MỤC LỤC
TRANG
A.MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Đối tượng nghiên cứu.
IV. Phương pháp nghiên cứu
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lí luận.
II. Thực trạng của vấn đề.
III.Giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện.
1.Giáo dục nhận thức cho học sinh.
2. Hướng dẫn sử dụng các thiết bị dạy học.
3.phát huy tính tích cực qua việc tìm hiểu, khai thác
nội dung bài.
4.Xác định phương pháp dạy học địa lí theo tinh thần
dạy học tích cực.
5. Hình thức tổ chức dạy học theo hướng tích cực .
6 . Kết hợp với trò chơi học tập.
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.Kết luận.
2.Kiến nghị
2
3
3
3
3- 4
luyện kĩ năng, mà còn giáo dục thái độ, phát triển nhân cách, khơi gợi tính tự giác
tích cực học tập của học sinh. Đó là phương pháp dạy - học tích cực. Hay nói cách
khác đó là quá trình làm việc tích cực của thầy và trò để đem lại hiệu quả cao nhất.
Qua quá trình giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy việc phát huy tính tích cực của
học sinh trong việc học tập phân môn Địa lí là việc làm cần thiết và hết sức quan
trọng, nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh theo phương pháp mới, góp
phần giáo dục toàn diện cho học sinh Tiểu học. Học tập tích cực học sinh là chủ
thể của hoạt động, chỉ có hoạt động mới có thể tự phát hiện, tự chiếm lĩnh, tự giải
quyết vấn đề. Bằng hoạt động học tập tích cực, chủ động, mỗi học sinh tự hình
thành nhân cách của mình. Học là hoạt động thay đổi cách nghĩ đến cách làm, cách
sống. Nói về vai trò hoạt động học tập, người Ấn Độ có câu: “Tôi nghe tôi quên, tôi
nhìn tôi nhớ, tôi làm tôi hiểu”. Bằng những nghiên cứu về tâm lí học, người ta đã
tổng kết được tỉ lệ kiến thức nhớ được sau khi học như sau:
20% qua những gì mà ta nghe được.
30% qua những gì mà ta nhìn được.
50% qua những gì mà ta nghe và nhìn được.
80% qua những gì mà ta nói được.
90 % qua những gì mà ta nói và làm được.
Như vậy rõ ràng là học sinh tự chủ tham gia tích cực vào quá trình học thì kết
quả đạt được sẽ cao hơn.
Năm học 2015 – 2016 là năm học thứ hai thực hiện đánh giá học sinh theo thông
tư 30/2014/TT-BGD&ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014. Tiếp tục thực hiện chỉ thị
03/CT-TW của Bộ chính trị về tiếp tục thực hiện và đẩy mạnh cuộc vận động “Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo
cô giáo là tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo” cùng với phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực’’ và phong trào thi đua“Dạy tốt
- Học tốt’’.
2
Để đổi mới phương pháp dạy học một cách hiệu quả, giảng dạy bất cứ môn gì
giáo viên cũng cần phải có sự hỗ trợ của dụng cụ dạy học hay còn gọi là thiết bị
dạy học, nhất là ở môn địa lý cần phải có: bản đồ, lược đồ, tranh ảnh địa lý… Kết
hợp các phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh những tri thức một
cách vững chắc để hiểu biết về những cơ sở khoa học, những kỹ năng vận dụng các
tri thức đó vào cuộc sống đồng thời giúp học sinh phát triển toàn diện, rèn luyện
tính tích cực độc lập cho học sinh.
Đặc điểm môn địa lý lớp 5 là giúp các em biết được các sự vật hiện tượng và
mối quan hệ địa lý ở Việt Nam và một số nước trên thế giới. SGK lớp 5 được biên
soạn phù hợp với tâm lý nhận thức của học sinh tiểu học và không quá tải về kiến
thức. Tạo điều kiện cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học và giúp học sinh
tự rèn tại lớp, tại nhà. Nhằm giúp các em phát huy hết năng lực của mình cũng như
rèn học sinh tính tự giác học tập.
