nghiệp mà nguồn vốn vào ngành này lại càng trở lên ít ỏi. Hiện nay, tỷ trọng vốn
đầu tư nước ngoài vào trong nông nghiệp là chưa cao, Trong năm 2014, Theo số
liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, Việt Nam thu hút
được 1843 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mới, và 749 dự án đăng ký tăng
vốn với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm đạt 21,92 tỷ USD. Tuy nhiên,
lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chỉ thu hút được 28 dự án mới và 17 dự án tăng vốn,
với tổng vốn đăng ký đạt 136,4 triệu USD, chiếm hơn 0,6% tổng vốn đầu tư FDI.
Như vậy, nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển nông nghiệp là rất lớn, trong khi, vốn