Học sinh đến với phân môn Địa lý là học sinh hình thành kỹ năng quan sát sự
vật, hiện tượng, thu nhập tìm kiếm tư liệu địa lý từ sách giáo khoa, trong cuộc sống
gần gũi học sinh… Học sinh biết đặt câu hỏi trong quá trình học tập, đặt câu hỏi
với bạn bè, nhóm, với thầy cô và biết thông tin để giải đáp. Biết nhận đúng các sự
vật hiện tượng địa lý. Học sinh biết trình bày kết quả học tập qua nhiều hình thức:
lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ, bảng thống kê… Để từ những giờ học trên lớp, các
em biết đem về vận dụng vào cuộc sống phong phú. Để từ đó các em hình thành
thái độ ham học hỏi, tìm hiểu để biết về quê hương đất nước, môi trường xung
quanh. Từ đó giáo dục cho các em lòng yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu quê
hương đất nước và khát khao được học để trở thành con người có ích cho gia đình,
xã hội.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
Những thuận lợi và khó khăn khi dạy môn Địa lí lớp 5:
4
học kiểu này còn quá ít vì nó chỉ được thực hiện trong những giờ thao giảng, thanh
tra hoặc thi giáo viên giỏi. Vì vậy mà vấn đề kĩ năng thực hành địa lí của học sinh
không được thực hiện thường xuyên.
Thiết bị, đồ dùng dành cho phân môn Địa lí được cấp phát, nhà trường mua bổ
sung xong đã cũ, chưa được thay thế hết nên phần nào ảnh hưởng đến chất lượng
dạy và học.
Về phía phụ huynh: do điều kiên kinh tế của nhân dân Nga Trung còn gặp nhiều
khó khăn, trình độ hiểu biết còn có hạn nên việc chăm lo đến chất lượng học tập
của con em chưa tốt.
Về phía học sinh: các em chưa có sự chuẩn bị tốt cho các giờ học địa lí, chủ yếu
dựa vào kênh chữ để phát biểu mà ít đề cập đến kênh hình, biểu đồ, lược đồ và ít
rèn luyện kỹ năng địa lí.
3.Nguyên nhân:
- Về giáo viên: một số giáo viên chưa tìm hiểu, cập nhật thông tin kịp thời về
các yếu tố tự nhiên, về con người, về cuộc sống xung quanh để hỗ trợ cho môn học.
5
Do yu t khỏch quan nờn giỏo viờn cha cú iu kin t chc cỏc bui sinh hot
ngoi khúa cho hc sinh kt hp vi hc tp. Mt s ớt giỏo viờn trong quỏ trỡnh
dy phõn mụn a lớ cha chỳ ý n vic xõu chui mi quan h gia cỏc i tng
a lớ hc sinh nm bi mt cỏch sõu sc.
- V phớa hc sinh: cỏc em cha chỳ trng mụn hc ny, ch yu cũn hc thuc
nhiu hn hc hiu m rng vn sng. a s hc sinh lp tụi ch nhim u l
con nh nụng, hon cnh gia ỡnh khú khn, khụng cú iu kin tip xỳc, hc hi
cỏc hot ng giỏo dc sinh hot ngoi khúa nh tham quan, du lch
- V phớa ph huynh: Nhiu ph huynh vn cha nhn thc c tm quan
trng ca phõn mụn a lớ, vn cũn t tng coi l mụn hc ph, ch mong con gii
Toỏn v Ting Vit l c ri.
- Nhiu em cũn xem nh mụn hc ny vỡ cho õy l mụn hc ph (mụn hc bi)
nờn ớt u t nghiờn cu m ch u t vo 2 mụn Toỏn, Ting Vit.
III. CC Giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện GII
QUYT VN
1. Giỏo dc nhn thc cho hc sinh:
Phõn mụn a lớ luụn gn lin vi thiờn nhiờn, vi t nc v i sng. Vic
hc tt phõn mụn a lớ s giỳp cỏc em tỡm hiu t nhiờn, con ngi v tng thờm
6
tình yêu quê hương, yêu đất nước để bước vào cuộc sống một cách tốt đẹp. Từ đó
các em có ý thức học tốt phân môn Địa lí để các em nắm được những kiến thức về
Địa lí, có hiểu biết sâu sắc hơn về mảnh đất các em đang sinh sống. Các em sẽ biết
yêu quý tự nhiên, biết cách sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và đúng
đắn nhất để phục vụ cho lợi ích của con người dài lâu.
Trong các giờ dạy Địa lí, giáo viên cần lồng ghép giáo dục kĩ năng sống, giáo
dục bảo vệ môi trường để giáo dục các em ý thức thực hiện bổn phận của bản thân
đối với đất nước.
Ví dụ: khi dạy bài Nông nghiệp
Giáo viên cho học sinh đọc thầm sách giáo khoa để biết Nông nghiệp gồm có 2
ngành chính đó là: Trồng trọt và chăn nuôi.
Học sinh kể tên một số trang trại mà các em biết. Học sinh có thể kể những việc
làm để giảm thiểu ô nhiễm do chất thải trong chăn nuôi gây ra.
Qua học tập Địa lí, các em hiểu được trách nhiệm bảo vệ tự nhiên là của tất cả
mọi người.
2. Hướng dẫn sử dụng tích cực các thiết bị dạy học:
Các thiết bị dạy học Địa lí hiện nay khá phong phú, bao gồm tranh, ảnh, mô
hình, quả địa cầu, bản đồ, băng đĩa, phim giáo khoa,…Khi sử dụng thiết bị dạy học
giáo viên cần căn cứ vào mục tiêu, nội dung bài học để lựa chọn thiết bị cho phù
- Biển bao bọc phía Đông, Nam và Tây Nam của phần đất liền.
b. Rèn luyện kĩ năng đọc bản đồ:
Đọc bản đồ không phải là đọc các chữ ghi trên bản đồ mà là một quá trình tìm
kiếm kiến thức địa lí chứa đựng trong các kí hiệu trên bản đồ, ở các mức độ cao,
thấp khác nhau.
Đọc bản đồ có 3 mức độ:
Mức độ 1: Học sinh chỉ cần dựa vào kí hiệu ở bảng chú giải, chỉ và đọc tên các
đối tượng địa lí trên bản đồ( Ví dụ: đây là Hà Nội, kia là Hải Phòng; đây là sông
Hồng, kia là sông Đà,…)
Ví dụ : Đọc bản đồ Bản đồ Tự nhiên Việt Nam học sinh nắm được bản đồ thể hiện
các sự vật, hiện tượng tự nhiên của đất nước Việt Nam như lãnh thổ, sông, núi,
đồng bằng, biển, đảo ...
a, Có kĩ năng đọc bản đồ học sinh sẽ nắm vững các kí hiệu thể hiện trên bản đồ,
ví dụ như :
Biên giới
O Thành phố, thị xã
Thủ đô
Dãy núi
Nhà máy thủy điện
…
Các kí hiệu về khoáng sản như :
Than đá
Thiếc
Sắt
…
b, Bản đồ tự nhiên giúp cho học sinh nắm thêm các kí hiệu về màu sắc:
Ví dụ: màu xanh lá mạ chỉ đồng bằng, màu xanh nước biển đậm nhạt chỉ độ sâu
của biển, màu đỏ đậm nhạt chỉ độ cao của cao nguyên, đồi núi.
Mức độ 2: Học sinh dựa vào bản đồ để tìm ra đặc điểm của đối tượng địa lí.(Ví
dụ: Vị trí dãy núi ở đâu ? Núi cao hay thấp ? Núi có hướng gì…?).
ngược lại hoặc chỉ vào một điểm trên sông. Khi chỉ vị trí của một thành phố, thị xã,
thì phải chỉ vào kí hiệu thể hiện thành phố, thị xã chứ không chỉ vào chữ ghi tên
thành phố,thị xã. Khi chỉ về một vùng lãnh thổ (một tỉnh, một khu vực, một quốc
gia...) thì phải chỉ theo đường biên giới khép kín của vùng lãnh thổ khu vực đó (chỉ
từ trên xuống dưới, từ trái sang phải).
Khi chỉ bản đồ nên dùng que chỉ dài có đầu nhỏ để chỉ đúng vào các chi tiết của
đối tượng Địa lí và nên đứng bên phải bản đồ.
d. Rèn luyện kĩ năng xác lập mối quan hệ địa lí đơn giản:
Một trong những điều kiện để học sinh học tốt và có hứng thú trong môn Địa lí
là các em phải biết xác lập mối quan hê địa lí đơn giản giữa các yếu tố và thành
phần địa lí như địa hình và khí hậu; địa hình, khí hậu, sông ngòi; thiên nhiên và
hoạt động sản xuất của con người, ... trên cơ sở học sinh biết kết hợp những kiến
thức bản đồ và kiến thức địa lí để so sánh và phân tích, ...
Ví dụ 1: Sau khi trang bị các kiến thức về địa hình, khí hậu, học sinh sẽ giải thích
được: Vì sao nước ta có khí hậu nóng, mưa nhiều ? Vì sao ở nước ta gió và mưa
thay đổi theo mùa?...
( Vì nằm trong vành đai nhiệt đới, nóng ẩm và trong vùng có gió mùa nên đặc điểm
của khí hậu nước ta là: nhiệt độ cao, gió và mưa thay đổi theo mùa).
Ví dụ 2: Khi học bài “Giao thông vận tải” học sinh sẽ giải thích được: Vì sao nước
ta có mạng lưới đường giao thông tỏa đi khắp đất nước và quốc lộ 1A là đường ô tô
dài nhất nước ta?
(Do lãnh thổ kéo dài theo chiều Bắc – Nam, các tuyến đường giao thông chính
cũng chạy theo chiều Bắc – Nam: quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt BắcNam...)
2.2. Đối với quả Địa cầu :
Giáo viên cần giúp học sinh nhận biết được: quả Địa cầu là mô hình của Trái
Đất, biểu hiện hình dáng thực tế của Trái Đất được thu nhỏ lại.
+ Cần xác định cho học sinh nắm được 2 địa cực: địa cực phía trên gọi là cực
Bắc, địa cực phía dưới gọi là cực Nam.
+ Xác định đường xích đạo là đường tròn lớn nhất cách đều 2 cực và phân chia
bề mặt của quả địa cầu ra hai nửa bằng nhau, nửa bán cầu có cực Bắc là bán cầu
Vai trò của biển: Nhờ có biển mà khí hậu nước ta trở nên điều hòa hơn. Biển
còn là tài nguyên lớn và là đường giao thông quan trọng.Ven biển có nhiều bãi tắm
và phong cảnh đẹp, là những nơi du lịch và nghỉ mát hấp dẫn.
3. Phát huy tính tích cực qua việc tìm hiểu, khai thác nội dung bài:
Sau khi trang bị cho học sinh các kĩ năng về sử dụng các thiết bị dạy học, tôi
tiến hành bước tiếp theo: hướng dẫn các em cách khai thác nội dung bài.
3.1 Khai thác kiến thức từ bản đồ, lược đồ:
a. Về phía giáo viên :
Giáo viên cần xác định kiến thức trong bài mà học sinh cần nắm qua lược đồ,
bản đồ sao cho phù hợp để học sinh có thể sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học tự
phát hiện ra kiến thức mới. Soạn một hệ thống câu hỏi dựa trên lược đồ trong sách
giáo khoa và trình độ học sinh để dẫn dắt học sinh tự khám phá kiến thức. Các câu
hỏi thể hiện dưới nhiều hình thức: tự luận, trắc nghiệm (câu đúng sai, câu nhiều lựa
chọn), câu điền khuyết.....
Giáo viên nghiên cứu kĩ các loại bản đồ, lược đồ cần để phục vụ từng bài dạy
làm cơ sở hướng dẫn cho học sinh. Từ bản đồ giáo viên dẫn dắt học sinh tự thu
nhận được các kiến thức địa lí. Đó cũng là một biện pháp tích cực đổi mới phương
pháp dạy học của phân môn.
b. Về phía học sinh :
Học sinh phải biết vận dụng những kĩ năng địa lí đã có, tích cực hoạt động với
những nội dung câu hỏi, bài tập mà giáo viên yêu cầu để tự chiếm lĩnh nội dung bài
(theo định hướng của giáo viên).
Ví dụ : Khi dạy bài 4 - Sông ngòi (trang 74 SGK)
- Tôi xác định những kiến thức trong bài mà học sinh cần khai thác qua kênh
chữ trang 74 và lược đồ như sau :
+ Nhận biết mạng lưới sông ngòi nước ta. Nêu tên một số con sông ở ba miền
Bắc, Trung và Nam. Biết vị trí của 3 nhà máy thủy điện : Hòa Bình, Y-a-li, Trị An
- Để giúp học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tôi đã
soạn hệ thống câu hỏi để dẫn dắt học sinh làm việc với lược đồ.
Đọc thầm phần kênh chữ trang 74 và quan sát lược đồ hình 1(trang 75/SGK) :
11
Y-a-ly
Xê Xan
Trị An
Sông Đà
Như vậy, qua bài tập này học sinh sẽ nắm được : Sông ngòi nước ta dày
đặc, phân bố rộng khắp trên cả nước và nêu được tên của các con sông ở miền Bắc,
miềnTrung,miền Nam cũng như các nhà máy thủy điện của nước ta.
3. 2 Khai thác kiến thức từ bảng số liệu:
a. Về phía giáo viên :
- Xác định kiến thức trong bài mà học sinh cần nắm qua bảng số liệu.
- Soạn một hệ thống các câu hỏi dựa vào bảng số liệu và trình độ của học sinh để
gợi ý cho học sinh tự khám phá ra kiến thức mới. Các câu hỏi được thể hiện dưới
nhiều hình thức như: tự luận, câu đúng sai, câu nhiều lựa chọn, câu điền khuyết,...
b. Về phía học sinh :
- Giáo viên bồi dưỡng cho HS năng lực so sánh, đối chiếu,phân tích các số liệu.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh làm việc với bảng số liệu để theo các bước sau:
Bước 1: Nắm được mục đích làm việc với bảng số liệu.
Bước 2: Đọc tên bảng số liệu.
Bước 3: Xem tên cột, nắm được ý nghĩa đơn vị và thời điểm đi kèm với các số
liệu ở từng cột.
Bước 4: Đối chiếu với các số liệu theo hàng dọc, hàng ngang của bảng số liệu để
rút ra nhận xét.
a. Về phía giáo viên:
Khi hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ biểu đồ giáo viên cần :
- Xác định kiến thức trong bài mà học sinh cần nắm được qua biểu đồ. Soạn một
hệ thống câu hỏi phù hợp để tạo điều kiện cho học sinh khai thác kiến thức mới từ
biểu đồ. Các loại câu hỏi được thể hiện dưới hình thức tự luận, test (câu đúng sai,
câu nhiều lựa chọn, câu điền khuyết,...)
b. Về phía học sinh : Học sinh có kĩ năng đọc từng loại biểu đồ.
Giáo viên hướng dẫn học sinh làm việc với biểu đồ hình cột theo các bước sau
Bước 1: Nắm được mục đích làm việc với biểu đồ
Bước 2: Đọc tên biểu đồ để biết được nội dung của biểu đồ.
Bước 3: Hiểu các giá trị được biểu hiện ở 2 trục : trục dọc và trục ngang.
Bước 4: Đọc các số tương ứng trên 2 trục
Bước 5: So sánh độ cao của các cột và rút ra kết luận.
Ví dụ : Khi dạy bài 14 : Giao thông vận tải (trang 96/ SGK)
Giáo viên xác định những kiến thức trong bài mà HS cần khai thác qua biểu đồ:
+ Nhận biết được những loại hình giao thông vận tải ở nước ta.
+ So sánh khối lượng hàng hóa vận chuyển của từng loại hình giao thông vận tải.
- Sau đó tôi soạn hệ thống câu hỏi gợi ý học sinh làm việc với biểu đồ:
Câu1:Trục dọc, trục ngang biểu hiện gì? Các số liệu được biểu thị bằng đơn vị
nào ?
Câu 2 : Em hãy điền số thích hợp vào bảng sau:
Loại hình vận tải
Khối lượng hàng hóa vận chuyển(triệu tấn )
Đường sắt
Đường bộ
Đường sông
Đường biển
Câu 3 : Đánh dấu X vào ô trống trước ý đúng :
Loại hình vận tải có vai trò quan trọng nhất trong vận chuyển hàng hóa là :
Hệ thống câu hỏi, bài tập hướng dẫn học sinh quan sát như sau:
Câu1: Nhận xét đặc điểm rừng rậm nhiệt đới và rừng ngập mặn.
Câu 2: Đánh dấu X vào ô trống trước những ý em cho là đúng:
Rừng rậm nhiệt đới là:
Rừng chỉ có một loại cây.
Rừng thưa, rụng lá về mùa khô.
Rừng rậm, có nhiều loại cây, có nhiều tầng, xanh quanh năm.
Rừng ngập mặn là:
Rừng thay lá.
Rừng ở nơi đất thấp ven biển, có các loài cây ưa mặn: đước, vẹt, sú,
Rừng gồm các loài cây có lá nhỏ, nhọn như thông, tùng.
Câu 3: Chọn từ ngữ thích hợp trong ngoặc đơn điền vào chỗ chấm :
- Vùng phân bố của rừng rậm nhiệt đới là ........................ (đồi núi, ven biển)
- Vùng phân bố của rừng ngập mặn là ...........................(đồi núi, ven biển nơi có
thủy triều lên xuống hàng ngày).
4.2 Phương pháp hình thành khái niệm Địa lí:
- Hình thành khái niệm Địa lí chung tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Hình thành những biểu tượng đúng bằng cách cho học sinh quan sát các
đối tượng định hình thành khái niệm đồng thời tìm hiểu những hiểu biết sẵn có của
học sinh về các đối tượng quan sát.
Bước 2: Đặt câu hỏi hoặc nêu tình huống có vấn đề để học sinh tìm ra những
dấu hiệu chung, bản chất của đối tượng.
Bước 3: Cho học sinh đối chiếu, so sánh các đối tượng cùng loại để lĩnh hội đầy
đủ và vững chắc các dấu hiệu chung bản chất của khái niệm.
Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả.
- Hình thành khái niệm Địa lí riêng: là hình thành khái niệm chỉ những sự vật và
hiện tượng Địa lí riêng biệt cụ thể. Mỗi khái niệm Địa lí riêng chỉ liên quan đến
một đối tượng và phản ánh đặc điểm riêng của nó. VD: sông Hồng, nhà máy thủy
điện Y-a-ly…
- Hình thành khái niệm địa lí tập hợp có thể được tiến hành theo các bước sau:
phân bố rộng khắp trên cả nước,
ít sông lớn
Sông ngòi nước ta có lượng
nước thay đổi theo mùa.
- GV yêu cầu HS làm việc theo cặp với lược đồ (hình
1) để nhận xét về mạng lưới sông ngòi nước ta (số
lượng, phân bố, ...)
GV yêu cầu HS làm việc theo nhóm với ảnh (hình
2,3) để nhận xét về lượng nước sông trong mùa lũ và
mùa cạn.
Làm việc cả lớp
Sông ngòi nước ta có chứa
+ GV khai thác vốn hiểu biết của HS hoặc cho xem nhiều phù sa.
băng để các em nhận xét được nước sông vào mùa lũ
rất đục
+ Từ đó GV nói nước sông đục vì chứa nhiều phù sa
- Từ kết quả tìm tòi trên, học sinh có thể nêu khái niệm về sông ngòi Việt Nam như
sau: sông ngòi Việt Nam dày đặc, phân bố rộng khắp trên cả nước nhưng ít sông
lớn, sông của nước ta có lượng nước thay đổi theo mùa và có nhiều phù sa.
Sau khi trang bị cho học sinh kĩ năng sử dụng bản đồ, quả địa cầu cũng như
cách thực hành trên bản đồ, bảng số liệu, biểu đồ và xác định các phương pháp dạy
học, tôi tiến hành các bước tiếp theo: Cách tổ chức lớp học.
5. Hình thức tổ chức dạy học theo hướng tích cực:
Như chúng ta đã biết, với phương pháp dạy học truyền thống thì hình thức tổ
chức dạy học cả lớp là phổ biến. Còn với phương pháp dạy học tích cực đòi hỏi
học sinh phải làm việc nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn thảo luận nhiều hơn thì giáo
viên cần tổ chức linh hoạt nhiều hình thức dạy học trong một tiết học như: dạy học
cá nhân, dạy học theo nhóm, và dạy học toàn lớp,…
Đây là một phương pháp động viên được nhiều học sinh tham gia ý kiến, không
chỉ rèn luyện cho học sinh ý thức trách nhiệm trước tập thể, thói quen bạo dạn hoạt
bát mà còn có điều kiện bộc lộ khả năng nhận thức của bản thân mình. Người giáo
viên cần xác định rõ ý nghĩa và tác dụng hình thức dạy học theo nhóm.
Ý nghĩa của hình thức dạy học theo nhóm:
Dạy học theo nhóm nhằm khai thác trí tuệ của tập thể và cũng là một hình thức
rèn luyện học sinh thông qua tập thể.
Học sinh được tổ chức trao đổi những điều hiểu biết của mình và đối chiếu với
sự hiểu biết của bạn nên việc học tập sẽ đem lại hiệu quả cao hơn.
Tác dụng của hình thức dạy học theo nhóm:
- Học sinh biết cách trình bày ý kiến của mình đối với người khác.
- Các em biết nghe và lựa chọn để tiếp nhận hiểu biết của bạn để bổ sung vào
vốn hiểu biết của mình. Thông qua thảo luận, nâng cao được năng lực của cá nhân.
Học sinh có điều kiện tập dược cách thức chỉ huy người khác.Việc học theo nhóm
còn có tác dụng xử lí trí tuệ tập thể theo phương châm: “Một cây làm chẳng nên
non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.
16
Tác dụng của hình thức học nhóm rất cao nhưng tổ chức như thế nào để đem lại
hiệu quả đó là vấn đề cần quan tâm. Vì vậy khi tổ chức hình thức dạy học này cũng
khá công phu, đòi hỏi giáo viên có sự chuẩn bị bài thật chu đáo, tiến hành một cách
có khoa học.
Sự chuẩn bị bài ở nhà:
Đối với giáo viên:
Nghiên cứu bài dạy và soạn bài:
Muốn có bài dạy tốt giáo viên cần có sự nghiên cứu bài dạy một cách chu đáo
để thấy được mục đích bài dạy là gì? Từ đó chọn hình thức tổ chức dạy học cho
phù hợp. Khi soạn bài, giáo viên cần xác định được vấn đề, cách giải quyết vấn đề
- Nghiên cứu, quan sát bản đồ Hành chính Việt Nam
- Sưu tầm tranh ảnh về một số ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và sản phẩm
của chúng.
Đồng thời các nhóm tìm hiểu:
Nhóm1,2: - Tìm hiểu và kể tên các ngành công nghiệp của nước ta.
17
- Kể tên các sản phẩm của một số ngành công nghiệp
- Kể tên một số sản phẩm công nghiệp xuất khẩu.
Nhóm 3,4:
- Nêu đặc điểm của nghề thủ công ở nước ta .
- Kể một số nghề thủ công nổi tiếng mà em biết.
- Ở địa phương ta có những nghề thủ công nào?
Đối với học sinh:
Ở nhà các em phải tìm hiểu bài theo yêu cầu của phiếu giao việc như kiến thức,
tranh ảnh, dụng cụ cần thiết cho bài học. Có như vậy thì vào tiết học mới các em
mới học tốt được. Nếu các em chỉ ỷ lại, trông chờ vào bài giảng của giáo viên trên
lớp thì sự tiếp thu của các em sẽ có phần hạn chế. Vì vậy giáo viên cần động viên
các em chuẩn bị tốt khâu chuẩn bị bài ở nhà.
Cách tổ chức ở lớp:
Đối với học sinh:
Trên cơ sở học sinh giữ vai trò tích cực, chủ động tham gia thảo luận và học hỏi
ý kiến lẫn nhau để tìm ra kiến thức. Cho nên việc phân chia nhóm cũng tính dến
các đối tượng trong lớp. Tùy theo nội dung bài học và số lượng đồ dùng dạy học
chuẩn bị được, giáo viên quyết định số học sinh ở mỗi nhóm. Có thể chia nhóm
theo từng trình độ, hoặc nhóm hỗn hợp có đủ trình độ, nhóm theo sở trường, nhóm
ngẫu nhiên... Khi phân nhóm giáo viên nhớ phân luôn nhóm trưởng và thư kí.
Không nên cố định các nhóm cũng như vai trò của từng thành viên.
viên cần theo dõi quan tâm đến những học sinh dân tộc thiểu số. Khi học sinh phát
biểu giáo viên cũng cần rèn luyện cách nói năng ân cần, lịch sự và sát với nội dung
câu hỏi.
6. Kết hợp với trò chơi học tập:
Đối với học sinh tiểu học, môi trường sẽ tác động đến sự nhận thức của các em
rất nhiều. Các em vui vẻ, hứng thú sẽ tiếp thu bài nhanh hơn. Chính vì vậy mà cần
tạo ra một không khí vui vẻ ngay từ đầu tiết học bằng những trò chơi khởi động
(hoặc giới thiệu tranh ảnh). Qua trò chơi đơn giản ngắn gọn đó, hay những bức
tranh đẹp gây ấn tượng, giúp các em hưng phấn trong học tập, thích đến trường
hơn, đến lớp hơn.
Ví dụ: Khi dạy bài “Khí hậu” tôi củng cố bằng hình thức trắc nghiệm sau :
Đánh dấu X vào ô trống trước câu trả lời đúng nhất.
a/ Nước ta có khí hậu
b/ Đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa là :
Ôn dới
Nhiệt độ cao quanh năm.
Hàn đới
Nhiệt độ cao, gió và mưa thay đổi theo mùa
Nhiệt đới gió mùa
Một năm chia làm 4 mùa.
Giáo viên viết sẵn vào 2 bảng phụ, học sinh cử đại diện 2 đội lên thi đua đánh
dấu X vào ô trống. Cả lớp nhận xét tuyên dương.
Ví dụ: Khi dạy bài “Dân số nước ta” tôi củng cố bằng cách xác lập mối quan hệ
sau:
Hãy điền nhanh mũi tên và các từ còn thiếu vào sơ đồ sau
Thiếu ăn
Thiếu ..mặc.
Thiếu ..ở..
Dân số tăng nhanh
Hậu quả
Hoàn thành
25 em (100%)
Chưa hoàn thành
0
Từ kết quả giảng dạy nêu trên tôi tự rút ra cho mình bài học: Muốn phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trước hết người giáo viên phải tích
cực trong soạn giảng, tìm kiếm thông tin, tranh ảnh, tích cực trong việc lựa chọn
phương pháp, hình thức tổ chức cho phù hợp. Trong dạy học, giáo viên luôn luôn
khơi gợi ở học sinh trí tư duy, lòng yêu thích khám phá thiên nhiên, đất nước, con
người. Giáo viên cần nắm vững phương pháp bộ môn, gần gũi yêu thương học sinh,
tạo cho các em niềm tin vững vàng trong học tập cũng như mọi hoạt động khác.
Luôn luôn tôn trọng ý kiến của học sinh, phát huy tính tích cực của học sinh trong
học tập là điều cần thiết. Giáo viên dạy bằng phương pháp tích cực lấy học sinh làm
trung tâm. Giáo viên nhiệt tình, kiên trì, chịu khó chuẩn bị đầy đủ các phương tiện
dạy học (giáo án, đồ dùng dạy học, hệ thống câu hỏi gợi mở, ...). “Yêu nghề, mến
trẻ” là động lực thúc đẩy quá trình dạy học. Luôn tạo sự phối hợp nhịp nhàng đồng
bộ trong hoạt động của thầy và trò, tránh nói nhiều, làm thay cho học sinh. Biết kết
hợp nhuần nhuyễn nhiều phương pháp dạy học để đạt kết quả cao nhất.
Dạy tốt phân môn Địa lí là chúng ta đã góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp
và đạt mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh Tiểu học.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực (hướng tập trung vào học
sinh) là yêu cầu không thể thiếu đối với mỗi giáo viên khi lên lớp. Việc rèn luyện
phương pháp học tập (dạy cách học) cho học sinh không chỉ là một phương tiện
nâng cao hiệu quả học tập mà còn là mục tiêu dạy học, được quan tâm ngay từ bậc
Xin chân thành cảm ơn!
Nga Trung, ngày 05 tháng 4 năm 2016
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
NgƯỜI VIẾT
Trần Thị Sâm
PhÇn IV: Tµi liÖu, t liÖu tham kh¶o.
21
- Sách giáo khoa lịch sử và địa lí lớp 5.
- Thiết kế bài giảng địa lí lớp 5.
- Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích
cực học tập của học sinh.
- Hướng dẫn cách đánh học sinh tiểu học theo thông tư 30 của Bộ Giao
dục và Đào tạo.
22